Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Điện thoại reo lúc bốn giờ sáng.
Cô không ngủ. Cô đang ngồi ở cái bàn, và trước mặt cô là cuốn băng thứ tư, và cô chưa dám bấm nút.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi là Bích.”
“Chị Bích.”
“Cô ngồi xuống đi.”
“Tôi đang ngồi.”
Chị ta im ba giây.
“Chú cô chết rồi.”
Cô đứng dậy.
“Khi nào?”
“Khoảng mười một giờ đêm.” Chị ta nói. “Người ta tìm thấy ông ấy trong nhà, ở cái phòng sau. Ông ấy treo cổ.”
Cô đứng im.
“Chị nói lại.”
“Ông ấy treo cổ.” Chị ta nói. “Trong nhà, bằng một sợi dây điện.”
Cô ngồi xuống.
“Ai tìm thấy?”
“Vợ ông ấy.” Chị ta nói. “Bà ấy đi chợ về thì thấy cửa khóa trong. Bà ấy gọi hàng xóm phá cửa.”
“Có thư không?”
“Có.” Chị ta nói. “Một tờ giấy. Nó ghi: ‘Tôi không chịu được nữa. Tôi xin lỗi.’”
Cô cầm cái ly nước, và cô uống, và tay cô run tới mức nước đổ ra bàn.
“Chị Bích.”
“Dạ.”
“Chú tôi không tự tử.”
Chị ta im.
“Cô có bằng chứng không?”
“Không.” Cô nói. “Nhưng tôi có một cuộc nói chuyện. Sáng hôm kia, ông ấy nói với tôi một cái tên, và ông ấy nói: ‘Nếu ông ta biết, thì chú không chết một mình.’”
“Ông ấy nói cái tên gì?”
“Hứa Kiến Bang.”
Chị ta thở ra.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi sẽ tới đó.” Chị ta nói. “Nhưng tôi nói cô nghe trước: khám nghiệm sẽ ghi là tự tử. Vì không có dấu vết, và vì có thư.”
“Và vì cấp trên của chị sẽ muốn vậy.”
Chị ta im.
“Cô đừng tới đó.” Chị ta nói. “Cô đừng tới đám tang.”
“Tôi phải tới.”
“Cô Châu.”
“Chị Bích.” Cô nói. “Ông ấy là người duy nhất trong cái gia đình này còn nói chuyện với tôi.”
Đám tang ở Bình Hưng Hòa, và nó có bốn cái bàn, và nó có khoảng ba mươi người.
Cô tới lúc hai giờ chiều, và cô mặc áo trắng, và cô đứng ở phía sau.
Vợ chú cô ngồi ở cái ghế đầu, và bà ta không khóc, và bà ta nhìn vào một điểm ở giữa không khí.
Cô đi tới, và cô thắp nhang, và cô cắm vào cái bát.
Rồi cô ngồi xuống cạnh bà ta.
“Dì.”
“Châu.”
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Tối hôm đó dì đi chợ lúc mấy giờ?”
Bà ta nhìn cô.
“Bảy giờ.”
“Dì đi chợ nào?”
“Cái chợ ở đầu hẻm.”
“Dì đi một mình?”
“Dì đi với con Hoa.” Bà ta nói. “Con của chị Ba.”
“Dì đi bao lâu?”
“Một tiếng.” Bà ta nói. “Dì về thì cửa khóa trong.”
“Cửa trước hay cửa sau?”
Bà ta im.
“Cửa sau.” Bà ta nói. “Cửa trước thì mở.”
Cô nhìn bà ta.
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Cửa trước mở, mà dì phải phá cửa sau.”
Bà ta không trả lời.
“Dì ơi.”
“Dì không biết.” Bà ta nói. “Dì chỉ biết là dì gọi, và không ai trả lời, và dì chạy ra sau, và cái cửa sau khóa.”
“Và cái chìa khóa cửa sau để ở đâu?”
“Trong bếp.” Bà ta nói. “Trên cái móc.”
“Và cái móc đó có treo cái gì khác không?”
Bà ta nhìn cô.
“Sao con hỏi vậy?”
“Vì nếu có người vào bằng cửa trước,” cô nói, “thì người đó đã lấy chìa khóa cửa sau, và khóa nó lại từ ngoài, và treo lại cái chìa khóa lên móc.”
Bà ta nhìn cô rất lâu.
Rồi bà ta đứng dậy, và bà ta đi vào trong, và bà ta trở ra với một cái túi nilon.
“Cái này.” Bà ta nói. “Cái này dì tìm thấy ở sân sau.”
Cô mở túi.
Bên trong là một cái găng tay y tế.
Nó màu trắng, và nó đã bẩn, và ở cổ tay nó có một vết rách nhỏ.
Cô nhìn cái găng tay đó rất lâu.
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Dì đã đưa cái này cho công an chưa?”
“Chưa.” Bà ta nói. “Vì công an tới lúc bảy giờ sáng, và họ nói chú con tự tử, và họ hỏi dì ba câu, và họ đi.”
Cô gói cái găng tay lại.
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Con xin dì một chuyện.”
“Con nói.”
“Dì đừng nói với ai là dì đưa con cái này.”
Bà ta gật.
“Châu.”
“Dạ.”
“Chú con nói với dì một câu, tối hôm trước.” Bà ta nói. “Ông ấy nói: ‘Nếu có chuyện gì với tôi, thì bà đưa cái hộp trong tủ cho con Châu.’”
“Cái hộp nào?”
“Cái hộp sắt.” Bà ta nói. “Nó ở trong tủ quần áo, dưới đáy.”
Cô đứng dậy.
Họ vào trong nhà, và bà ta mở cái tủ, và bà ta lấy ra một cái hộp sắt nhỏ, và bà ta đưa nó cho cô.
Cô mở.
Trong hộp có ba thứ.
Một cái ổ khóa. Một cái chìa khóa nhỏ. Và một tờ giấy.
Tờ giấy có một dòng chữ, viết run:
“CÁI Ổ KHÓA NÀY LÀ CỦA CỬA SẮT Ở TẦNG HẦM SỐ 9. CHÌA NÀY MỞ NÓ. Ở TRONG CÓ MỘT CÁI TỦ. TRONG TỦ CÓ CUỐN SỔ THỨ BỐN MƯƠI BẢY.”
Cô đọc ba lần.
Rồi cô đọc dòng cuối, và nó viết bằng một nét chữ khác, nhỏ hơn, như người ta viết vội:
“CON ĐỪNG TIN BÀ TƯ.”
Điện thoại reo lúc bốn giờ sáng.
Cô không ngủ. Cô đang ngồi ở cái bàn, và trước mặt cô là cuốn băng thứ tư, và cô chưa dám bấm nút.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi là Bích.”
“Chị Bích.”
“Cô ngồi xuống đi.”
“Tôi đang ngồi.”
Chị ta im ba giây.
“Chú cô chết rồi.”
Cô đứng dậy.
“Khi nào?”
“Khoảng mười một giờ đêm.” Chị ta nói. “Người ta tìm thấy ông ấy trong nhà, ở cái phòng sau. Ông ấy treo cổ.”
Cô đứng im.
“Chị nói lại.”
“Ông ấy treo cổ.” Chị ta nói. “Trong nhà, bằng một sợi dây điện.”
Cô ngồi xuống.
“Ai tìm thấy?”
“Vợ ông ấy.” Chị ta nói. “Bà ấy đi chợ về thì thấy cửa khóa trong. Bà ấy gọi hàng xóm phá cửa.”
“Có thư không?”
“Có.” Chị ta nói. “Một tờ giấy. Nó ghi: ‘Tôi không chịu được nữa. Tôi xin lỗi.’”
Cô cầm cái ly nước, và cô uống, và tay cô run tới mức nước đổ ra bàn.
“Chị Bích.”
“Dạ.”
“Chú tôi không tự tử.”
Chị ta im.
“Cô có bằng chứng không?”
“Không.” Cô nói. “Nhưng tôi có một cuộc nói chuyện. Sáng hôm kia, ông ấy nói với tôi một cái tên, và ông ấy nói: ‘Nếu ông ta biết, thì chú không chết một mình.’”
“Ông ấy nói cái tên gì?”
“Hứa Kiến Bang.”
Chị ta thở ra.
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Tôi sẽ tới đó.” Chị ta nói. “Nhưng tôi nói cô nghe trước: khám nghiệm sẽ ghi là tự tử. Vì không có dấu vết, và vì có thư.”
“Và vì cấp trên của chị sẽ muốn vậy.”
Chị ta im.
“Cô đừng tới đó.” Chị ta nói. “Cô đừng tới đám tang.”
“Tôi phải tới.”
“Cô Châu.”
“Chị Bích.” Cô nói. “Ông ấy là người duy nhất trong cái gia đình này còn nói chuyện với tôi.”
Đám tang ở Bình Hưng Hòa, và nó có bốn cái bàn, và nó có khoảng ba mươi người.
Cô tới lúc hai giờ chiều, và cô mặc áo trắng, và cô đứng ở phía sau.
Vợ chú cô ngồi ở cái ghế đầu, và bà ta không khóc, và bà ta nhìn vào một điểm ở giữa không khí.
Cô đi tới, và cô thắp nhang, và cô cắm vào cái bát.
Rồi cô ngồi xuống cạnh bà ta.
“Dì.”
“Châu.”
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Tối hôm đó dì đi chợ lúc mấy giờ?”
Bà ta nhìn cô.
“Bảy giờ.”
“Dì đi chợ nào?”
“Cái chợ ở đầu hẻm.”
“Dì đi một mình?”
“Dì đi với con Hoa.” Bà ta nói. “Con của chị Ba.”
“Dì đi bao lâu?”
“Một tiếng.” Bà ta nói. “Dì về thì cửa khóa trong.”
“Cửa trước hay cửa sau?”
Bà ta im.
“Cửa sau.” Bà ta nói. “Cửa trước thì mở.”
Cô nhìn bà ta.
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Cửa trước mở, mà dì phải phá cửa sau.”
Bà ta không trả lời.
“Dì ơi.”
“Dì không biết.” Bà ta nói. “Dì chỉ biết là dì gọi, và không ai trả lời, và dì chạy ra sau, và cái cửa sau khóa.”
“Và cái chìa khóa cửa sau để ở đâu?”
“Trong bếp.” Bà ta nói. “Trên cái móc.”
“Và cái móc đó có treo cái gì khác không?”
Bà ta nhìn cô.
“Sao con hỏi vậy?”
“Vì nếu có người vào bằng cửa trước,” cô nói, “thì người đó đã lấy chìa khóa cửa sau, và khóa nó lại từ ngoài, và treo lại cái chìa khóa lên móc.”
Bà ta nhìn cô rất lâu.
Rồi bà ta đứng dậy, và bà ta đi vào trong, và bà ta trở ra với một cái túi nilon.
“Cái này.” Bà ta nói. “Cái này dì tìm thấy ở sân sau.”
Cô mở túi.
Bên trong là một cái găng tay y tế.
Nó màu trắng, và nó đã bẩn, và ở cổ tay nó có một vết rách nhỏ.
Cô nhìn cái găng tay đó rất lâu.
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Dì đã đưa cái này cho công an chưa?”
“Chưa.” Bà ta nói. “Vì công an tới lúc bảy giờ sáng, và họ nói chú con tự tử, và họ hỏi dì ba câu, và họ đi.”
Cô gói cái găng tay lại.
“Dì ơi.”
“Dạ.”
“Con xin dì một chuyện.”
“Con nói.”
“Dì đừng nói với ai là dì đưa con cái này.”
Bà ta gật.
“Châu.”
“Dạ.”
“Chú con nói với dì một câu, tối hôm trước.” Bà ta nói. “Ông ấy nói: ‘Nếu có chuyện gì với tôi, thì bà đưa cái hộp trong tủ cho con Châu.’”
“Cái hộp nào?”
“Cái hộp sắt.” Bà ta nói. “Nó ở trong tủ quần áo, dưới đáy.”
Cô đứng dậy.
Họ vào trong nhà, và bà ta mở cái tủ, và bà ta lấy ra một cái hộp sắt nhỏ, và bà ta đưa nó cho cô.
Cô mở.
Trong hộp có ba thứ.
Một cái ổ khóa. Một cái chìa khóa nhỏ. Và một tờ giấy.
Tờ giấy có một dòng chữ, viết run:
“CÁI Ổ KHÓA NÀY LÀ CỦA CỬA SẮT Ở TẦNG HẦM SỐ 9. CHÌA NÀY MỞ NÓ. Ở TRONG CÓ MỘT CÁI TỦ. TRONG TỦ CÓ CUỐN SỔ THỨ BỐN MƯƠI BẢY.”
Cô đọc ba lần.
Rồi cô đọc dòng cuối, và nó viết bằng một nét chữ khác, nhỏ hơn, như người ta viết vội:
“CON ĐỪNG TIN BÀ TƯ.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa