Chương 13: Nhà Số 11
Chương 13: Nhà Số 11
Tiệm thuốc bắc số 11 mở cửa tới chín giờ tối.
Cô đứng bên kia đường, và cô nhìn cái cửa đó, và cô đếm người ra vào.
Bảy giờ tới chín giờ: bốn người. Ba người già, một người đàn bà trẻ.
Chín giờ mười, người ta kéo cửa cuốn xuống một nửa.
Cô đi qua đường.
Trong tiệm có mùi đương quy và mùi long nhãn. Sau quầy là một cái tủ thuốc có hàng trăm cái ngăn kéo nhỏ, và mỗi ngăn có một cái nhãn chữ Hán.
Một người đàn ông khoảng bảy mươi ngồi ở cái ghế mây, và ông ta đang cân thuốc.
“Dạ.”
“Chú ơi.”
Ông ta ngẩng lên.
“Mua gì?”
“Con không mua thuốc.”
Ông ta đặt cái cân xuống.
“Vậy đi.”
“Con muốn hỏi một chuyện.”
“Tiệm đóng rồi.”
Cô đặt lên quầy một cái phong bì.
Ông ta nhìn nó, và ông ta không cầm.
“Chú ơi.” Cô nói. “Con là con của ông Lê Trung, ở số 9.”
Ông ta ngẩng lên rất nhanh.
“Cô là con ông Trung?”
“Dạ.”
Ông ta đứng dậy, và ông ta đi tới cửa, và ông ta nhìn ra đường, và ông ta kéo cái cửa cuốn xuống hết.
“Cô ngồi đi.”
Cô ngồi.
“Chú tên gì?”
“Tôi tên Bình.” Ông ta nói. “Tôi ở đây bốn mươi năm.”
“Tiệm này trước kia là tiệm vàng.”
“Trước kia là tiệm vàng.” Ông ta nói.
“Của ai?”
Ông ta nhìn cô.
“Cô hỏi cái đó làm gì?”
“Con cần biết ai là chủ.”
Ông ta im rất lâu.
“Chủ là ông Bang.” Ông ta nói. “Hứa Kiến Bang.”
“Ông ta còn tới đây không?”
“Ba năm rồi không tới.”
“Vì sao?”
“Vì ông ta bệnh.” Ông ta nói. “Và vì ông ta không cần tới nữa.”
“Không cần tới nữa?”
Ông ta đứng dậy, và ông ta đi tới cái tủ thuốc, và ông ta mở một cái ngăn kéo, và ông ta lấy ra một cái chìa khóa.
“Cô đi theo tôi.”
Ông ta dẫn cô ra sau tiệm, và ở đó có một cái cửa sắt, và sau cái cửa đó là một cái cầu thang đi xuống.
“Tầng hầm.”
“Dạ.”
“Cô xuống đi.” Ông ta nói. “Cô là con ông Trung, thì cô có quyền xuống.”
Cô xuống.
Tầng hầm của số 11 thấp hơn tầng hầm của số 9, và nó dài hơn, và nó chạy dọc theo hai căn nhà.
Và ở cuối tầng hầm, có một bức tường gạch.
Cô đi tới đó.
Bức tường đó mới.
Không phải mới hoàn toàn. Nó cũ, nhưng nó cũ không đều: những viên gạch ở hai bên đã đen, còn những viên ở giữa vẫn còn hồng.
Và mạch vữa ở giữa trắng hơn.
Cô đặt tay lên đó.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Bức tường này xây năm nào?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Tôi tới đây năm 1985, và nó đã có.”
Cô lấy điện thoại ra, và cô bật đèn pin, và cô soi dọc theo mạch vữa.
Rồi cô thấy một chỗ khác màu.
Nó ở góc dưới, bên phải, và nó là một cái lỗ nhỏ, và trong cái lỗ đó có một sợi dây điện.
Cô kéo sợi dây.
Bức tường không động.
Nhưng ở phía bên kia, có một tiếng động rất nhỏ.
Cô đứng im.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Bên kia bức tường này là gì?”
Ông ta im.
“Là nhà số 9.” Ông ta nói.
“Vậy là hai cái tầng hầm thông nhau.”
“Ngày xưa thông.” Ông ta nói. “Năm 1990, ông Bang mua cái nhà này, và ông ta đục thông hai cái tầng hầm. Vì ông ta cần chỗ để hàng.”
“Hàng gì?”
“Vàng.” Ông ta nói. “Và sau này thì không phải vàng.”
Cô soi đèn lên bức tường.
“Ai xây lại bức tường này?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Nhưng tôi biết khi nào.”
“Khi nào?”
“Năm 2004.” Ông ta nói. “Tháng Tư. Sau cái vụ cháy ở Bình Chánh.”
Cô quay lại.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Chú có biết trong cái tầng hầm bên kia có gì không?”
Ông ta nhìn cô, và ông ta nói một câu rất chậm.
“Có mười một cái giường.”
“Giường?”
“Giường sắt.” Ông ta nói. “Và có một cái cửa sắt ở cuối, và cái cửa đó có một cái ổ khóa to bằng bàn tay.”
Cô ngồi xuống bậc thang.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Chú đã vào đó chưa?”
“Một lần.” Ông ta nói. “Năm 2004. Tôi vào để sửa cái máy bơm.”
“Chú thấy gì?”
Ông ta im rất lâu.
“Tôi thấy một cái xô.” Ông ta nói. “Và trong cái xô có một cái bàn chải đánh răng.”
“Một cái?”
“Một cái.” Ông ta nói. “Và tôi thấy trên tường có những vạch bằng phấn.”
“Vạch gì?”
“Vạch đếm ngày.” Ông ta nói. “Mười một chỗ. Mỗi chỗ một cái tên.”
Cô đứng dậy.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Con cần phá bức tường này.”
Ông ta lùi lại một bước.
“Không.”
“Chú Bình.”
“Cô ơi.” Ông ta nói. “Cô phá bức tường đó thì cô sẽ tìm thấy cái gì, tôi không biết. Nhưng tôi biết cái gì sẽ tìm thấy cô.”
“Là gì?”
“Là ông Bang.” Ông ta nói. “Vì bức tường đó do ông ta xây. Và ông ta xây nó để không ai vào.”
Cô nhìn bức tường.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Ông ta bệnh gì?”
“Ông ta bệnh thận.” Ông ta nói. “Ông ta chạy thận ba lần một tuần, ở một cái bệnh viện tư.”
“Bệnh viện nào?”
Ông ta nhìn cô.
“Cô định làm gì?”
“Con chỉ hỏi.”
Ông ta im, rồi ông ta nói:
“Bệnh viện An Sinh. Đường Sư Vạn Hạnh.”
Cô đi lên cầu thang.
“Cô ơi.”
“Dạ.”
“Cô đừng nói với ai là tôi nói câu đó.” Ông ta nói. “Vì tôi có một đứa cháu, và nó đang học ở Đài Loan, và tôi trả tiền cho nó bằng cái tiệm này.”
Cô gật.
Cô ra tới cửa thì cô dừng lại.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Cái vạch phấn đó.” Cô nói. “Chú có nhớ cái tên nào không?”
Ông ta im rất lâu.
“Tôi nhớ một cái.” Ông ta nói. “Vì nó viết ở chỗ cao nhất, và nó viết bằng một nét chữ rất đẹp.”
“Tên gì?”
“MỸ.” Ông ta nói. “Chỉ có ba chữ. Và bên dưới có một con số: 17.”
Tiệm thuốc bắc số 11 mở cửa tới chín giờ tối.
Cô đứng bên kia đường, và cô nhìn cái cửa đó, và cô đếm người ra vào.
Bảy giờ tới chín giờ: bốn người. Ba người già, một người đàn bà trẻ.
Chín giờ mười, người ta kéo cửa cuốn xuống một nửa.
Cô đi qua đường.
Trong tiệm có mùi đương quy và mùi long nhãn. Sau quầy là một cái tủ thuốc có hàng trăm cái ngăn kéo nhỏ, và mỗi ngăn có một cái nhãn chữ Hán.
Một người đàn ông khoảng bảy mươi ngồi ở cái ghế mây, và ông ta đang cân thuốc.
“Dạ.”
“Chú ơi.”
Ông ta ngẩng lên.
“Mua gì?”
“Con không mua thuốc.”
Ông ta đặt cái cân xuống.
“Vậy đi.”
“Con muốn hỏi một chuyện.”
“Tiệm đóng rồi.”
Cô đặt lên quầy một cái phong bì.
Ông ta nhìn nó, và ông ta không cầm.
“Chú ơi.” Cô nói. “Con là con của ông Lê Trung, ở số 9.”
Ông ta ngẩng lên rất nhanh.
“Cô là con ông Trung?”
“Dạ.”
Ông ta đứng dậy, và ông ta đi tới cửa, và ông ta nhìn ra đường, và ông ta kéo cái cửa cuốn xuống hết.
“Cô ngồi đi.”
Cô ngồi.
“Chú tên gì?”
“Tôi tên Bình.” Ông ta nói. “Tôi ở đây bốn mươi năm.”
“Tiệm này trước kia là tiệm vàng.”
“Trước kia là tiệm vàng.” Ông ta nói.
“Của ai?”
Ông ta nhìn cô.
“Cô hỏi cái đó làm gì?”
“Con cần biết ai là chủ.”
Ông ta im rất lâu.
“Chủ là ông Bang.” Ông ta nói. “Hứa Kiến Bang.”
“Ông ta còn tới đây không?”
“Ba năm rồi không tới.”
“Vì sao?”
“Vì ông ta bệnh.” Ông ta nói. “Và vì ông ta không cần tới nữa.”
“Không cần tới nữa?”
Ông ta đứng dậy, và ông ta đi tới cái tủ thuốc, và ông ta mở một cái ngăn kéo, và ông ta lấy ra một cái chìa khóa.
“Cô đi theo tôi.”
Ông ta dẫn cô ra sau tiệm, và ở đó có một cái cửa sắt, và sau cái cửa đó là một cái cầu thang đi xuống.
“Tầng hầm.”
“Dạ.”
“Cô xuống đi.” Ông ta nói. “Cô là con ông Trung, thì cô có quyền xuống.”
Cô xuống.
Tầng hầm của số 11 thấp hơn tầng hầm của số 9, và nó dài hơn, và nó chạy dọc theo hai căn nhà.
Và ở cuối tầng hầm, có một bức tường gạch.
Cô đi tới đó.
Bức tường đó mới.
Không phải mới hoàn toàn. Nó cũ, nhưng nó cũ không đều: những viên gạch ở hai bên đã đen, còn những viên ở giữa vẫn còn hồng.
Và mạch vữa ở giữa trắng hơn.
Cô đặt tay lên đó.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Bức tường này xây năm nào?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Tôi tới đây năm 1985, và nó đã có.”
Cô lấy điện thoại ra, và cô bật đèn pin, và cô soi dọc theo mạch vữa.
Rồi cô thấy một chỗ khác màu.
Nó ở góc dưới, bên phải, và nó là một cái lỗ nhỏ, và trong cái lỗ đó có một sợi dây điện.
Cô kéo sợi dây.
Bức tường không động.
Nhưng ở phía bên kia, có một tiếng động rất nhỏ.
Cô đứng im.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Bên kia bức tường này là gì?”
Ông ta im.
“Là nhà số 9.” Ông ta nói.
“Vậy là hai cái tầng hầm thông nhau.”
“Ngày xưa thông.” Ông ta nói. “Năm 1990, ông Bang mua cái nhà này, và ông ta đục thông hai cái tầng hầm. Vì ông ta cần chỗ để hàng.”
“Hàng gì?”
“Vàng.” Ông ta nói. “Và sau này thì không phải vàng.”
Cô soi đèn lên bức tường.
“Ai xây lại bức tường này?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Nhưng tôi biết khi nào.”
“Khi nào?”
“Năm 2004.” Ông ta nói. “Tháng Tư. Sau cái vụ cháy ở Bình Chánh.”
Cô quay lại.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Chú có biết trong cái tầng hầm bên kia có gì không?”
Ông ta nhìn cô, và ông ta nói một câu rất chậm.
“Có mười một cái giường.”
“Giường?”
“Giường sắt.” Ông ta nói. “Và có một cái cửa sắt ở cuối, và cái cửa đó có một cái ổ khóa to bằng bàn tay.”
Cô ngồi xuống bậc thang.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Chú đã vào đó chưa?”
“Một lần.” Ông ta nói. “Năm 2004. Tôi vào để sửa cái máy bơm.”
“Chú thấy gì?”
Ông ta im rất lâu.
“Tôi thấy một cái xô.” Ông ta nói. “Và trong cái xô có một cái bàn chải đánh răng.”
“Một cái?”
“Một cái.” Ông ta nói. “Và tôi thấy trên tường có những vạch bằng phấn.”
“Vạch gì?”
“Vạch đếm ngày.” Ông ta nói. “Mười một chỗ. Mỗi chỗ một cái tên.”
Cô đứng dậy.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Con cần phá bức tường này.”
Ông ta lùi lại một bước.
“Không.”
“Chú Bình.”
“Cô ơi.” Ông ta nói. “Cô phá bức tường đó thì cô sẽ tìm thấy cái gì, tôi không biết. Nhưng tôi biết cái gì sẽ tìm thấy cô.”
“Là gì?”
“Là ông Bang.” Ông ta nói. “Vì bức tường đó do ông ta xây. Và ông ta xây nó để không ai vào.”
Cô nhìn bức tường.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Ông ta bệnh gì?”
“Ông ta bệnh thận.” Ông ta nói. “Ông ta chạy thận ba lần một tuần, ở một cái bệnh viện tư.”
“Bệnh viện nào?”
Ông ta nhìn cô.
“Cô định làm gì?”
“Con chỉ hỏi.”
Ông ta im, rồi ông ta nói:
“Bệnh viện An Sinh. Đường Sư Vạn Hạnh.”
Cô đi lên cầu thang.
“Cô ơi.”
“Dạ.”
“Cô đừng nói với ai là tôi nói câu đó.” Ông ta nói. “Vì tôi có một đứa cháu, và nó đang học ở Đài Loan, và tôi trả tiền cho nó bằng cái tiệm này.”
Cô gật.
Cô ra tới cửa thì cô dừng lại.
“Chú Bình.”
“Dạ.”
“Cái vạch phấn đó.” Cô nói. “Chú có nhớ cái tên nào không?”
Ông ta im rất lâu.
“Tôi nhớ một cái.” Ông ta nói. “Vì nó viết ở chỗ cao nhất, và nó viết bằng một nét chữ rất đẹp.”
“Tên gì?”
“MỸ.” Ông ta nói. “Chỉ có ba chữ. Và bên dưới có một con số: 17.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa