Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Cô mở cửa, và cô không tháo cái xích.
“Dạ.”
Người mặc áo công an giơ một cái giấy.
“Cô Nguyễn Minh Châu?”
“Dạ.”
“Chúng tôi tới để xác minh một số giấy tờ liên quan tới di sản của ông Lê Trung.”
“Giấy tờ gì?”
“Cô mở cửa thì chúng tôi nói.”
Cô nhìn cái giấy đó.
Nó có một cái tiêu đề, và một cái dấu đỏ, và một cái số.
Nhưng nó không có số hiệu của người thi hành.
“Anh ơi.”
“Dạ.”
“Anh cho tôi xem thẻ ngành.”
Người đó im một giây.
“Tôi để thẻ ở dưới xe.”
“Vậy anh xuống lấy đi.”
Người mặc áo trắng đứng phía sau bước lên.
“Cô Châu.” Ông ta nói. “Cô mở cửa đi. Chúng tôi đứng ngoài hành lang, người ta nhìn.”
“Thì người ta nhìn.”
Ông ta cười, và cái cười đó rất nhẹ.
“Cô giống cha cô.” Ông ta nói. “Ông ấy cũng hay bắt người ta chứng minh.”
“Ông là ai?”
“Tôi tên Hứa Kiến Bang.”
Cô đứng im.
Cô nhìn ông ta qua cái khe cửa.
Ông ta khoảng bảy mươi, và ông ta gầy, và da ông ta vàng, và trên cổ tay trái ông ta có một cái máy lọc máu động mạch – tĩnh mạch, loại người chạy thận hay có.
Và trên cổ tay phải ông ta có một cái đồng hồ vàng.
“Ông tới đây làm gì?”
“Tôi tới trả cô một món đồ.”
“Đồ gì?”
Ông ta lấy trong túi ra một cái hộp nhựa.
“Cái này.”
Cô nhìn cái hộp.
Nó là cái hộp đựng băng cassette.
“Cô mở đi.” Ông ta nói.
Cô không mở.
“Ông để nó ở đây.”
“Tôi để nó ở cái bàn ngoài hành lang.” Ông ta nói. “Và tôi đi. Cô muốn lấy thì lấy.”
“Ông Bang.”
“Dạ.”
“Ông vào được cái phòng đó.”
“Cái phòng nào?”
“Cái phòng có mười một cái giường.”
Ông ta nhìn cô rất lâu.
“Cô Châu.” Ông ta nói. “Cái phòng đó là của tôi. Tôi xây nó năm 1990. Tôi đóng nó năm 2004. Và tôi không vào nó hai mươi hai năm.”
“Vì sao?”
“Vì tôi không cần.” Ông ta nói. “Một cái phòng trống thì không cần ai vào.”
“Vậy ai để cái hộp đó trong đó?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Nhưng tôi biết ai có chìa khóa.”
“Ai?”
“Bà Tư.” Ông ta nói. “Và cha cô.”
Ông ta lùi lại một bước.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi nói cô nghe một câu, rồi tôi đi.”
“Ông nói.”
“Cha cô là người duy nhất trong cái thành phố này mà tôi nể.” Ông ta nói. “Vì ông ấy không tham. Mười chín năm, ông ấy có thể lấy của tôi hai mươi lần. Ông ấy không lấy một lần.”
“Ông nể ông ấy, và ông đốt mười một người.”
“Tôi không đốt.” Ông ta nói.
“Vậy ai đốt?”
Ông ta im.
“Cô Châu.” Ông ta nói. “Nếu tôi nói cô nghe ai đốt, thì cô sẽ làm gì?”
“Tôi sẽ báo công an.”
“Công an nào?”
Cô không trả lời.
Ông ta gật, và ông ta cười, và ông ta nói:
“Đó là lý do tôi không nói.”
Ông ta quay lưng.
“Ông Bang.”
Ông ta dừng lại.
“Cái hộp tro cốt ở nhà quàn.” Cô nói. “Ông gửi.”
“Tôi gửi.”
“Vì sao?”
“Vì cha cô dặn tôi.” Ông ta nói. “Năm ngoái, ba ngày trước khi ông ấy chết, ông ấy tới nhà tôi. Ông ấy ngồi ở cái ghế đó, và ông ấy nói: ‘Anh Bang, tôi sắp chết. Và tôi muốn anh làm một việc.’”
“Việc gì?”
“Ông ấy nói: ‘Anh mua một cái hộp tro cốt, anh bỏ vào đó một cái chìa khóa, và anh gửi nó cho con tôi. Và anh đừng nói gì.’”
Cô đứng im.
“Vì sao ông ấy nhờ ông?”
“Vì ông ấy biết tôi là người duy nhất còn sống mà người ta không dám chặn.” Ông ta nói.
“Và ông làm.”
“Tôi làm.”
“Vì sao?”
Ông ta im rất lâu.
“Vì năm 2004, tôi nợ ông ấy mười một cái tên.” Ông ta nói. “Và tôi không trả được. Nhưng tôi trả được cái này.”
Ông ta đi.
Người mặc áo công an đi theo.
Cô đóng cửa, và cô đứng im ba phút, rồi cô mở cửa, và cô nhìn ra hành lang.
Cái hộp nhựa đặt trên cái bàn nhỏ cạnh cầu thang.
Cô cầm nó, và cô mở.
Bên trong có một cuốn băng.
Trên nhãn có một dòng chữ: “Số 4 – Cuốn thứ bốn mươi bảy”.
Cô đứng ở hành lang, và cô nhìn cuốn băng đó, và cô biết một chuyện.
Ông ta không tới để trả cô một món đồ.
Ông ta tới để xem mặt cô.
Và ông ta tới để cho cô biết rằng ông ta biết cô đang ở đâu.
Cô về nhà, và cô đặt cuốn băng lên bàn, và cô cầm điện thoại lên.
Rồi cô gọi một số.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Hứa Kiến Bang vừa tới nhà tôi.”
Bên kia im.
“Cô có mở cửa không?”
“Không.”
“Tốt.” Anh ta nói. “Cô có nhìn thấy tay ông ta không?”
“Có.”
“Có cái gì ở cổ tay trái?”
“Một cái ống.” Cô nói. “Kiểu chạy thận.”
“Vậy là ông ta sắp chết.” Anh ta nói. “Và người sắp chết thì hay làm liều.”
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Ông ta nói với tôi một câu.” Cô nói. “Ông ta nói: ‘Cha cô là người duy nhất trong cái thành phố này mà tôi nể. Vì ông ấy không tham.’”
“Ông ta nói thật.” Anh ta nói.
“Vậy tại sao ông ta giết ông ấy?”
“Vì không tham không có nghĩa là không nguy hiểm.” Anh ta nói. “Một người không tham thì không mua được.”
Cô ngồi xuống.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Tôi có cuốn băng thứ tư.” Cô nói. “Nó ghi về cuốn sổ thứ bốn mươi bảy.”
“Cô nghe chưa?”
“Chưa.”
“Vậy thì nghe đi.” Anh ta nói. “Và nghe xong thì gọi tôi.”
“Anh không muốn nghe cùng à?”
Anh ta im.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cha cô ghi bốn cuốn băng.” Anh ta nói. “Tôi biết, vì tôi là người mua cái máy cassette.”
“Và anh chưa nghe cuốn nào.”
“Tôi chưa nghe cuốn nào.” Anh ta nói. “Vì ông ấy ghi cho cô, không phải cho tôi.”
Cô mở cửa, và cô không tháo cái xích.
“Dạ.”
Người mặc áo công an giơ một cái giấy.
“Cô Nguyễn Minh Châu?”
“Dạ.”
“Chúng tôi tới để xác minh một số giấy tờ liên quan tới di sản của ông Lê Trung.”
“Giấy tờ gì?”
“Cô mở cửa thì chúng tôi nói.”
Cô nhìn cái giấy đó.
Nó có một cái tiêu đề, và một cái dấu đỏ, và một cái số.
Nhưng nó không có số hiệu của người thi hành.
“Anh ơi.”
“Dạ.”
“Anh cho tôi xem thẻ ngành.”
Người đó im một giây.
“Tôi để thẻ ở dưới xe.”
“Vậy anh xuống lấy đi.”
Người mặc áo trắng đứng phía sau bước lên.
“Cô Châu.” Ông ta nói. “Cô mở cửa đi. Chúng tôi đứng ngoài hành lang, người ta nhìn.”
“Thì người ta nhìn.”
Ông ta cười, và cái cười đó rất nhẹ.
“Cô giống cha cô.” Ông ta nói. “Ông ấy cũng hay bắt người ta chứng minh.”
“Ông là ai?”
“Tôi tên Hứa Kiến Bang.”
Cô đứng im.
Cô nhìn ông ta qua cái khe cửa.
Ông ta khoảng bảy mươi, và ông ta gầy, và da ông ta vàng, và trên cổ tay trái ông ta có một cái máy lọc máu động mạch – tĩnh mạch, loại người chạy thận hay có.
Và trên cổ tay phải ông ta có một cái đồng hồ vàng.
“Ông tới đây làm gì?”
“Tôi tới trả cô một món đồ.”
“Đồ gì?”
Ông ta lấy trong túi ra một cái hộp nhựa.
“Cái này.”
Cô nhìn cái hộp.
Nó là cái hộp đựng băng cassette.
“Cô mở đi.” Ông ta nói.
Cô không mở.
“Ông để nó ở đây.”
“Tôi để nó ở cái bàn ngoài hành lang.” Ông ta nói. “Và tôi đi. Cô muốn lấy thì lấy.”
“Ông Bang.”
“Dạ.”
“Ông vào được cái phòng đó.”
“Cái phòng nào?”
“Cái phòng có mười một cái giường.”
Ông ta nhìn cô rất lâu.
“Cô Châu.” Ông ta nói. “Cái phòng đó là của tôi. Tôi xây nó năm 1990. Tôi đóng nó năm 2004. Và tôi không vào nó hai mươi hai năm.”
“Vì sao?”
“Vì tôi không cần.” Ông ta nói. “Một cái phòng trống thì không cần ai vào.”
“Vậy ai để cái hộp đó trong đó?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Nhưng tôi biết ai có chìa khóa.”
“Ai?”
“Bà Tư.” Ông ta nói. “Và cha cô.”
Ông ta lùi lại một bước.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi nói cô nghe một câu, rồi tôi đi.”
“Ông nói.”
“Cha cô là người duy nhất trong cái thành phố này mà tôi nể.” Ông ta nói. “Vì ông ấy không tham. Mười chín năm, ông ấy có thể lấy của tôi hai mươi lần. Ông ấy không lấy một lần.”
“Ông nể ông ấy, và ông đốt mười một người.”
“Tôi không đốt.” Ông ta nói.
“Vậy ai đốt?”
Ông ta im.
“Cô Châu.” Ông ta nói. “Nếu tôi nói cô nghe ai đốt, thì cô sẽ làm gì?”
“Tôi sẽ báo công an.”
“Công an nào?”
Cô không trả lời.
Ông ta gật, và ông ta cười, và ông ta nói:
“Đó là lý do tôi không nói.”
Ông ta quay lưng.
“Ông Bang.”
Ông ta dừng lại.
“Cái hộp tro cốt ở nhà quàn.” Cô nói. “Ông gửi.”
“Tôi gửi.”
“Vì sao?”
“Vì cha cô dặn tôi.” Ông ta nói. “Năm ngoái, ba ngày trước khi ông ấy chết, ông ấy tới nhà tôi. Ông ấy ngồi ở cái ghế đó, và ông ấy nói: ‘Anh Bang, tôi sắp chết. Và tôi muốn anh làm một việc.’”
“Việc gì?”
“Ông ấy nói: ‘Anh mua một cái hộp tro cốt, anh bỏ vào đó một cái chìa khóa, và anh gửi nó cho con tôi. Và anh đừng nói gì.’”
Cô đứng im.
“Vì sao ông ấy nhờ ông?”
“Vì ông ấy biết tôi là người duy nhất còn sống mà người ta không dám chặn.” Ông ta nói.
“Và ông làm.”
“Tôi làm.”
“Vì sao?”
Ông ta im rất lâu.
“Vì năm 2004, tôi nợ ông ấy mười một cái tên.” Ông ta nói. “Và tôi không trả được. Nhưng tôi trả được cái này.”
Ông ta đi.
Người mặc áo công an đi theo.
Cô đóng cửa, và cô đứng im ba phút, rồi cô mở cửa, và cô nhìn ra hành lang.
Cái hộp nhựa đặt trên cái bàn nhỏ cạnh cầu thang.
Cô cầm nó, và cô mở.
Bên trong có một cuốn băng.
Trên nhãn có một dòng chữ: “Số 4 – Cuốn thứ bốn mươi bảy”.
Cô đứng ở hành lang, và cô nhìn cuốn băng đó, và cô biết một chuyện.
Ông ta không tới để trả cô một món đồ.
Ông ta tới để xem mặt cô.
Và ông ta tới để cho cô biết rằng ông ta biết cô đang ở đâu.
Cô về nhà, và cô đặt cuốn băng lên bàn, và cô cầm điện thoại lên.
Rồi cô gọi một số.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Hứa Kiến Bang vừa tới nhà tôi.”
Bên kia im.
“Cô có mở cửa không?”
“Không.”
“Tốt.” Anh ta nói. “Cô có nhìn thấy tay ông ta không?”
“Có.”
“Có cái gì ở cổ tay trái?”
“Một cái ống.” Cô nói. “Kiểu chạy thận.”
“Vậy là ông ta sắp chết.” Anh ta nói. “Và người sắp chết thì hay làm liều.”
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Ông ta nói với tôi một câu.” Cô nói. “Ông ta nói: ‘Cha cô là người duy nhất trong cái thành phố này mà tôi nể. Vì ông ấy không tham.’”
“Ông ta nói thật.” Anh ta nói.
“Vậy tại sao ông ta giết ông ấy?”
“Vì không tham không có nghĩa là không nguy hiểm.” Anh ta nói. “Một người không tham thì không mua được.”
Cô ngồi xuống.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Tôi có cuốn băng thứ tư.” Cô nói. “Nó ghi về cuốn sổ thứ bốn mươi bảy.”
“Cô nghe chưa?”
“Chưa.”
“Vậy thì nghe đi.” Anh ta nói. “Và nghe xong thì gọi tôi.”
“Anh không muốn nghe cùng à?”
Anh ta im.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cha cô ghi bốn cuốn băng.” Anh ta nói. “Tôi biết, vì tôi là người mua cái máy cassette.”
“Và anh chưa nghe cuốn nào.”
“Tôi chưa nghe cuốn nào.” Anh ta nói. “Vì ông ấy ghi cho cô, không phải cho tôi.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa