Chương 14: Bức Tường
Chương 14: Bức Tường
Hoài Nam tới lúc mười một giờ đêm, và anh ta mang theo một cái túi vải, và trong túi có một cái búa và một cái đục.
“Cô chắc chưa?”
“Chưa.”
“Vậy cô có muốn suy nghĩ lại không?”
“Không.”
Anh ta gật, và anh ta đi xuống cầu thang trước.
Tầng hầm số 9 về đêm có mùi khác. Nó có mùi ẩm, và mùi đất, và mùi của một cái gì đó đã lâu không có người.
Cô đứng ở bức tường.
“Bức tường này dày bao nhiêu?”
“Một lớp gạch.” Anh ta nói. “Mười phân.”
“Vậy là một tiếng.”
“Hai tiếng.” Anh ta nói. “Vì phải đục từ trên xuống, và phải giữ cái lỗ nhỏ, để cô nhìn vào trước.”
Anh ta đặt cái đục lên mạch vữa, và anh ta đập.
Tiếng động trong tầng hầm rất to.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Nếu có người nghe thấy thì sao?”
“Thì tôi nói tôi là thợ sửa ống nước.” Anh ta nói. “Và cô là chủ nhà.”
Anh ta đục được bốn mươi phút thì có một viên gạch rơi ra.
Rồi viên thứ hai, viên thứ ba.
Rồi có một cái lỗ bằng bàn tay.
Cô cầm đèn pin, và cô soi vào.
Bên kia là một căn phòng.
Nó dài, và nó hẹp, và nó có một cái trần thấp. Trên tường có những vệt ẩm chạy dọc, và ở góc có một cái máy bơm cũ.
Và dọc theo bức tường bên trái, có mười một cái giường sắt.
Chúng nó không có đệm. Chúng nó chỉ có khung, và trên khung có những sợi dây thừng buộc lại.
Cô nhìn rất lâu.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Anh nhìn đi.”
Anh ta nhìn.
Rồi anh ta lùi lại một bước, và anh ta nói một câu rất nhỏ.
“Mẹ kiếp.”
“Sao?”
“Cái giường thứ ba.” Anh ta nói. “Cái đó có một cái vết.”
Cô soi.
Trên khung giường thứ ba, ở chỗ cái thanh ngang, có một vết sơn đỏ đã bong.
Và bên cạnh vết sơn đó, có một dòng chữ viết bằng bút xóa:
“ĐỰC 2004”.
Cô đứng im.
“Nguyễn Văn Đực.”
“Ừ.”
Cô cầm cái búa.
“Anh đục tiếp đi.”
Họ đục thêm một tiếng.
Khi cái lỗ đủ rộng, Hoài Nam bước qua trước, và anh ta soi đèn quanh phòng, và anh ta nói:
“Không có ai.”
Cô bước qua.
Căn phòng dài khoảng mười lăm mét. Nó có một cái cửa sắt ở cuối, và cái cửa đó có một cái ổ khóa to bằng bàn tay, và cái ổ khóa đó đã gỉ.
Và trên tường bên phải, có những vạch phấn.
Cô đi tới đó.
Có mười một chỗ. Mỗi chỗ là một cái tên viết bằng phấn, và bên dưới là những vạch ngắn, và mỗi vạch là một ngày.
Cô đếm.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Cái nhiều nhất có bao nhiêu vạch?”
Anh ta đếm.
“Bốn mươi mốt.”
“Bốn mươi mốt ngày.”
“Ừ.”
Cô nhìn cái tên ở chỗ cao nhất.
Nó viết bằng một nét chữ rất đẹp, và nó chỉ có ba chữ, và bên dưới là một con số.
“MỸ – 17”.
“Mười bảy tuổi.” Cô nói.
“Ừ.”
“Và bốn mươi mốt vạch.”
“Ừ.”
Cô đứng im.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Bà Tư nói bà ấy kéo được hai người ra.” Cô nói. “Một người chết ở sân. Một người sống tới năm 2016.”
“Tôi biết.”
“Bà ấy nói người sống tới 2016 tên là Trần Thị Mỹ.”
Anh ta nhìn cô.
“Cô đang nghĩ gì?”
“Tôi đang nghĩ,” cô nói, “rằng bà Tư nói bà ấy không biết tên người vào nhà đêm đó, và bà ấy nói bà ấy kéo hai người ra khỏi lửa, và bà ấy nói bà ấy ở trong cái xưởng đó vì bà ấy nấu ăn.”
“Ừ.”
“Và tôi đang nghĩ,” cô nói, “rằng một người nấu ăn cho hai trăm người thì không ở lại sau khi người ta thả hết hai trăm người.”
Anh ta im.
“Cô nói tiếp đi.”
“Tôi nghĩ,” cô nói, “bà ấy ở lại vì bà ấy không có nhà để về.”
Cô quay lại, và cô nhìn cái giường thứ bảy.
Trên khung giường thứ bảy, có một dòng chữ khác.
“MỸ 17 – 41 NGÀY”.
Cô ngồi xuống cái khung giường đó.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Bà Tư bao nhiêu tuổi?”
“Bảy mươi mốt.” Anh ta nói. “Bà ấy nói vậy.”
“Năm 2004, bà ấy bốn mươi chín.”
“Ừ.”
“Vậy bà ấy không phải mười bảy tuổi.”
“Không.”
Cô nhìn dòng chữ trên khung giường.
“Vậy người tên Mỹ đó là ai?”
Anh ta không trả lời.
Cô đứng dậy, và cô đi tới cái cửa sắt ở cuối phòng.
“Cái này mở được không?”
“Cái ổ khóa này gỉ rồi.” Anh ta nói. “Nhưng nó là loại khóa ngoài. Phải cắt.”
“Cắt được không?”
“Được.” Anh ta nói. “Nhưng ngày mai. Vì tiếng cắt sẽ to hơn tiếng đục.”
Cô gật.
Cô quay lại nhìn căn phòng lần cuối.
Mười một cái giường. Mười một cái tên. Bốn mươi mốt vạch phấn.
Và ở góc phòng, trên một cái kệ sắt, có một cái hộp các tông.
Cô đi tới đó.
Trong hộp có ba thứ.
Một cái áo trẻ con, màu vàng, đã mốc.
Một cái dép nhựa, size hai mươi tám.
Và một cái hộp nhựa nhỏ, và trong hộp đó có bốn cuốn băng cassette.
Cô cầm lên một cuốn.
Trên nhãn có một dòng chữ viết tay, và nó đã nhòe.
“Gửi con gái tôi.”
Cô đứng im rất lâu.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Cái hộp này không phải của mười một người đó.”
Anh ta bước lại.
“Sao cô biết?”
“Vì cái áo này là áo trẻ con.” Cô nói. “Và cái dép này là dép của một đứa bé ba tuổi.”
Cô cầm cuốn băng lên, và cô soi đèn vào cái nhãn.
Dòng chữ đó là chữ của cha cô.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Cha tôi đã ở trong cái phòng này.”
Anh ta nhìn cái hộp.
“Không.” Anh ta nói. “Cha cô chưa từng ở trong phòng này.”
“Vậy tại sao cái hộp của ông ấy ở đây?”
Anh ta im rất lâu.
“Vì có người đã để nó ở đây.” Anh ta nói. “Và người đó muốn cô tìm thấy nó.”
Hoài Nam tới lúc mười một giờ đêm, và anh ta mang theo một cái túi vải, và trong túi có một cái búa và một cái đục.
“Cô chắc chưa?”
“Chưa.”
“Vậy cô có muốn suy nghĩ lại không?”
“Không.”
Anh ta gật, và anh ta đi xuống cầu thang trước.
Tầng hầm số 9 về đêm có mùi khác. Nó có mùi ẩm, và mùi đất, và mùi của một cái gì đó đã lâu không có người.
Cô đứng ở bức tường.
“Bức tường này dày bao nhiêu?”
“Một lớp gạch.” Anh ta nói. “Mười phân.”
“Vậy là một tiếng.”
“Hai tiếng.” Anh ta nói. “Vì phải đục từ trên xuống, và phải giữ cái lỗ nhỏ, để cô nhìn vào trước.”
Anh ta đặt cái đục lên mạch vữa, và anh ta đập.
Tiếng động trong tầng hầm rất to.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Nếu có người nghe thấy thì sao?”
“Thì tôi nói tôi là thợ sửa ống nước.” Anh ta nói. “Và cô là chủ nhà.”
Anh ta đục được bốn mươi phút thì có một viên gạch rơi ra.
Rồi viên thứ hai, viên thứ ba.
Rồi có một cái lỗ bằng bàn tay.
Cô cầm đèn pin, và cô soi vào.
Bên kia là một căn phòng.
Nó dài, và nó hẹp, và nó có một cái trần thấp. Trên tường có những vệt ẩm chạy dọc, và ở góc có một cái máy bơm cũ.
Và dọc theo bức tường bên trái, có mười một cái giường sắt.
Chúng nó không có đệm. Chúng nó chỉ có khung, và trên khung có những sợi dây thừng buộc lại.
Cô nhìn rất lâu.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Anh nhìn đi.”
Anh ta nhìn.
Rồi anh ta lùi lại một bước, và anh ta nói một câu rất nhỏ.
“Mẹ kiếp.”
“Sao?”
“Cái giường thứ ba.” Anh ta nói. “Cái đó có một cái vết.”
Cô soi.
Trên khung giường thứ ba, ở chỗ cái thanh ngang, có một vết sơn đỏ đã bong.
Và bên cạnh vết sơn đó, có một dòng chữ viết bằng bút xóa:
“ĐỰC 2004”.
Cô đứng im.
“Nguyễn Văn Đực.”
“Ừ.”
Cô cầm cái búa.
“Anh đục tiếp đi.”
Họ đục thêm một tiếng.
Khi cái lỗ đủ rộng, Hoài Nam bước qua trước, và anh ta soi đèn quanh phòng, và anh ta nói:
“Không có ai.”
Cô bước qua.
Căn phòng dài khoảng mười lăm mét. Nó có một cái cửa sắt ở cuối, và cái cửa đó có một cái ổ khóa to bằng bàn tay, và cái ổ khóa đó đã gỉ.
Và trên tường bên phải, có những vạch phấn.
Cô đi tới đó.
Có mười một chỗ. Mỗi chỗ là một cái tên viết bằng phấn, và bên dưới là những vạch ngắn, và mỗi vạch là một ngày.
Cô đếm.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Cái nhiều nhất có bao nhiêu vạch?”
Anh ta đếm.
“Bốn mươi mốt.”
“Bốn mươi mốt ngày.”
“Ừ.”
Cô nhìn cái tên ở chỗ cao nhất.
Nó viết bằng một nét chữ rất đẹp, và nó chỉ có ba chữ, và bên dưới là một con số.
“MỸ – 17”.
“Mười bảy tuổi.” Cô nói.
“Ừ.”
“Và bốn mươi mốt vạch.”
“Ừ.”
Cô đứng im.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Bà Tư nói bà ấy kéo được hai người ra.” Cô nói. “Một người chết ở sân. Một người sống tới năm 2016.”
“Tôi biết.”
“Bà ấy nói người sống tới 2016 tên là Trần Thị Mỹ.”
Anh ta nhìn cô.
“Cô đang nghĩ gì?”
“Tôi đang nghĩ,” cô nói, “rằng bà Tư nói bà ấy không biết tên người vào nhà đêm đó, và bà ấy nói bà ấy kéo hai người ra khỏi lửa, và bà ấy nói bà ấy ở trong cái xưởng đó vì bà ấy nấu ăn.”
“Ừ.”
“Và tôi đang nghĩ,” cô nói, “rằng một người nấu ăn cho hai trăm người thì không ở lại sau khi người ta thả hết hai trăm người.”
Anh ta im.
“Cô nói tiếp đi.”
“Tôi nghĩ,” cô nói, “bà ấy ở lại vì bà ấy không có nhà để về.”
Cô quay lại, và cô nhìn cái giường thứ bảy.
Trên khung giường thứ bảy, có một dòng chữ khác.
“MỸ 17 – 41 NGÀY”.
Cô ngồi xuống cái khung giường đó.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Bà Tư bao nhiêu tuổi?”
“Bảy mươi mốt.” Anh ta nói. “Bà ấy nói vậy.”
“Năm 2004, bà ấy bốn mươi chín.”
“Ừ.”
“Vậy bà ấy không phải mười bảy tuổi.”
“Không.”
Cô nhìn dòng chữ trên khung giường.
“Vậy người tên Mỹ đó là ai?”
Anh ta không trả lời.
Cô đứng dậy, và cô đi tới cái cửa sắt ở cuối phòng.
“Cái này mở được không?”
“Cái ổ khóa này gỉ rồi.” Anh ta nói. “Nhưng nó là loại khóa ngoài. Phải cắt.”
“Cắt được không?”
“Được.” Anh ta nói. “Nhưng ngày mai. Vì tiếng cắt sẽ to hơn tiếng đục.”
Cô gật.
Cô quay lại nhìn căn phòng lần cuối.
Mười một cái giường. Mười một cái tên. Bốn mươi mốt vạch phấn.
Và ở góc phòng, trên một cái kệ sắt, có một cái hộp các tông.
Cô đi tới đó.
Trong hộp có ba thứ.
Một cái áo trẻ con, màu vàng, đã mốc.
Một cái dép nhựa, size hai mươi tám.
Và một cái hộp nhựa nhỏ, và trong hộp đó có bốn cuốn băng cassette.
Cô cầm lên một cuốn.
Trên nhãn có một dòng chữ viết tay, và nó đã nhòe.
“Gửi con gái tôi.”
Cô đứng im rất lâu.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Cái hộp này không phải của mười một người đó.”
Anh ta bước lại.
“Sao cô biết?”
“Vì cái áo này là áo trẻ con.” Cô nói. “Và cái dép này là dép của một đứa bé ba tuổi.”
Cô cầm cuốn băng lên, và cô soi đèn vào cái nhãn.
Dòng chữ đó là chữ của cha cô.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Cha tôi đã ở trong cái phòng này.”
Anh ta nhìn cái hộp.
“Không.” Anh ta nói. “Cha cô chưa từng ở trong phòng này.”
“Vậy tại sao cái hộp của ông ấy ở đây?”
Anh ta im rất lâu.
“Vì có người đã để nó ở đây.” Anh ta nói. “Và người đó muốn cô tìm thấy nó.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa