Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Căn hộ của cô không có máy cassette.
Cô phải đi tìm.
Cô tìm ở ba cái tiệm đồ cũ trên đường Võ Văn Tần, và cái thứ ba bán cho cô một cái máy National đời 1994 với giá bốn trăm nghìn.
Cô về nhà lúc mười giờ tối, và cô đặt cái máy lên bàn, và cô cắm điện, và cô nhìn nó ba phút trước khi bấm nút.
Rồi cô bấm.
Có tiếng rè.
Rồi có tiếng một cái ghế kéo.
Rồi có một giọng nói.
“Alo. Alo. Cái này có chạy không?”
Cô đặt tay lên miệng.
Đó là giọng của một người đàn ông, và nó khàn, và nó chậm, và nó nói như người ta nói khi không quen nói.
“Được rồi. Chạy rồi.”
Im ba giây.
“Con ơi.”
Cô ngồi xuống sàn.
“Nếu con nghe được cái này, thì chắc là cha đã chết rồi. Vì cha dặn bà Tư chỉ đưa cái hộp này cho con khi cha chết. Mà bà Tư thì hay quên. Nên nếu con nghe được, thì hoặc là cha chết, hoặc là bà ấy quên lâu quá.”
Có tiếng cười, và cái cười đó ngắn, và nó tắt ngay.
“Cha ghi cái này ngày mười bốn tháng Chín năm 2020. Bốn giờ sáng. Cha không ngủ được.”
Im.
“Con không biết cha. Đó là lỗi của cha. Cha không có cách nào khác.”
Im.
“Cha sẽ kể con nghe bốn chuyện. Chuyện thứ nhất là chuyện mẹ con. Chuyện thứ hai là chuyện cái xưởng. Chuyện thứ ba là chuyện cuốn sổ thứ bốn mươi bảy. Chuyện thứ tư là chuyện bà Tư.”
Cô ngồi im.
“Mẹ con tên là Nguyễn Thị Hồng. Bà ấy làm ở một cái tiệm may ở đường Nguyễn Trãi. Năm 2001, bà ấy tới số 9 để vay tiền, vì ông ngoại con bị bệnh.”
Im.
“Bà ấy vay hai mươi triệu. Bà ấy trả được bốn tháng. Rồi bà ấy không trả được nữa, và bà ấy tới, và bà ấy nói: ‘Tôi không có tiền, nhưng tôi có cái nhà.’”
Im.
“Cha nói: ‘Tôi không lấy nhà bà.’ Cha nói: ‘Bà làm gì?’ Bà ấy nói: ‘Tôi may.’ Cha nói: ‘Vậy bà may cho tôi cái áo.’ Bà ấy may. Cái áo đó cha mặc tới năm 2015.”
Cô cúi xuống, và cô cười, và cô không biết vì sao cô cười.
“Rồi cha và bà ấy ở với nhau. Không cưới. Vì bà ấy nói: ‘Tôi không lấy một người cho vay nặng lãi.’ Và cha nói: ‘Ừ.’”
Im.
“Năm 2002, con sinh ra. Cha đặt tên con là Minh Châu. Bà ấy muốn đặt tên con là Hồng, giống bà ấy. Cha nói: ‘Đừng. Để nó có một cái tên không ai biết.’”
Im.
“Năm 2003, cha mua cái xưởng may Tân Phú. Cha kể con nghe chuyện đó rõ ràng, vì sau này sẽ có người kể con nghe một cách khác.”
“Cha cho cái xưởng đó vay bảy trăm triệu. Cha biết họ tuyển người. Cha không biết họ bán người. Đó là lần đầu tiên trong đời cha cho vay mà không hỏi người ta lấy tiền làm gì.”
“Ngày mười bảy tháng Ba năm 2004, cha tới cái xưởng đó. Cha đi một mình. Cha mang theo bảy trăm triệu trong một cái bao gạo, và cha nói: ‘Tôi mua cái xưởng này.’”
“Có hai trăm người trong đó. Họ ngủ trên mười một cái giường sắt ở tầng hai, và họ ngủ dưới đất, và họ ngủ trong cái nhà kho.”
“Cha đứng ở cái sân, và cha nói: ‘Ai có nhà thì về.’ Và một trăm tám mươi chín người có nhà.”
“Mười một người không có.”
“Cha nói: ‘Cho tôi ba tuần.’ Và cha đi tìm chỗ ở cho họ. Cha tới ủy ban xã, cha tới hai cái chùa, cha tới một cái nhà thờ. Cha xin được một cái nhà tình thương ở Bình Chánh, và người ta hẹn cha ngày hai mươi tháng Tư.”
Im rất lâu.
“Ngày mười tháng Tư, cái xưởng cháy.”
“Cha không ở đó. Cha đang ở Sài Gòn, và cha nhận được điện thoại lúc hai giờ sáng, và cha chạy ra, và cha tới đó lúc ba giờ, và cái xưởng đã cháy hết.”
“Cha đứng ở ngoài, và cha nhìn, và cha không vào được. Vì có một cái xích ở cửa, và người ta nói cái xích đó do ai đó khóa từ ngoài.”
Im.
“Mười một người chết. Tên họ cha viết vào một cuốn sổ. Cha viết bằng bút đỏ.”
“Con ơi, cha nói con nghe một chuyện mà cha chưa từng nói với ai.”
Im.
“Cha biết ai đốt.”
Cô ngồi thẳng lên.
“Cha biết từ năm 2005. Vì có một người tới số 9, và người đó uống trà với cha, và người đó nói: ‘Anh mua cái xưởng đó thì anh phải trả tiền cho tôi.’ Và cha nói: ‘Tôi trả rồi.’ Và người đó nói: ‘Anh trả tiền xưởng. Anh chưa trả tiền người.’”
“Người đó tên là Hứa Kiến Bang.”
Cô đứng dậy.
“Cha không báo công an. Cha không báo vì cha biết công an sẽ không làm gì, và vì cha biết nếu cha báo, thì người ta sẽ tìm ra một chuyện khác: rằng cha cho cái xưởng đó vay. Và cha sẽ vào tù. Và con sẽ ở với ai?”
Im.
“Nên cha làm một chuyện khác. Cha ghi lại tất cả.”
“Bốn mươi bảy cuốn sổ. Bốn mươi sáu cuốn là sổ nợ. Cuốn thứ bốn mươi bảy là cuốn cha ghi chuyện của Hứa Kiến Bang.”
“Cha ghi mười chín năm. Mỗi lần ông ta tới, cha ghi. Mỗi người ông ta gặp, cha ghi. Mỗi cái xe, mỗi cái tài khoản, mỗi cái tên.”
Im.
“Cuốn đó cha không để ở số 9. Vì ở số 9 thì ai cũng tìm được.”
“Cha để nó ở một chỗ mà chỉ có một người biết.”
Im.
“Và người đó,” giọng cha cô nói, “là mẹ con.”
Cô đứng giữa phòng, và cô không thở.
“Cha đưa mẹ con cuốn sổ đó năm 2019, ba tháng trước khi bà ấy chết. Cha đưa bà ấy, và cha nói: ‘Nếu có chuyện gì với tôi, thì đưa nó cho con tôi.’”
Im rất lâu.
“Ba tháng sau, bà ấy chết.”
Có tiếng rè.
“Con ơi. Cha xin lỗi con. Cha xin lỗi vì cha đã đưa cuốn sổ đó cho mẹ con. Cha biết bà ấy sẽ không giữ được. Bà ấy là người không giữ được cái gì cả.”
Im.
“Và cha xin lỗi vì mười lăm năm cha để con nghĩ cha đã chết. Cha làm vậy vì cha biết, nếu con biết cha còn sống, thì con sẽ tìm cha. Và nếu con tìm cha, thì con sẽ tìm ra cái nhà này.”
Im.
“Và cái nhà này ăn người, con ạ.”
Băng dừng.
Cô ngồi xuống sàn, và cô ngồi đó rất lâu, và cô nghe tiếng xe ngoài đường, và tiếng một cái quạt máy ở nhà bên cạnh.
Rồi cô lấy cuốn băng thứ hai.
Nó có nhãn: “Số 2 – Bà Tư”.
Cô đặt nó vào máy.
Và trước khi cô bấm nút, cô nghe tiếng gõ cửa.
Ba tiếng.
Cô đứng dậy, và cô đi tới cái cửa, và cô nhìn qua cái lỗ nhòm.
Ngoài hành lang có hai người.
Một người mặc áo công an.
Và một người mặc áo sơ mi trắng, và tay trái người đó đeo một cái đồng hồ vàng.
Căn hộ của cô không có máy cassette.
Cô phải đi tìm.
Cô tìm ở ba cái tiệm đồ cũ trên đường Võ Văn Tần, và cái thứ ba bán cho cô một cái máy National đời 1994 với giá bốn trăm nghìn.
Cô về nhà lúc mười giờ tối, và cô đặt cái máy lên bàn, và cô cắm điện, và cô nhìn nó ba phút trước khi bấm nút.
Rồi cô bấm.
Có tiếng rè.
Rồi có tiếng một cái ghế kéo.
Rồi có một giọng nói.
“Alo. Alo. Cái này có chạy không?”
Cô đặt tay lên miệng.
Đó là giọng của một người đàn ông, và nó khàn, và nó chậm, và nó nói như người ta nói khi không quen nói.
“Được rồi. Chạy rồi.”
Im ba giây.
“Con ơi.”
Cô ngồi xuống sàn.
“Nếu con nghe được cái này, thì chắc là cha đã chết rồi. Vì cha dặn bà Tư chỉ đưa cái hộp này cho con khi cha chết. Mà bà Tư thì hay quên. Nên nếu con nghe được, thì hoặc là cha chết, hoặc là bà ấy quên lâu quá.”
Có tiếng cười, và cái cười đó ngắn, và nó tắt ngay.
“Cha ghi cái này ngày mười bốn tháng Chín năm 2020. Bốn giờ sáng. Cha không ngủ được.”
Im.
“Con không biết cha. Đó là lỗi của cha. Cha không có cách nào khác.”
Im.
“Cha sẽ kể con nghe bốn chuyện. Chuyện thứ nhất là chuyện mẹ con. Chuyện thứ hai là chuyện cái xưởng. Chuyện thứ ba là chuyện cuốn sổ thứ bốn mươi bảy. Chuyện thứ tư là chuyện bà Tư.”
Cô ngồi im.
“Mẹ con tên là Nguyễn Thị Hồng. Bà ấy làm ở một cái tiệm may ở đường Nguyễn Trãi. Năm 2001, bà ấy tới số 9 để vay tiền, vì ông ngoại con bị bệnh.”
Im.
“Bà ấy vay hai mươi triệu. Bà ấy trả được bốn tháng. Rồi bà ấy không trả được nữa, và bà ấy tới, và bà ấy nói: ‘Tôi không có tiền, nhưng tôi có cái nhà.’”
Im.
“Cha nói: ‘Tôi không lấy nhà bà.’ Cha nói: ‘Bà làm gì?’ Bà ấy nói: ‘Tôi may.’ Cha nói: ‘Vậy bà may cho tôi cái áo.’ Bà ấy may. Cái áo đó cha mặc tới năm 2015.”
Cô cúi xuống, và cô cười, và cô không biết vì sao cô cười.
“Rồi cha và bà ấy ở với nhau. Không cưới. Vì bà ấy nói: ‘Tôi không lấy một người cho vay nặng lãi.’ Và cha nói: ‘Ừ.’”
Im.
“Năm 2002, con sinh ra. Cha đặt tên con là Minh Châu. Bà ấy muốn đặt tên con là Hồng, giống bà ấy. Cha nói: ‘Đừng. Để nó có một cái tên không ai biết.’”
Im.
“Năm 2003, cha mua cái xưởng may Tân Phú. Cha kể con nghe chuyện đó rõ ràng, vì sau này sẽ có người kể con nghe một cách khác.”
“Cha cho cái xưởng đó vay bảy trăm triệu. Cha biết họ tuyển người. Cha không biết họ bán người. Đó là lần đầu tiên trong đời cha cho vay mà không hỏi người ta lấy tiền làm gì.”
“Ngày mười bảy tháng Ba năm 2004, cha tới cái xưởng đó. Cha đi một mình. Cha mang theo bảy trăm triệu trong một cái bao gạo, và cha nói: ‘Tôi mua cái xưởng này.’”
“Có hai trăm người trong đó. Họ ngủ trên mười một cái giường sắt ở tầng hai, và họ ngủ dưới đất, và họ ngủ trong cái nhà kho.”
“Cha đứng ở cái sân, và cha nói: ‘Ai có nhà thì về.’ Và một trăm tám mươi chín người có nhà.”
“Mười một người không có.”
“Cha nói: ‘Cho tôi ba tuần.’ Và cha đi tìm chỗ ở cho họ. Cha tới ủy ban xã, cha tới hai cái chùa, cha tới một cái nhà thờ. Cha xin được một cái nhà tình thương ở Bình Chánh, và người ta hẹn cha ngày hai mươi tháng Tư.”
Im rất lâu.
“Ngày mười tháng Tư, cái xưởng cháy.”
“Cha không ở đó. Cha đang ở Sài Gòn, và cha nhận được điện thoại lúc hai giờ sáng, và cha chạy ra, và cha tới đó lúc ba giờ, và cái xưởng đã cháy hết.”
“Cha đứng ở ngoài, và cha nhìn, và cha không vào được. Vì có một cái xích ở cửa, và người ta nói cái xích đó do ai đó khóa từ ngoài.”
Im.
“Mười một người chết. Tên họ cha viết vào một cuốn sổ. Cha viết bằng bút đỏ.”
“Con ơi, cha nói con nghe một chuyện mà cha chưa từng nói với ai.”
Im.
“Cha biết ai đốt.”
Cô ngồi thẳng lên.
“Cha biết từ năm 2005. Vì có một người tới số 9, và người đó uống trà với cha, và người đó nói: ‘Anh mua cái xưởng đó thì anh phải trả tiền cho tôi.’ Và cha nói: ‘Tôi trả rồi.’ Và người đó nói: ‘Anh trả tiền xưởng. Anh chưa trả tiền người.’”
“Người đó tên là Hứa Kiến Bang.”
Cô đứng dậy.
“Cha không báo công an. Cha không báo vì cha biết công an sẽ không làm gì, và vì cha biết nếu cha báo, thì người ta sẽ tìm ra một chuyện khác: rằng cha cho cái xưởng đó vay. Và cha sẽ vào tù. Và con sẽ ở với ai?”
Im.
“Nên cha làm một chuyện khác. Cha ghi lại tất cả.”
“Bốn mươi bảy cuốn sổ. Bốn mươi sáu cuốn là sổ nợ. Cuốn thứ bốn mươi bảy là cuốn cha ghi chuyện của Hứa Kiến Bang.”
“Cha ghi mười chín năm. Mỗi lần ông ta tới, cha ghi. Mỗi người ông ta gặp, cha ghi. Mỗi cái xe, mỗi cái tài khoản, mỗi cái tên.”
Im.
“Cuốn đó cha không để ở số 9. Vì ở số 9 thì ai cũng tìm được.”
“Cha để nó ở một chỗ mà chỉ có một người biết.”
Im.
“Và người đó,” giọng cha cô nói, “là mẹ con.”
Cô đứng giữa phòng, và cô không thở.
“Cha đưa mẹ con cuốn sổ đó năm 2019, ba tháng trước khi bà ấy chết. Cha đưa bà ấy, và cha nói: ‘Nếu có chuyện gì với tôi, thì đưa nó cho con tôi.’”
Im rất lâu.
“Ba tháng sau, bà ấy chết.”
Có tiếng rè.
“Con ơi. Cha xin lỗi con. Cha xin lỗi vì cha đã đưa cuốn sổ đó cho mẹ con. Cha biết bà ấy sẽ không giữ được. Bà ấy là người không giữ được cái gì cả.”
Im.
“Và cha xin lỗi vì mười lăm năm cha để con nghĩ cha đã chết. Cha làm vậy vì cha biết, nếu con biết cha còn sống, thì con sẽ tìm cha. Và nếu con tìm cha, thì con sẽ tìm ra cái nhà này.”
Im.
“Và cái nhà này ăn người, con ạ.”
Băng dừng.
Cô ngồi xuống sàn, và cô ngồi đó rất lâu, và cô nghe tiếng xe ngoài đường, và tiếng một cái quạt máy ở nhà bên cạnh.
Rồi cô lấy cuốn băng thứ hai.
Nó có nhãn: “Số 2 – Bà Tư”.
Cô đặt nó vào máy.
Và trước khi cô bấm nút, cô nghe tiếng gõ cửa.
Ba tiếng.
Cô đứng dậy, và cô đi tới cái cửa, và cô nhìn qua cái lỗ nhòm.
Ngoài hành lang có hai người.
Một người mặc áo công an.
Và một người mặc áo sơ mi trắng, và tay trái người đó đeo một cái đồng hồ vàng.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa