Chương 17: Công An Thật
Chương 17: Công An Thật
Cô tới cái đồn công an ở đường Nguyễn Trãi lúc bảy giờ sáng, và cô ngồi ở cái ghế nhựa ngoài cửa hai tiếng.
“Cô tới việc gì?”
“Tôi tới tố giác.”
“Tố giác gì?”
“Tố giác một vụ giết người.” Cô nói. “Và một vụ đốt nhà làm mười một người chết.”
Người trực nhìn cô.
“Cô vào phòng số ba.”
Phòng số ba có một cái bàn, hai cái ghế, và một cái tủ hồ sơ.
Và có một người đàn bà khoảng ba mươi hai, tóc buộc, áo sơ mi xanh, và trên vai có hai ngôi sao.
“Tôi là Lê Thị Bích.” Chị ta nói. “Cô ngồi.”
Cô ngồi.
“Cô tên gì?”
“Nguyễn Minh Châu.”
Chị ta ngẩng lên.
“Cô là con ông Lê Trung.”
Cô đứng im.
“Chị biết cha tôi?”
Chị ta đặt bút xuống.
“Tôi biết tên ông ấy ba năm.” Chị ta nói. “Và tôi chưa từng gặp ông ấy.”
“Vì sao chị biết tên ông ấy?”
Chị ta mở cái tủ, và chị ta lấy ra một cái cặp hồ sơ, và chị ta đặt nó lên bàn.
Nó dày bằng một bàn tay.
“Cô mở đi.”
Cô mở.
Bên trong là những tờ giấy photo, và những cái ảnh, và những cái bảng kê.
“Cái này là gì?”
“Ba năm trước, tôi nhận một cái đơn tố giác nặc danh.” Chị ta nói. “Nó nói có một đường dây đưa người đi nước ngoài, hoạt động từ năm 2001 tới 2004, và có một cái xưởng ở Bình Chánh.”
“Và người tố giác là ai?”
“Không ai biết.” Chị ta nói. “Đơn đánh máy, không có chữ ký, gửi từ một cái bưu điện ở quận 5.”
Cô nhìn cái đơn.
“Chị điều tra ba năm.”
“Tôi điều tra ba năm.” Chị ta nói. “Và tôi tìm ra bốn chuyện.”
“Chuyện gì?”
Chị ta lật hồ sơ.
“Một: cái xưởng ở Bình Chánh bị cháy năm 2004, và hồ sơ vụ cháy đã mất.”
“Mất?”
“Mất.” Chị ta nói. “Không có trong lưu trữ. Không có trong sổ. Không có gì cả.”
“Hai?”
“Hai: có mười một người chết, và trên giấy tờ thì họ chết vì ‘tai nạn lao động’, và mỗi gia đình nhận được hai mươi triệu.”
“Ai trả?”
“Một cái công ty.” Chị ta nói. “Và cái công ty đó giải thể năm 2005.”
“Ba?”
“Ba: cái công ty đó có mười một người đứng tên, và mười một người đó đều là người của một cái tiệm vàng ở Hải Thượng Lãn Ông.”
Cô ngẩng lên.
“Số 11.”
Chị ta nhìn cô.
“Cô biết số 11.”
“Tôi mới biết.”
“Bốn?” Cô hỏi.
Chị ta im.
“Bốn là chuyện tôi không hiểu.” Chị ta nói. “Và nó là lý do tôi vẫn giữ cái hồ sơ này trong tủ ba năm.”
“Chuyện gì?”
Chị ta lấy ra một tờ giấy.
“Năm 2021, tôi tới cái xưởng đó.” Chị ta nói. “Nó bỏ trống. Nhưng ở cái sân, có một cái cây, và dưới cái cây có một cái bia nhỏ.”
“Bia gì?”
“Bia đá.” Chị ta nói. “Không có tên. Chỉ có một dòng: ‘Mười một người ở đây.’”
Cô đứng im.
“Và cái bia đó,” chị ta nói, “được dựng năm 2004.”
“Ai dựng?”
“Tôi không biết.” Chị ta nói. “Nhưng tôi biết nó không phải do gia đình dựng. Vì không gia đình nào biết cái xưởng đó ở đâu.”
Cô ngồi im rất lâu.
“Chị Bích.”
“Dạ.”
“Cái bia đó là của cha tôi.”
Chị ta nhìn cô.
“Sao cô biết?”
“Vì ông ấy tới mười một đám tang.” Cô nói. “Và vì ông ấy ghi mười một cái tên vào một cuốn sổ bằng bút đỏ.”
Chị ta ngồi xuống.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cô tới đây để tố giác ai?”
“Tôi tới để tố giác Hứa Kiến Bang.”
Chị ta không đổi mặt.
“Cô có bằng chứng không?”
“Tôi có bốn mươi bảy cuốn sổ.”
Chị ta đứng dậy, và chị ta đi tới cửa, và chị ta đóng cửa lại.
“Cô nói lại.”
“Tôi có bốn mươi bảy cuốn sổ.” Cô nói. “Bốn mươi sáu cuốn là sổ nợ, và trong đó có tên của bốn mươi sáu người, và mỗi tên có một người thứ hai, và người thứ hai là người nhận tiền.”
“Tiền gì?”
“Tiền để không ai hỏi.” Cô nói.
Chị ta ngồi xuống.
“Cô có biết cô đang nói gì không?”
“Tôi biết.”
“Cô biết những cuốn sổ đó có thể làm cô chết không?”
“Tôi biết.” Cô nói. “Và tôi biết một chuyện nữa: nếu tôi không đưa chúng cho ai, thì tôi cũng chết. Vì tôi là người duy nhất biết chúng ở đâu.”
Chị ta nhìn cô rất lâu.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi sẽ nói cô nghe một chuyện.” Chị ta nói. “Và sau đó cô quyết định.”
“Chị nói.”
“Ba năm nay, tôi gửi bốn cái báo cáo.” Chị ta nói. “Bốn cái. Và cả bốn đều bị trả lại với một câu: ‘Không đủ căn cứ.’”
“Ai trả lại?”
“Cấp trên của tôi.”
“Ai là cấp trên của chị?”
Chị ta im.
“Cô Châu.” Chị ta nói. “Nếu tôi nói tên ông ấy, thì cô sẽ hiểu vì sao tôi giữ cái hồ sơ này trong tủ, và không để nó trong máy tính.”
“Vì sao chị giữ nó?”
“Vì tôi muốn một ngày nào đó, có người tới đây với một cái hồ sơ khác.” Chị ta nói. “Và ngày đó là hôm nay.”
Cô mở túi, và cô lấy ra cuốn sổ bìa đen, và cô đặt nó lên bàn.
“Đây là cuốn thứ nhất.” Cô nói. “Nó không phải sổ nợ. Nó là danh sách mười một người chết, và một cái tên chưa chết.”
Chị ta mở.
Chị ta đọc.
Rồi chị ta ngẩng lên, và mắt chị ta đỏ.
“Cái tên thứ mười hai là cô.”
“Dạ.”
“Và nó chưa bị gạch.”
“Dạ.”
Chị ta đóng cuốn sổ.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi nhận cái hồ sơ này.” Chị ta nói. “Nhưng tôi nói cô nghe trước: tôi không bảo vệ được cô.”
“Tôi biết.”
“Cô biết mà cô vẫn đưa?”
“Tôi vẫn đưa.” Cô nói. “Vì tôi không muốn cái tên thứ mười hai bị gạch bởi một người khác.”
Chị ta gật, và chị ta lấy ra một tờ giấy, và chị ta viết một số điện thoại.
“Cái này là số của tôi.” Chị ta nói. “Không phải số công vụ. Số riêng.”
“Dạ.”
“Và cái này,” chị ta nói, và chị ta đưa cô một cái điện thoại nhỏ, “là cái máy thứ hai. Cô giữ nó. Nó chỉ có một số trong đó.”
Cô cầm cái máy.
“Chị Bích.”
“Dạ.”
“Vì sao chị giúp tôi?”
Chị ta im rất lâu.
“Vì năm 2004, tôi có một người cậu.” Chị ta nói. “Ông ấy đi Đài Loan năm 2003, và ông ấy không về.”
Cô đứng im.
“Tên ông ấy là gì?”
“Lê Văn Thành.” Chị ta nói. “Và ông ấy ở trong cái xưởng đó bốn mươi ngày.”
Cô mở cuốn sổ, và cô đọc.
Cái tên thứ chín là: “LÊ VĂN THÀNH – 2004”.
Cô tới cái đồn công an ở đường Nguyễn Trãi lúc bảy giờ sáng, và cô ngồi ở cái ghế nhựa ngoài cửa hai tiếng.
“Cô tới việc gì?”
“Tôi tới tố giác.”
“Tố giác gì?”
“Tố giác một vụ giết người.” Cô nói. “Và một vụ đốt nhà làm mười một người chết.”
Người trực nhìn cô.
“Cô vào phòng số ba.”
Phòng số ba có một cái bàn, hai cái ghế, và một cái tủ hồ sơ.
Và có một người đàn bà khoảng ba mươi hai, tóc buộc, áo sơ mi xanh, và trên vai có hai ngôi sao.
“Tôi là Lê Thị Bích.” Chị ta nói. “Cô ngồi.”
Cô ngồi.
“Cô tên gì?”
“Nguyễn Minh Châu.”
Chị ta ngẩng lên.
“Cô là con ông Lê Trung.”
Cô đứng im.
“Chị biết cha tôi?”
Chị ta đặt bút xuống.
“Tôi biết tên ông ấy ba năm.” Chị ta nói. “Và tôi chưa từng gặp ông ấy.”
“Vì sao chị biết tên ông ấy?”
Chị ta mở cái tủ, và chị ta lấy ra một cái cặp hồ sơ, và chị ta đặt nó lên bàn.
Nó dày bằng một bàn tay.
“Cô mở đi.”
Cô mở.
Bên trong là những tờ giấy photo, và những cái ảnh, và những cái bảng kê.
“Cái này là gì?”
“Ba năm trước, tôi nhận một cái đơn tố giác nặc danh.” Chị ta nói. “Nó nói có một đường dây đưa người đi nước ngoài, hoạt động từ năm 2001 tới 2004, và có một cái xưởng ở Bình Chánh.”
“Và người tố giác là ai?”
“Không ai biết.” Chị ta nói. “Đơn đánh máy, không có chữ ký, gửi từ một cái bưu điện ở quận 5.”
Cô nhìn cái đơn.
“Chị điều tra ba năm.”
“Tôi điều tra ba năm.” Chị ta nói. “Và tôi tìm ra bốn chuyện.”
“Chuyện gì?”
Chị ta lật hồ sơ.
“Một: cái xưởng ở Bình Chánh bị cháy năm 2004, và hồ sơ vụ cháy đã mất.”
“Mất?”
“Mất.” Chị ta nói. “Không có trong lưu trữ. Không có trong sổ. Không có gì cả.”
“Hai?”
“Hai: có mười một người chết, và trên giấy tờ thì họ chết vì ‘tai nạn lao động’, và mỗi gia đình nhận được hai mươi triệu.”
“Ai trả?”
“Một cái công ty.” Chị ta nói. “Và cái công ty đó giải thể năm 2005.”
“Ba?”
“Ba: cái công ty đó có mười một người đứng tên, và mười một người đó đều là người của một cái tiệm vàng ở Hải Thượng Lãn Ông.”
Cô ngẩng lên.
“Số 11.”
Chị ta nhìn cô.
“Cô biết số 11.”
“Tôi mới biết.”
“Bốn?” Cô hỏi.
Chị ta im.
“Bốn là chuyện tôi không hiểu.” Chị ta nói. “Và nó là lý do tôi vẫn giữ cái hồ sơ này trong tủ ba năm.”
“Chuyện gì?”
Chị ta lấy ra một tờ giấy.
“Năm 2021, tôi tới cái xưởng đó.” Chị ta nói. “Nó bỏ trống. Nhưng ở cái sân, có một cái cây, và dưới cái cây có một cái bia nhỏ.”
“Bia gì?”
“Bia đá.” Chị ta nói. “Không có tên. Chỉ có một dòng: ‘Mười một người ở đây.’”
Cô đứng im.
“Và cái bia đó,” chị ta nói, “được dựng năm 2004.”
“Ai dựng?”
“Tôi không biết.” Chị ta nói. “Nhưng tôi biết nó không phải do gia đình dựng. Vì không gia đình nào biết cái xưởng đó ở đâu.”
Cô ngồi im rất lâu.
“Chị Bích.”
“Dạ.”
“Cái bia đó là của cha tôi.”
Chị ta nhìn cô.
“Sao cô biết?”
“Vì ông ấy tới mười một đám tang.” Cô nói. “Và vì ông ấy ghi mười một cái tên vào một cuốn sổ bằng bút đỏ.”
Chị ta ngồi xuống.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cô tới đây để tố giác ai?”
“Tôi tới để tố giác Hứa Kiến Bang.”
Chị ta không đổi mặt.
“Cô có bằng chứng không?”
“Tôi có bốn mươi bảy cuốn sổ.”
Chị ta đứng dậy, và chị ta đi tới cửa, và chị ta đóng cửa lại.
“Cô nói lại.”
“Tôi có bốn mươi bảy cuốn sổ.” Cô nói. “Bốn mươi sáu cuốn là sổ nợ, và trong đó có tên của bốn mươi sáu người, và mỗi tên có một người thứ hai, và người thứ hai là người nhận tiền.”
“Tiền gì?”
“Tiền để không ai hỏi.” Cô nói.
Chị ta ngồi xuống.
“Cô có biết cô đang nói gì không?”
“Tôi biết.”
“Cô biết những cuốn sổ đó có thể làm cô chết không?”
“Tôi biết.” Cô nói. “Và tôi biết một chuyện nữa: nếu tôi không đưa chúng cho ai, thì tôi cũng chết. Vì tôi là người duy nhất biết chúng ở đâu.”
Chị ta nhìn cô rất lâu.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi sẽ nói cô nghe một chuyện.” Chị ta nói. “Và sau đó cô quyết định.”
“Chị nói.”
“Ba năm nay, tôi gửi bốn cái báo cáo.” Chị ta nói. “Bốn cái. Và cả bốn đều bị trả lại với một câu: ‘Không đủ căn cứ.’”
“Ai trả lại?”
“Cấp trên của tôi.”
“Ai là cấp trên của chị?”
Chị ta im.
“Cô Châu.” Chị ta nói. “Nếu tôi nói tên ông ấy, thì cô sẽ hiểu vì sao tôi giữ cái hồ sơ này trong tủ, và không để nó trong máy tính.”
“Vì sao chị giữ nó?”
“Vì tôi muốn một ngày nào đó, có người tới đây với một cái hồ sơ khác.” Chị ta nói. “Và ngày đó là hôm nay.”
Cô mở túi, và cô lấy ra cuốn sổ bìa đen, và cô đặt nó lên bàn.
“Đây là cuốn thứ nhất.” Cô nói. “Nó không phải sổ nợ. Nó là danh sách mười một người chết, và một cái tên chưa chết.”
Chị ta mở.
Chị ta đọc.
Rồi chị ta ngẩng lên, và mắt chị ta đỏ.
“Cái tên thứ mười hai là cô.”
“Dạ.”
“Và nó chưa bị gạch.”
“Dạ.”
Chị ta đóng cuốn sổ.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi nhận cái hồ sơ này.” Chị ta nói. “Nhưng tôi nói cô nghe trước: tôi không bảo vệ được cô.”
“Tôi biết.”
“Cô biết mà cô vẫn đưa?”
“Tôi vẫn đưa.” Cô nói. “Vì tôi không muốn cái tên thứ mười hai bị gạch bởi một người khác.”
Chị ta gật, và chị ta lấy ra một tờ giấy, và chị ta viết một số điện thoại.
“Cái này là số của tôi.” Chị ta nói. “Không phải số công vụ. Số riêng.”
“Dạ.”
“Và cái này,” chị ta nói, và chị ta đưa cô một cái điện thoại nhỏ, “là cái máy thứ hai. Cô giữ nó. Nó chỉ có một số trong đó.”
Cô cầm cái máy.
“Chị Bích.”
“Dạ.”
“Vì sao chị giúp tôi?”
Chị ta im rất lâu.
“Vì năm 2004, tôi có một người cậu.” Chị ta nói. “Ông ấy đi Đài Loan năm 2003, và ông ấy không về.”
Cô đứng im.
“Tên ông ấy là gì?”
“Lê Văn Thành.” Chị ta nói. “Và ông ấy ở trong cái xưởng đó bốn mươi ngày.”
Cô mở cuốn sổ, và cô đọc.
Cái tên thứ chín là: “LÊ VĂN THÀNH – 2004”.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa