Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Cô bấm nút lúc mười một giờ đêm, sau khi đã ngồi nhìn cuốn băng bốn mươi phút.
Có tiếng rè dài hơn ba cuốn kia.
Rồi có tiếng ho.
“Con ơi. Cuốn này cha ghi sau cùng, ngày mười chín tháng Chín năm 2020. Cha ghi lúc năm giờ sáng, và cha ghi vội, vì cha nghe có tiếng xe ngoài đường.”
Im.
“Cuốn này cha nói về cuốn sổ thứ bốn mươi bảy. Và cha nói một chuyện mà cha chưa nói với ai, kể cả bà Tư.”
Cô ngồi xuống sàn.
“Cuốn sổ đó không phải cha viết một mình.”
Im.
“Cha viết một mình hai năm. Từ 2005 tới 2007. Cha ghi mỗi lần Hứa Kiến Bang tới, mỗi người ông ta gặp, mỗi cái xe, mỗi cái tài khoản. Cha ghi trong một cuốn vở học sinh, và cha giấu nó trong cái ống nước ở tầng hầm.”
Im.
“Rồi năm 2007, mẹ con tìm thấy nó.”
Im.
“Bà ấy không hỏi cha. Bà ấy đọc. Bà ấy đọc hết trong một đêm. Và sáng hôm sau, bà ấy nói với cha một câu: ‘Anh ghi thiếu.’”
Cô cười, và cô không biết vì sao cô cười.
“Cha nói: ‘Thiếu cái gì?’ Bà ấy nói: ‘Thiếu ngày. Thiếu giờ. Thiếu người thứ ba.’”
Im.
“Mẹ con làm nghề may, nhưng bà ấy có một cái đầu khác. Bà ấy nhớ số. Bà ấy nhớ ngày. Bà ấy nhìn một cái hóa đơn và bà ấy biết nó giả.”
Im.
“Từ năm 2007, hai người viết cùng. Cha đi, cha nghe, cha ghi. Bà ấy đánh lại thành bảng. Bà ấy vẽ sơ đồ. Bà ấy nối những cái tên.”
Im.
“Mười hai năm.”
“Và đó là lý do bà ấy chết, con ạ.”
Cô đứng dậy.
“Không phải vì cha đưa bà ấy cuốn sổ năm 2019. Cha nói dối con ở cuốn băng số một. Cha nói dối vì cha không dám nói chuyện này.”
Im.
“Bà ấy chết vì năm 2015, bà ấy làm một chuyện mà cha không cho phép.”
“Bà ấy tới một cái văn phòng luật ở đường Pasteur, và bà ấy để lại một cái phong bì, và bà ấy dặn: ‘Nếu tôi chết, thì mở.’”
Im.
“Cái phong bì đó có một bản sao.”
Im rất lâu.
“Bản sao thứ hai của cuốn sổ thứ bốn mươi bảy.”
Cô ngồi xuống lại.
“Năm 2019, có người biết chuyện đó. Cha không biết ai. Cha chỉ biết là ba tháng sau khi bà ấy để cái phong bì đó, bà ấy chết.”
Im.
“Con ơi, cha nói con nghe một chuyện cuối. Và sau đó cha không ghi nữa.”
“Cha đã tìm cái văn phòng luật đó. Cha tìm bốn năm. Cha tìm được tên ông luật sư, và cha tới, và ông ta nói với cha một câu: ‘Tôi không giữ cái phong bì đó nữa. Tôi đã chuyển nó.’”
“Cha hỏi: ‘Chuyển cho ai?’”
Im.
“Ông ta nói: ‘Chuyển cho người mà bà ấy dặn.’”
Im.
“Và ông ta không nói tên.”
Băng dừng.
Cô ngồi trong bóng tối, và cô nghe tiếng cái máy tự tắt.
Rồi cô bấm lại, và cô nghe từ đầu tới cuối một lần nữa.
Rồi cô lấy điện thoại, và cô gọi.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Cha tôi không viết cuốn sổ một mình.”
Bên kia im.
“Mẹ cô viết cùng.”
“Anh biết à?”
“Tôi đoán.” Anh ta nói. “Vì năm 2010, tôi có lần vào tầng hầm, và tôi thấy một cái bảng vẽ trên giấy A3. Nó có những đường nối giữa các tên. Cha cô không vẽ được như vậy.”
“Mẹ tôi vẽ.”
“Ừ.”
Cô ngồi xuống.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Mẹ tôi để một bản sao ở một văn phòng luật trên đường Pasteur.”
Anh ta im rất lâu.
“Cô có biết văn phòng nào không?”
“Không.”
“Tôi sẽ tìm.” Anh ta nói. “Nhưng cô Châu, cô phải hiểu một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Nếu bản sao đó còn,” anh ta nói, “thì có một người thứ ba đã giữ nó mười một năm. Và người đó không đưa nó cho cô.”
“Vì sao?”
“Vì người đó đang chờ.” Anh ta nói. “Và người chờ thì không phải người tốt.”
Sáng hôm sau, cô tới số 9 lúc bảy giờ.
Bà Tư đang quét cái sân trước.
“Cô Châu.”
“Bà Tư.”
“Cô ngủ không?”
“Không.”
Bà ta dừng cái chổi.
“Cô có chuyện.”
“Dạ.”
“Vô trong đi.”
Họ ngồi ở cái bàn sau quầy, và bà ta rót trà, và cô không uống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Bà có biết mẹ tôi viết cuốn sổ đó cùng cha tôi không?”
Bà ta đặt ấm trà xuống.
“Tôi biết.”
“Sao bà biết?”
“Vì tôi quét cái phòng đó hai mươi năm.” Bà ta nói. “Và tôi thấy giấy vụn.”
Cô nhìn bà ta.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Cái tên Mỹ trên tường.”
Bà ta ngẩng lên.
“Sao cô hỏi?”
“Vì bà nói bà kéo một người tên Mỹ ra khỏi lửa.” Cô nói. “Và bà nói người đó sống tới 2016.”
“Tôi nói.”
“Và ngày hôm qua, tôi đọc một cái tên ở chỗ cao nhất trên tường.” Cô nói. “Nó ghi: ‘MỸ – 17’. Và bên dưới là bốn mươi mốt vạch.”
Bà ta im.
“Bốn mươi mốt vạch,” cô nói, “là bốn mươi mốt ngày. Và cái xưởng đó mở cửa từ tháng Ba tới tháng Tư.”
Bà ta vẫn im.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Mỹ là ai?”
Bà ta cầm cái ly trà, và bà ta cầm nó bằng hai tay, và bà ta nhìn nó rất lâu.
Rồi bà ta nói một câu rất nhỏ.
“Nó là con gái tôi.”
Cô bấm nút lúc mười một giờ đêm, sau khi đã ngồi nhìn cuốn băng bốn mươi phút.
Có tiếng rè dài hơn ba cuốn kia.
Rồi có tiếng ho.
“Con ơi. Cuốn này cha ghi sau cùng, ngày mười chín tháng Chín năm 2020. Cha ghi lúc năm giờ sáng, và cha ghi vội, vì cha nghe có tiếng xe ngoài đường.”
Im.
“Cuốn này cha nói về cuốn sổ thứ bốn mươi bảy. Và cha nói một chuyện mà cha chưa nói với ai, kể cả bà Tư.”
Cô ngồi xuống sàn.
“Cuốn sổ đó không phải cha viết một mình.”
Im.
“Cha viết một mình hai năm. Từ 2005 tới 2007. Cha ghi mỗi lần Hứa Kiến Bang tới, mỗi người ông ta gặp, mỗi cái xe, mỗi cái tài khoản. Cha ghi trong một cuốn vở học sinh, và cha giấu nó trong cái ống nước ở tầng hầm.”
Im.
“Rồi năm 2007, mẹ con tìm thấy nó.”
Im.
“Bà ấy không hỏi cha. Bà ấy đọc. Bà ấy đọc hết trong một đêm. Và sáng hôm sau, bà ấy nói với cha một câu: ‘Anh ghi thiếu.’”
Cô cười, và cô không biết vì sao cô cười.
“Cha nói: ‘Thiếu cái gì?’ Bà ấy nói: ‘Thiếu ngày. Thiếu giờ. Thiếu người thứ ba.’”
Im.
“Mẹ con làm nghề may, nhưng bà ấy có một cái đầu khác. Bà ấy nhớ số. Bà ấy nhớ ngày. Bà ấy nhìn một cái hóa đơn và bà ấy biết nó giả.”
Im.
“Từ năm 2007, hai người viết cùng. Cha đi, cha nghe, cha ghi. Bà ấy đánh lại thành bảng. Bà ấy vẽ sơ đồ. Bà ấy nối những cái tên.”
Im.
“Mười hai năm.”
“Và đó là lý do bà ấy chết, con ạ.”
Cô đứng dậy.
“Không phải vì cha đưa bà ấy cuốn sổ năm 2019. Cha nói dối con ở cuốn băng số một. Cha nói dối vì cha không dám nói chuyện này.”
Im.
“Bà ấy chết vì năm 2015, bà ấy làm một chuyện mà cha không cho phép.”
“Bà ấy tới một cái văn phòng luật ở đường Pasteur, và bà ấy để lại một cái phong bì, và bà ấy dặn: ‘Nếu tôi chết, thì mở.’”
Im.
“Cái phong bì đó có một bản sao.”
Im rất lâu.
“Bản sao thứ hai của cuốn sổ thứ bốn mươi bảy.”
Cô ngồi xuống lại.
“Năm 2019, có người biết chuyện đó. Cha không biết ai. Cha chỉ biết là ba tháng sau khi bà ấy để cái phong bì đó, bà ấy chết.”
Im.
“Con ơi, cha nói con nghe một chuyện cuối. Và sau đó cha không ghi nữa.”
“Cha đã tìm cái văn phòng luật đó. Cha tìm bốn năm. Cha tìm được tên ông luật sư, và cha tới, và ông ta nói với cha một câu: ‘Tôi không giữ cái phong bì đó nữa. Tôi đã chuyển nó.’”
“Cha hỏi: ‘Chuyển cho ai?’”
Im.
“Ông ta nói: ‘Chuyển cho người mà bà ấy dặn.’”
Im.
“Và ông ta không nói tên.”
Băng dừng.
Cô ngồi trong bóng tối, và cô nghe tiếng cái máy tự tắt.
Rồi cô bấm lại, và cô nghe từ đầu tới cuối một lần nữa.
Rồi cô lấy điện thoại, và cô gọi.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Cha tôi không viết cuốn sổ một mình.”
Bên kia im.
“Mẹ cô viết cùng.”
“Anh biết à?”
“Tôi đoán.” Anh ta nói. “Vì năm 2010, tôi có lần vào tầng hầm, và tôi thấy một cái bảng vẽ trên giấy A3. Nó có những đường nối giữa các tên. Cha cô không vẽ được như vậy.”
“Mẹ tôi vẽ.”
“Ừ.”
Cô ngồi xuống.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Mẹ tôi để một bản sao ở một văn phòng luật trên đường Pasteur.”
Anh ta im rất lâu.
“Cô có biết văn phòng nào không?”
“Không.”
“Tôi sẽ tìm.” Anh ta nói. “Nhưng cô Châu, cô phải hiểu một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Nếu bản sao đó còn,” anh ta nói, “thì có một người thứ ba đã giữ nó mười một năm. Và người đó không đưa nó cho cô.”
“Vì sao?”
“Vì người đó đang chờ.” Anh ta nói. “Và người chờ thì không phải người tốt.”
Sáng hôm sau, cô tới số 9 lúc bảy giờ.
Bà Tư đang quét cái sân trước.
“Cô Châu.”
“Bà Tư.”
“Cô ngủ không?”
“Không.”
Bà ta dừng cái chổi.
“Cô có chuyện.”
“Dạ.”
“Vô trong đi.”
Họ ngồi ở cái bàn sau quầy, và bà ta rót trà, và cô không uống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Bà có biết mẹ tôi viết cuốn sổ đó cùng cha tôi không?”
Bà ta đặt ấm trà xuống.
“Tôi biết.”
“Sao bà biết?”
“Vì tôi quét cái phòng đó hai mươi năm.” Bà ta nói. “Và tôi thấy giấy vụn.”
Cô nhìn bà ta.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Cái tên Mỹ trên tường.”
Bà ta ngẩng lên.
“Sao cô hỏi?”
“Vì bà nói bà kéo một người tên Mỹ ra khỏi lửa.” Cô nói. “Và bà nói người đó sống tới 2016.”
“Tôi nói.”
“Và ngày hôm qua, tôi đọc một cái tên ở chỗ cao nhất trên tường.” Cô nói. “Nó ghi: ‘MỸ – 17’. Và bên dưới là bốn mươi mốt vạch.”
Bà ta im.
“Bốn mươi mốt vạch,” cô nói, “là bốn mươi mốt ngày. Và cái xưởng đó mở cửa từ tháng Ba tới tháng Tư.”
Bà ta vẫn im.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Mỹ là ai?”
Bà ta cầm cái ly trà, và bà ta cầm nó bằng hai tay, và bà ta nhìn nó rất lâu.
Rồi bà ta nói một câu rất nhỏ.
“Nó là con gái tôi.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa