Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 22: Người Mở Cửa
Bà Tư kể trong ba tiếng, và bà ta kể như người ta đọc một tờ giấy đã thuộc.
“Tôi tên là Trần Thị Lệ.” Bà ta nói. “Tôi sinh năm 1955, ở Bến Tre.”
“Bà Tư.”
“Cô cứ gọi tôi là bà Tư.” Bà ta nói. “Tôi quen rồi.”
Bà ta rót trà, và bà ta không uống.
“Tôi có một đứa con gái. Nó tên là Mỹ. Nó sinh năm 1986.”
Cô tính trong đầu.
“Năm 2004, nó mười tám tuổi.”
“Mười bảy.” Bà ta nói. “Nó sinh tháng Chín. Cái Tết năm đó nó còn mười bảy.”
“Và nó ở trong cái xưởng đó.”
“Nó ở đó bốn mươi mốt ngày.” Bà ta nói.
“Vì sao?”
Bà ta nhìn cô.
“Vì nó đi theo thằng bồ.” Bà ta nói. “Nó nói nó đi làm ở Đài Loan, ba năm, rồi nó về, rồi nó cưới. Tôi không cho. Nó đi.”
“Và nó bị bán.”
“Nó bị bán.” Bà ta nói. “Và tôi biết nó bị bán, vì tháng thứ hai nó gọi về. Nó nói: ‘Mẹ ơi, con ở Bình Chánh, mẹ tới cứu con.’”
Cô đặt ly trà xuống.
“Bà tới.”
“Tôi tới.” Bà ta nói. “Tôi đi xe đò, và tôi tới cái xưởng đó, và tôi gặp một người đàn ông ở cổng.”
“Ai?”
“Ông ta không nói tên.” Bà ta nói. “Ông ta nói: ‘Bà muốn gặp con gái bà thì bà phải làm một việc.’”
“Việc gì?”
“Ông ta nói: ‘Bà ở lại đây, bà nấu ăn cho hai trăm người, và bà đừng nói gì với ai. Rồi tới lúc, tôi thả nó.’”
Cô nhìn bà ta.
“Và bà ở lại.”
“Tôi ở lại.” Bà ta nói. “Tôi nấu ăn bốn mươi mốt ngày.”
“Bà có gặp con gái bà không?”
“Có.” Bà ta nói. “Nó ở tầng hai. Tôi lên đó mỗi ngày, và tôi đưa cơm, và tôi không được nói chuyện với nó.”
“Vì sao?”
“Vì họ nói: ‘Bà nói chuyện thì tôi không thả nó.’”
Bà ta cầm cái ly.
“Rồi ngày mười bảy tháng Ba, ông Trung tới.”
“Và ông ấy thả người.”
“Ông ấy thả một trăm tám mươi chín người.” Bà ta nói. “Và mười một người ở lại. Và con gái tôi ở trong mười một người đó.”
Cô đứng dậy.
“Vì sao?”
“Vì nó không có nhà.” Bà ta nói. “Vì tôi ở Bến Tre, và tôi có một cái nhà, nhưng cái nhà đó đứng tên anh tôi, và anh tôi không cho nó về.”
Cô ngồi xuống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Đêm mười tháng Tư.”
Bà ta đặt cái ly xuống rất chậm.
“Có một người tới cổng lúc mười một giờ đêm.” Bà ta nói. “Và người đó gõ ba tiếng.”
“Ai?”
“Người đàn ông ở cổng.” Bà ta nói. “Người đã nói với tôi cái điều kiện.”
“Ông ta nói gì?”
“Ông ta nói: ‘Bà mở cửa cho tôi.’”
Cô nhìn bà ta.
“Và ông ta nói thêm một câu.” Bà ta nói.
“Câu gì?”
Bà ta ngẩng lên, và mắt bà ta đỏ.
“Ông ta nói: ‘Bà mở cửa, rồi bà đi ra ngoài, rồi bà đứng ở cái cây. Năm phút sau, con gái bà sẽ ra.’”
Cô đứng im rất lâu.
“Và bà tin.”
“Tôi tin.” Bà ta nói.
“Bà mở cửa.”
“Tôi mở cửa, và tôi đi ra, và tôi đứng ở cái cây.” Bà ta nói. “Và tôi đứng đó bốn mươi phút.”
“Rồi sao?”
“Rồi tôi thấy lửa.”
Bà ta nói câu đó rất bình thường, và cái bình thường đó làm cô lạnh hơn bất cứ cái gì.
“Và con gái bà?”
“Nó không ra.” Bà ta nói. “Nó ở tầng hai. Và cầu thang tầng hai bằng gỗ.”
Cô ngồi im.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Bà nói với tôi hôm trước là bà kéo được hai người ra.”
“Tôi nói dối.” Bà ta nói. “Tôi không kéo được ai. Tôi đứng ở cái cây tới khi lửa cháy hết.”
“Vậy hai cái tên đó?”
“Tôi đọc trong cuốn sổ của ông Trung.” Bà ta nói. “Và tôi chọn hai cái tên, và tôi nói đó là hai người tôi kéo ra, vì tôi không muốn cô nghĩ tôi là người đứng nhìn.”
Cô đứng dậy, và cô đi tới cửa sổ, và cô nhìn ra cái sân.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Cha tôi có biết bà mở cửa không?”
“Ông ấy biết.” Bà ta nói. “Ông ấy biết sau ba tháng.”
“Ai nói?”
“Tôi nói.” Bà ta nói. “Tôi tới số 9, và tôi quỳ ở cái sân sau, và tôi nói: ‘Tôi mở cửa. Ông giết tôi đi.’”
Cô quay lại.
“Và ông ấy nói gì?”
Bà ta nhìn cô.
“Ông ấy nói: ‘Bà đứng lên.’”
“Rồi sao?”
“Rồi ông ấy nói: ‘Từ hôm nay bà ở đây. Bà giữ nhà. Và bà không được nói chuyện này với ai, kể cả con tôi.’”
“Vì sao ông ấy giữ bà?”
Bà ta im rất lâu.
“Vì tôi là nhân chứng duy nhất.” Bà ta nói. “Và vì ông ấy biết, nếu tôi ra ngoài, thì tôi sẽ chết trong một tuần.”
Cô ngồi xuống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Người đàn ông đó.”
“Dạ.”
“Bà có nhận ra ông ta không?”
Bà ta đứng dậy, và bà ta đi tới cái tủ, và bà ta mở cái ngăn dưới, và bà ta lấy ra cái hộp bánh.
“Cái ảnh này tôi chụp năm 2023.” Bà ta nói. “Tôi chụp người đàn ông có cái đồng hồ vàng.”
“Dạ.”
“Nhưng tôi nói dối cô một chuyện.” Bà ta nói. “Tôi không chụp ông ta. Tôi chụp cái xe của ông ta.”
Cô nhìn cái ảnh.
“Và trong cái xe đó,” bà ta nói, “có một người ngồi ở ghế trước.”
Cô soi cái ảnh.
Nó mờ, và nó chụp từ xa, và nó chụp một cái xe đen.
Nhưng ở cửa kính, có một cái bóng.
“Ai?”
Bà ta nhìn cô.
“Tôi không biết.” Bà ta nói. “Nhưng tôi biết cái bóng đó đi bằng tay trái, vì tay trái nó cầm cái điện thoại, và nó nói chuyện bằng tai trái.”
Cô nhìn cái bóng.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Cha tôi có biết ai đứng sau Hứa Kiến Bang không?”
“Ông ấy biết.” Bà ta nói.
“Ông ấy có nói với bà không?”
“Không.” Bà ta nói. “Nhưng năm 2021, có một lần ông ấy uống rượu, và ông ấy nói một câu.”
“Câu gì?”
“Ông ấy nói: ‘Bốn mươi bảy cuốn sổ, mà không có cuốn nào ghi được người thật.’”
Cô đứng im.
“Nghĩa là sao?”
“Tôi cũng hỏi.” Bà ta nói. “Và ông ấy nói: ‘Vì người thật không bao giờ ký.’”
Điện thoại của cô reo.
Nó là cái máy thứ hai.
“Cô Châu.”
“Chị Bích.”
“Ông Lộc vừa gọi cho tôi.” Chị ta nói. “Ông ấy muốn gặp cô.”
Cô đứng thẳng lên.
“Ông ấy nói gì?”
“Ông ấy nói một câu.” Chị ta nói. “Ông ấy nói: ‘Tôi đã chờ mười một năm. Bảo cô ấy tới trước khi tôi chết.’”
“Ông ấy bệnh à?”
“Ung thư.” Chị ta nói. “Giai đoạn bốn. Ông ấy nằm ở nhà, ở đường Nguyễn Văn Trỗi.”
Bà Tư kể trong ba tiếng, và bà ta kể như người ta đọc một tờ giấy đã thuộc.
“Tôi tên là Trần Thị Lệ.” Bà ta nói. “Tôi sinh năm 1955, ở Bến Tre.”
“Bà Tư.”
“Cô cứ gọi tôi là bà Tư.” Bà ta nói. “Tôi quen rồi.”
Bà ta rót trà, và bà ta không uống.
“Tôi có một đứa con gái. Nó tên là Mỹ. Nó sinh năm 1986.”
Cô tính trong đầu.
“Năm 2004, nó mười tám tuổi.”
“Mười bảy.” Bà ta nói. “Nó sinh tháng Chín. Cái Tết năm đó nó còn mười bảy.”
“Và nó ở trong cái xưởng đó.”
“Nó ở đó bốn mươi mốt ngày.” Bà ta nói.
“Vì sao?”
Bà ta nhìn cô.
“Vì nó đi theo thằng bồ.” Bà ta nói. “Nó nói nó đi làm ở Đài Loan, ba năm, rồi nó về, rồi nó cưới. Tôi không cho. Nó đi.”
“Và nó bị bán.”
“Nó bị bán.” Bà ta nói. “Và tôi biết nó bị bán, vì tháng thứ hai nó gọi về. Nó nói: ‘Mẹ ơi, con ở Bình Chánh, mẹ tới cứu con.’”
Cô đặt ly trà xuống.
“Bà tới.”
“Tôi tới.” Bà ta nói. “Tôi đi xe đò, và tôi tới cái xưởng đó, và tôi gặp một người đàn ông ở cổng.”
“Ai?”
“Ông ta không nói tên.” Bà ta nói. “Ông ta nói: ‘Bà muốn gặp con gái bà thì bà phải làm một việc.’”
“Việc gì?”
“Ông ta nói: ‘Bà ở lại đây, bà nấu ăn cho hai trăm người, và bà đừng nói gì với ai. Rồi tới lúc, tôi thả nó.’”
Cô nhìn bà ta.
“Và bà ở lại.”
“Tôi ở lại.” Bà ta nói. “Tôi nấu ăn bốn mươi mốt ngày.”
“Bà có gặp con gái bà không?”
“Có.” Bà ta nói. “Nó ở tầng hai. Tôi lên đó mỗi ngày, và tôi đưa cơm, và tôi không được nói chuyện với nó.”
“Vì sao?”
“Vì họ nói: ‘Bà nói chuyện thì tôi không thả nó.’”
Bà ta cầm cái ly.
“Rồi ngày mười bảy tháng Ba, ông Trung tới.”
“Và ông ấy thả người.”
“Ông ấy thả một trăm tám mươi chín người.” Bà ta nói. “Và mười một người ở lại. Và con gái tôi ở trong mười một người đó.”
Cô đứng dậy.
“Vì sao?”
“Vì nó không có nhà.” Bà ta nói. “Vì tôi ở Bến Tre, và tôi có một cái nhà, nhưng cái nhà đó đứng tên anh tôi, và anh tôi không cho nó về.”
Cô ngồi xuống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Đêm mười tháng Tư.”
Bà ta đặt cái ly xuống rất chậm.
“Có một người tới cổng lúc mười một giờ đêm.” Bà ta nói. “Và người đó gõ ba tiếng.”
“Ai?”
“Người đàn ông ở cổng.” Bà ta nói. “Người đã nói với tôi cái điều kiện.”
“Ông ta nói gì?”
“Ông ta nói: ‘Bà mở cửa cho tôi.’”
Cô nhìn bà ta.
“Và ông ta nói thêm một câu.” Bà ta nói.
“Câu gì?”
Bà ta ngẩng lên, và mắt bà ta đỏ.
“Ông ta nói: ‘Bà mở cửa, rồi bà đi ra ngoài, rồi bà đứng ở cái cây. Năm phút sau, con gái bà sẽ ra.’”
Cô đứng im rất lâu.
“Và bà tin.”
“Tôi tin.” Bà ta nói.
“Bà mở cửa.”
“Tôi mở cửa, và tôi đi ra, và tôi đứng ở cái cây.” Bà ta nói. “Và tôi đứng đó bốn mươi phút.”
“Rồi sao?”
“Rồi tôi thấy lửa.”
Bà ta nói câu đó rất bình thường, và cái bình thường đó làm cô lạnh hơn bất cứ cái gì.
“Và con gái bà?”
“Nó không ra.” Bà ta nói. “Nó ở tầng hai. Và cầu thang tầng hai bằng gỗ.”
Cô ngồi im.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Bà nói với tôi hôm trước là bà kéo được hai người ra.”
“Tôi nói dối.” Bà ta nói. “Tôi không kéo được ai. Tôi đứng ở cái cây tới khi lửa cháy hết.”
“Vậy hai cái tên đó?”
“Tôi đọc trong cuốn sổ của ông Trung.” Bà ta nói. “Và tôi chọn hai cái tên, và tôi nói đó là hai người tôi kéo ra, vì tôi không muốn cô nghĩ tôi là người đứng nhìn.”
Cô đứng dậy, và cô đi tới cửa sổ, và cô nhìn ra cái sân.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Cha tôi có biết bà mở cửa không?”
“Ông ấy biết.” Bà ta nói. “Ông ấy biết sau ba tháng.”
“Ai nói?”
“Tôi nói.” Bà ta nói. “Tôi tới số 9, và tôi quỳ ở cái sân sau, và tôi nói: ‘Tôi mở cửa. Ông giết tôi đi.’”
Cô quay lại.
“Và ông ấy nói gì?”
Bà ta nhìn cô.
“Ông ấy nói: ‘Bà đứng lên.’”
“Rồi sao?”
“Rồi ông ấy nói: ‘Từ hôm nay bà ở đây. Bà giữ nhà. Và bà không được nói chuyện này với ai, kể cả con tôi.’”
“Vì sao ông ấy giữ bà?”
Bà ta im rất lâu.
“Vì tôi là nhân chứng duy nhất.” Bà ta nói. “Và vì ông ấy biết, nếu tôi ra ngoài, thì tôi sẽ chết trong một tuần.”
Cô ngồi xuống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Người đàn ông đó.”
“Dạ.”
“Bà có nhận ra ông ta không?”
Bà ta đứng dậy, và bà ta đi tới cái tủ, và bà ta mở cái ngăn dưới, và bà ta lấy ra cái hộp bánh.
“Cái ảnh này tôi chụp năm 2023.” Bà ta nói. “Tôi chụp người đàn ông có cái đồng hồ vàng.”
“Dạ.”
“Nhưng tôi nói dối cô một chuyện.” Bà ta nói. “Tôi không chụp ông ta. Tôi chụp cái xe của ông ta.”
Cô nhìn cái ảnh.
“Và trong cái xe đó,” bà ta nói, “có một người ngồi ở ghế trước.”
Cô soi cái ảnh.
Nó mờ, và nó chụp từ xa, và nó chụp một cái xe đen.
Nhưng ở cửa kính, có một cái bóng.
“Ai?”
Bà ta nhìn cô.
“Tôi không biết.” Bà ta nói. “Nhưng tôi biết cái bóng đó đi bằng tay trái, vì tay trái nó cầm cái điện thoại, và nó nói chuyện bằng tai trái.”
Cô nhìn cái bóng.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Cha tôi có biết ai đứng sau Hứa Kiến Bang không?”
“Ông ấy biết.” Bà ta nói.
“Ông ấy có nói với bà không?”
“Không.” Bà ta nói. “Nhưng năm 2021, có một lần ông ấy uống rượu, và ông ấy nói một câu.”
“Câu gì?”
“Ông ấy nói: ‘Bốn mươi bảy cuốn sổ, mà không có cuốn nào ghi được người thật.’”
Cô đứng im.
“Nghĩa là sao?”
“Tôi cũng hỏi.” Bà ta nói. “Và ông ấy nói: ‘Vì người thật không bao giờ ký.’”
Điện thoại của cô reo.
Nó là cái máy thứ hai.
“Cô Châu.”
“Chị Bích.”
“Ông Lộc vừa gọi cho tôi.” Chị ta nói. “Ông ấy muốn gặp cô.”
Cô đứng thẳng lên.
“Ông ấy nói gì?”
“Ông ấy nói một câu.” Chị ta nói. “Ông ấy nói: ‘Tôi đã chờ mười một năm. Bảo cô ấy tới trước khi tôi chết.’”
“Ông ấy bệnh à?”
“Ung thư.” Chị ta nói. “Giai đoạn bốn. Ông ấy nằm ở nhà, ở đường Nguyễn Văn Trỗi.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa