Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Cô quay lại nhà quàn vào chiều hôm sau.
Bà Năm đang ngồi ở cái bàn ngoài cổng, và bà ta đang gói một cái hộp.
“Cô lại tới.”
“Dạ.”
“Cô muốn gì?”
“Tôi muốn cái hộp 0931.”
“Cô không nhận rồi mà.”
“Tôi nhận.” Cô nói. “Và tôi muốn cái lớp giấy báo bên trong.”
Bà ta nhìn cô.
“Cô muốn giấy báo?”
“Dạ.”
Bà ta đứng dậy, và bà ta đi vào, và bà ta trở ra với cái hộp sứ trắng.
“Cô ký.”
Cô ký.
Bà ta đưa cái hộp.
Cô ngồi xuống cái ghế nhựa ngoài cổng, và cô mở nắp, và cô lấy ra lớp giấy báo.
Nó là một tờ báo, và nó đã được gấp bốn lần, và nó ố vàng.
Cô mở ra.
“Báo Tuổi Trẻ. Ngày 3 tháng 6 năm 2004.”
Cô nhìn cái ngày đó.
“Bà Năm.”
“Dạ.”
“Cái hộp này được gửi tới đây mười một tháng trước.”
“Ừ.”
“Nhưng tờ báo này là năm 2004.”
“Thì sao?”
“Nghĩa là người gửi đã giữ tờ báo này hai mươi mốt năm.” Cô nói. “Rồi người ta gấp nó, và người ta lót nó vào cái hộp này, và người ta gửi tới đây.”
Bà ta nhún vai.
“Ở cái nhà này,” bà ta nói, “tôi đã thấy người ta lót hộp bằng ảnh cưới, bằng sổ đỏ, bằng thư tình. Giấy báo thì cũng là giấy.”
Cô đọc tờ báo.
Trang nhất có một bài về một vụ cháy ở Bình Chánh.
“Cháy xưởng may lúc hai giờ sáng, mười một người chết.”
Cô đọc tiếp.
“Nguyên nhân ban đầu: chập điện. Cơ sở không có giấy phép phòng cháy.”
Rồi cô thấy một chỗ được khoanh bằng bút chì.
Nó ở trang ba, ở một cái tin nhỏ, và nó chỉ có bốn dòng.
“Tuyển công nhân: xưởng may Tân Phú cần tuyển 40 công nhân, bao ăn ở, lương tháng 800.000, ứng trước 2.000.000. Liên hệ: 0908 3xx xxx.”
Cô đọc bốn dòng đó ba lần.
Rồi cô lấy điện thoại ra, và cô gọi cho Hoài Nam.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Xưởng may Tân Phú là gì?”
Bên kia im rất lâu.
“Sao cô hỏi cái đó?”
“Vì có người khoanh nó trong một tờ báo năm 2004, và người đó lót tờ báo đó vào cái hộp tro cốt của cha tôi.”
Anh ta thở ra.
“Xưởng may Tân Phú,” anh ta nói, “là một cái trại.”
“Trại gì?”
“Trại giữ người.” Anh ta nói. “Năm 2003, 2004, có một đường dây đưa người đi lao động ở nước ngoài. Họ tuyển ở các tỉnh, họ ứng trước hai triệu, và họ đưa người ta vào cái xưởng đó để ‘huấn luyện’.”
“Rồi sao?”
“Rồi họ bán.” Anh ta nói. “Sang Malaysia, sang Đài Loan. Một người ba nghìn đô.”
Cô cầm tờ báo, và tay cô lạnh.
“Cha tôi có liên quan gì?”
“Cha cô cho cái xưởng đó vay.” Anh ta nói.
“Bao nhiêu?”
“Bảy trăm triệu.” Anh ta nói. “Năm 2003.”
“Và ông ấy biết họ làm gì?”
Anh ta im.
“Anh Nam.”
“Ông ấy biết.” Anh ta nói. “Nhưng ông ấy biết sau. Khi người ta đã bán hai trăm người rồi.”
Cô ngồi xuống cái ghế nhựa.
“Rồi ông ấy làm gì?”
“Ông ấy làm một việc mà tôi không hiểu.” Anh ta nói. “Ông ấy không báo công an. Ông ấy tới cái xưởng đó, và ông ấy đòi nợ.”
“Đòi nợ?”
“Ông ấy tới với bốn người.” Anh ta nói. “Và ông ấy nói: ‘Trả tôi bảy trăm triệu, hoặc tôi đóng cái xưởng này.’”
“Rồi sao?”
“Họ không trả.” Anh ta nói. “Và ông ấy đóng thật.”
Cô đứng dậy.
“Đóng thế nào?”
“Ông ấy mua lại cái xưởng.” Anh ta nói. “Bảy trăm triệu, ông ấy đổi thành một cái hợp đồng mua bán. Rồi ông ấy tới, và ông ấy mở cửa, và ông ấy đưa hai trăm người ra.”
Cô im rất lâu.
“Rồi họ đi đâu?”
“Về.” Anh ta nói. “Ông ấy thuê bốn cái xe, và ông ấy đưa họ về các tỉnh. Và ông ấy đưa mỗi người hai triệu.”
“Tiền đâu?”
“Tiền ông ấy có.”
Cô nhìn tờ báo trong tay.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Vụ cháy năm 2004 thì sao?”
“Vụ cháy đó xảy ra ba tháng sau.” Anh ta nói. “Và mười một người chết trong đó.”
“Ai chết?”
“Mười một người ở lại.” Anh ta nói. “Vì họ không có nhà để về.”
Cô ngồi xuống lại, và cô đặt tờ báo lên đùi, và cô nhìn cái chỗ được khoanh bút chì.
“Vậy là cái người gửi cái hộp này,” cô nói, “muốn tôi biết chuyện đó.”
“Ừ.”
“Vì sao?”
“Tôi không biết.” Anh ta nói. “Nhưng tôi biết một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Cái tin tuyển dụng đó,” anh ta nói, “không phải của xưởng may.”
“Của ai?”
“Của người môi giới.” Anh ta nói. “Và người môi giới đó tên là Tạ Vĩnh Khiêm.”
Cô đứng im.
“Tạ Vĩnh Khiêm.”
“Ừ.”
“Người mà cha tôi để lại tên trong di chúc.”
“Ừ.”
Cô gấp tờ báo lại, và cô đặt nó vào trong túi, và cô đứng dậy.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Tại sao anh biết nhiều vậy?”
Anh ta nhìn cô.
“Vì tôi là người lái cái xe thứ tư.” Anh ta nói. “Năm 2004. Cái xe đưa hai mươi người về Bến Tre.”
Cô nhìn anh ta.
“Anh bao nhiêu tuổi năm đó?”
“Mười chín.”
“Và anh làm gì trên cái xe đó?”
“Tôi giữ cửa.” Anh ta nói. “Và tôi đếm người.”
Cô không nói gì.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cô có quyền ghét tôi.” Anh ta nói. “Nhưng cô đừng ghét cha cô vì chuyện đó. Vì chuyện đó là chuyện duy nhất trong đời ông ấy mà tôi thấy ông ấy đúng.”
Cô đi ra cổng.
Cô đi được mười bước thì cô dừng lại.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Mười một người chết trong vụ cháy.” Cô nói. “Tên họ có trong cuốn sổ bìa đen không?”
Anh ta im rất lâu.
“Có.” Anh ta nói. “Mười một cái tên đầu tiên.”
Cô đứng giữa cái sân nhà quàn, và cô hiểu ra một chuyện.
Mười một cái tên bị gạch đỏ không phải là người bị giết.
Họ là người đã chết.
Và cái tên thứ mười hai chưa bị gạch là cô.
Không phải vì cô sẽ bị giết.
Mà vì cha cô đã viết tên cô vào đó, để cô biết rằng cô là người tiếp theo phải sống với cái danh sách này.
Cô quay lại nhà quàn vào chiều hôm sau.
Bà Năm đang ngồi ở cái bàn ngoài cổng, và bà ta đang gói một cái hộp.
“Cô lại tới.”
“Dạ.”
“Cô muốn gì?”
“Tôi muốn cái hộp 0931.”
“Cô không nhận rồi mà.”
“Tôi nhận.” Cô nói. “Và tôi muốn cái lớp giấy báo bên trong.”
Bà ta nhìn cô.
“Cô muốn giấy báo?”
“Dạ.”
Bà ta đứng dậy, và bà ta đi vào, và bà ta trở ra với cái hộp sứ trắng.
“Cô ký.”
Cô ký.
Bà ta đưa cái hộp.
Cô ngồi xuống cái ghế nhựa ngoài cổng, và cô mở nắp, và cô lấy ra lớp giấy báo.
Nó là một tờ báo, và nó đã được gấp bốn lần, và nó ố vàng.
Cô mở ra.
“Báo Tuổi Trẻ. Ngày 3 tháng 6 năm 2004.”
Cô nhìn cái ngày đó.
“Bà Năm.”
“Dạ.”
“Cái hộp này được gửi tới đây mười một tháng trước.”
“Ừ.”
“Nhưng tờ báo này là năm 2004.”
“Thì sao?”
“Nghĩa là người gửi đã giữ tờ báo này hai mươi mốt năm.” Cô nói. “Rồi người ta gấp nó, và người ta lót nó vào cái hộp này, và người ta gửi tới đây.”
Bà ta nhún vai.
“Ở cái nhà này,” bà ta nói, “tôi đã thấy người ta lót hộp bằng ảnh cưới, bằng sổ đỏ, bằng thư tình. Giấy báo thì cũng là giấy.”
Cô đọc tờ báo.
Trang nhất có một bài về một vụ cháy ở Bình Chánh.
“Cháy xưởng may lúc hai giờ sáng, mười một người chết.”
Cô đọc tiếp.
“Nguyên nhân ban đầu: chập điện. Cơ sở không có giấy phép phòng cháy.”
Rồi cô thấy một chỗ được khoanh bằng bút chì.
Nó ở trang ba, ở một cái tin nhỏ, và nó chỉ có bốn dòng.
“Tuyển công nhân: xưởng may Tân Phú cần tuyển 40 công nhân, bao ăn ở, lương tháng 800.000, ứng trước 2.000.000. Liên hệ: 0908 3xx xxx.”
Cô đọc bốn dòng đó ba lần.
Rồi cô lấy điện thoại ra, và cô gọi cho Hoài Nam.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Xưởng may Tân Phú là gì?”
Bên kia im rất lâu.
“Sao cô hỏi cái đó?”
“Vì có người khoanh nó trong một tờ báo năm 2004, và người đó lót tờ báo đó vào cái hộp tro cốt của cha tôi.”
Anh ta thở ra.
“Xưởng may Tân Phú,” anh ta nói, “là một cái trại.”
“Trại gì?”
“Trại giữ người.” Anh ta nói. “Năm 2003, 2004, có một đường dây đưa người đi lao động ở nước ngoài. Họ tuyển ở các tỉnh, họ ứng trước hai triệu, và họ đưa người ta vào cái xưởng đó để ‘huấn luyện’.”
“Rồi sao?”
“Rồi họ bán.” Anh ta nói. “Sang Malaysia, sang Đài Loan. Một người ba nghìn đô.”
Cô cầm tờ báo, và tay cô lạnh.
“Cha tôi có liên quan gì?”
“Cha cô cho cái xưởng đó vay.” Anh ta nói.
“Bao nhiêu?”
“Bảy trăm triệu.” Anh ta nói. “Năm 2003.”
“Và ông ấy biết họ làm gì?”
Anh ta im.
“Anh Nam.”
“Ông ấy biết.” Anh ta nói. “Nhưng ông ấy biết sau. Khi người ta đã bán hai trăm người rồi.”
Cô ngồi xuống cái ghế nhựa.
“Rồi ông ấy làm gì?”
“Ông ấy làm một việc mà tôi không hiểu.” Anh ta nói. “Ông ấy không báo công an. Ông ấy tới cái xưởng đó, và ông ấy đòi nợ.”
“Đòi nợ?”
“Ông ấy tới với bốn người.” Anh ta nói. “Và ông ấy nói: ‘Trả tôi bảy trăm triệu, hoặc tôi đóng cái xưởng này.’”
“Rồi sao?”
“Họ không trả.” Anh ta nói. “Và ông ấy đóng thật.”
Cô đứng dậy.
“Đóng thế nào?”
“Ông ấy mua lại cái xưởng.” Anh ta nói. “Bảy trăm triệu, ông ấy đổi thành một cái hợp đồng mua bán. Rồi ông ấy tới, và ông ấy mở cửa, và ông ấy đưa hai trăm người ra.”
Cô im rất lâu.
“Rồi họ đi đâu?”
“Về.” Anh ta nói. “Ông ấy thuê bốn cái xe, và ông ấy đưa họ về các tỉnh. Và ông ấy đưa mỗi người hai triệu.”
“Tiền đâu?”
“Tiền ông ấy có.”
Cô nhìn tờ báo trong tay.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Vụ cháy năm 2004 thì sao?”
“Vụ cháy đó xảy ra ba tháng sau.” Anh ta nói. “Và mười một người chết trong đó.”
“Ai chết?”
“Mười một người ở lại.” Anh ta nói. “Vì họ không có nhà để về.”
Cô ngồi xuống lại, và cô đặt tờ báo lên đùi, và cô nhìn cái chỗ được khoanh bút chì.
“Vậy là cái người gửi cái hộp này,” cô nói, “muốn tôi biết chuyện đó.”
“Ừ.”
“Vì sao?”
“Tôi không biết.” Anh ta nói. “Nhưng tôi biết một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Cái tin tuyển dụng đó,” anh ta nói, “không phải của xưởng may.”
“Của ai?”
“Của người môi giới.” Anh ta nói. “Và người môi giới đó tên là Tạ Vĩnh Khiêm.”
Cô đứng im.
“Tạ Vĩnh Khiêm.”
“Ừ.”
“Người mà cha tôi để lại tên trong di chúc.”
“Ừ.”
Cô gấp tờ báo lại, và cô đặt nó vào trong túi, và cô đứng dậy.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Tại sao anh biết nhiều vậy?”
Anh ta nhìn cô.
“Vì tôi là người lái cái xe thứ tư.” Anh ta nói. “Năm 2004. Cái xe đưa hai mươi người về Bến Tre.”
Cô nhìn anh ta.
“Anh bao nhiêu tuổi năm đó?”
“Mười chín.”
“Và anh làm gì trên cái xe đó?”
“Tôi giữ cửa.” Anh ta nói. “Và tôi đếm người.”
Cô không nói gì.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cô có quyền ghét tôi.” Anh ta nói. “Nhưng cô đừng ghét cha cô vì chuyện đó. Vì chuyện đó là chuyện duy nhất trong đời ông ấy mà tôi thấy ông ấy đúng.”
Cô đi ra cổng.
Cô đi được mười bước thì cô dừng lại.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Mười một người chết trong vụ cháy.” Cô nói. “Tên họ có trong cuốn sổ bìa đen không?”
Anh ta im rất lâu.
“Có.” Anh ta nói. “Mười một cái tên đầu tiên.”
Cô đứng giữa cái sân nhà quàn, và cô hiểu ra một chuyện.
Mười một cái tên bị gạch đỏ không phải là người bị giết.
Họ là người đã chết.
Và cái tên thứ mười hai chưa bị gạch là cô.
Không phải vì cô sẽ bị giết.
Mà vì cha cô đã viết tên cô vào đó, để cô biết rằng cô là người tiếp theo phải sống với cái danh sách này.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa