Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Cuốn băng còn mười một phút.
Bà Bình đứng ở cửa bếp, và bà ấy không quay lại, và cô nghe tiếp.
“Điều thứ tư. Cái con số mà Nguyễn Thị Hồng biết.”
“Năm 1990, con tàu Vĩnh Lợi chở ba trăm người. Tất cả giấy tờ đều ghi ba trăm. Và bốn mươi mốt người không về. Tôi đã tin trong ba mươi năm rằng con tàu đó chở ba trăm người.”
“Nó không chở ba trăm người.”
“Nó chở ba trăm bốn mươi mốt người.”
“Bốn mươi mốt người đó không có tên trong tờ khai. Họ được đưa lên lúc nửa đêm, ở một cái cầu không đèn, và họ không trả tiền. Bốn mươi mốt người đó là người mà ông Bang đưa lên, và ông Bang đưa họ lên không phải để bán. Ông Bang đưa họ lên để che một chuyện khác: trong bốn mươi mốt người đó, có mười một người không phải người đi. Họ là người nằm.”
“Tàu Vĩnh Lợi không chở người. Nó chở xác. Ba mươi xác, và mười một người sống bị nhét vào giữa ba mươi cái xác, để con số khớp.”
Cô bấm pause.
Cô ngồi im bốn phút.
Rồi cô bấm tiếp.
“Tôi biết chuyện này vì tôi là thuyền phó của con tàu đó. Tên tôi hồi đó là Đỗ Quang Hòa, và tôi hai mươi sáu tuổi, và tôi nghe lệnh của một người tên Đỗ Văn Thận, và Đỗ Văn Thận nghe lệnh của một người không bao giờ xuống tàu.”
“Ba mươi năm sau, tôi là một người có chức sắc. Và bà Hồng tìm ra tờ khai gốc. Tờ khai thật. Cái tờ khai ghi ba trăm bốn mươi mốt. Và bà ấy không tới tống tiền tôi. Bà ấy làm một cái việc mà tôi không ngờ: bà ấy chụp nó, và bà ấy gửi cho tôi, và bà ấy viết trên mặt sau một câu.”
“Bà ấy viết: ‘Tôi không bán ông. Tôi chỉ giữ. Ông sống lương thiện từ hôm nay, hoặc tờ giấy này đến tay báo chí.’”
“Và tôi sống lương thiện bốn năm. Tôi không đưa thêm một người nào đi nữa. Và tôi thề với tôi rằng tôi sẽ làm vậy tới khi tôi chết.”
“Rồi ông Bang bệnh. Và con tàu Hồng Long đứng không yên. Và người ta tìm tới tôi, và tôi nói không. Và họ nói: ‘Chúng tôi có tờ khai đó.’ Và tôi hỏi họ lấy tờ khai ở đâu. Và họ không trả lời. Nghĩa là họ chưa có nó. Nghĩa là bà Hồng vẫn giữ nó.”
“Và tôi làm cái việc tệ nhất trong đời tôi. Tôi gọi cho bà ấy, và tôi cầu xin. Và bà ấy nói: ‘Ông đã có bốn năm lương thiện. Bốn năm đó là của ông. Bây giờ ông chọn: hoặc ông quỳ xuống trước công an và khai hết, hoặc ông đưa thêm một con tàu nữa và sống với nó tới lúc chết.’”
“Và tôi chọn con tàu.”
“Và ba tháng sau, bà ấy chết. Và tôi không biết ai giết bà ấy. Tôi thề tôi không biết. Nhưng tôi biết một chuyện: người rút bốn trăm ba mươi nghìn đô ra khỏi cái tài khoản chung là tôi, và tôi rút nó để nộp cho người ta, để mua cái tờ khai gốc, vì sau khi bà ấy chết, tôi biết tờ khai đó sẽ rơi ra đâu đó, và tôi phải lấy nó trước.”
“Tôi không lấy được.”
“Và suốt sáu năm, tôi sống với một câu hỏi: tờ khai ở đâu?”
“Và bây giờ tôi biết.”
“Vì bà Hồng không giấu nó ở một cái két, hay dưới gạch. Bà ấy làm một cái việc mà chỉ một người mẹ mới làm: bà ấy may nó.”
“Cái áo sơ mi trắng không cổ mà ông Trung mặc tới năm 2015. Ông Trung tưởng bà ấy may nó bằng vải ông mua. Không. Bà ấy lót nó bằng tờ khai gốc, may làm hai lớp, và bà ấy không nói với ai, kể cả ông Trung. Vì bà ấy biết: cái nhà số 9 ăn người, và nó ăn cả những người trong nó.”
“Cái áo đó ông Trung mặc chín năm. Và năm 2015, ông Trung bỏ nó đi, vì nó cũ. Bà Hồng nhặt lại, và bà ấy giấu nó, và bà ấy viết trong một tờ giấy: ‘Nếu tôi chết, cái áo ở với những thứ của con bé. Nó sẽ biết lúc nào là lúc.’”
Cô bấm stop.
Cô ngồi trong cái phòng, và tiếng quạt ở phòng bên cạnh reo, và bà Bình đứng ở cửa bếp, và bà ấy nhìn cô.
“Con ơi.”
“Dạ.”
“Cái áo đó.” Bà ấy nói. “Bà biết nó ở đâu.”
“Ở đâu?”
“Ở trong cái quan tài.” Bà ấy nói. “Vì bà Tư, năm ngoái, bà ấy gọi cho bà. Bà ấy nói ông Trung chết, và người ta chuẩn bị hỏa táng, và bà ấy nói: ‘Trong quan tài có một cái áo sơ mi trắng, và ông Trung dặn phải mặc nó cho ông ấy.’ Và bà Tư hỏi bà: ‘Cô có biết vì sao không?’ Và bà trả lời không biết.”
Cô đứng dậy.
“Bà Bình.”
“Dạ.”
“Mười tám ký cát.” Cô nói. “Và một cái áo. Một cái quan tài nhẹ hơn cái quan tài thật hai chục ký. Vì cái áo thật, cái áo có tờ khai trong nó, nó không nằm trong quan tài.”
“Nó ở đâu?”
Cô lấy điện thoại.
“Nó ở chỗ mà cha tôi để lại cho tôi.” Cô nói. “Trong cái hộp ở nhà chú tôi. Cái hộp sắt. Ông ấy không chỉ để chìa khóa và tờ giấy. Ông ấy để cả cái áo. Vì ông ấy biết. Ông ấy luôn biết.”
Bà Bình nắm tay cô.
“Con ơi. Trước khi con đi.”
“Dạ.”
“Cái người gọi bà mười một tháng trước. Con có muốn biết bà nghe được gì ngoài giọng nói không?”
“Bà nói.”
“Ngoài cửa sổ nhà bà, có tiếng một cái xe tải. Không chạy. Chỉ nổ máy. Nó nổ máy suốt mười lăm phút mà người đó nói chuyện. Và khi người đó cúp máy, cái xe mới đi.” Bà ấy nói. “Con ơi, ở cái xóm này, bà sống bốn mươi năm, và bà biết thế nào là một người đến để hỏi, và thế nào là một người đến để xem bà có hay không. Người đó đến để xem.”
Cuốn băng còn mười một phút.
Bà Bình đứng ở cửa bếp, và bà ấy không quay lại, và cô nghe tiếp.
“Điều thứ tư. Cái con số mà Nguyễn Thị Hồng biết.”
“Năm 1990, con tàu Vĩnh Lợi chở ba trăm người. Tất cả giấy tờ đều ghi ba trăm. Và bốn mươi mốt người không về. Tôi đã tin trong ba mươi năm rằng con tàu đó chở ba trăm người.”
“Nó không chở ba trăm người.”
“Nó chở ba trăm bốn mươi mốt người.”
“Bốn mươi mốt người đó không có tên trong tờ khai. Họ được đưa lên lúc nửa đêm, ở một cái cầu không đèn, và họ không trả tiền. Bốn mươi mốt người đó là người mà ông Bang đưa lên, và ông Bang đưa họ lên không phải để bán. Ông Bang đưa họ lên để che một chuyện khác: trong bốn mươi mốt người đó, có mười một người không phải người đi. Họ là người nằm.”
“Tàu Vĩnh Lợi không chở người. Nó chở xác. Ba mươi xác, và mười một người sống bị nhét vào giữa ba mươi cái xác, để con số khớp.”
Cô bấm pause.
Cô ngồi im bốn phút.
Rồi cô bấm tiếp.
“Tôi biết chuyện này vì tôi là thuyền phó của con tàu đó. Tên tôi hồi đó là Đỗ Quang Hòa, và tôi hai mươi sáu tuổi, và tôi nghe lệnh của một người tên Đỗ Văn Thận, và Đỗ Văn Thận nghe lệnh của một người không bao giờ xuống tàu.”
“Ba mươi năm sau, tôi là một người có chức sắc. Và bà Hồng tìm ra tờ khai gốc. Tờ khai thật. Cái tờ khai ghi ba trăm bốn mươi mốt. Và bà ấy không tới tống tiền tôi. Bà ấy làm một cái việc mà tôi không ngờ: bà ấy chụp nó, và bà ấy gửi cho tôi, và bà ấy viết trên mặt sau một câu.”
“Bà ấy viết: ‘Tôi không bán ông. Tôi chỉ giữ. Ông sống lương thiện từ hôm nay, hoặc tờ giấy này đến tay báo chí.’”
“Và tôi sống lương thiện bốn năm. Tôi không đưa thêm một người nào đi nữa. Và tôi thề với tôi rằng tôi sẽ làm vậy tới khi tôi chết.”
“Rồi ông Bang bệnh. Và con tàu Hồng Long đứng không yên. Và người ta tìm tới tôi, và tôi nói không. Và họ nói: ‘Chúng tôi có tờ khai đó.’ Và tôi hỏi họ lấy tờ khai ở đâu. Và họ không trả lời. Nghĩa là họ chưa có nó. Nghĩa là bà Hồng vẫn giữ nó.”
“Và tôi làm cái việc tệ nhất trong đời tôi. Tôi gọi cho bà ấy, và tôi cầu xin. Và bà ấy nói: ‘Ông đã có bốn năm lương thiện. Bốn năm đó là của ông. Bây giờ ông chọn: hoặc ông quỳ xuống trước công an và khai hết, hoặc ông đưa thêm một con tàu nữa và sống với nó tới lúc chết.’”
“Và tôi chọn con tàu.”
“Và ba tháng sau, bà ấy chết. Và tôi không biết ai giết bà ấy. Tôi thề tôi không biết. Nhưng tôi biết một chuyện: người rút bốn trăm ba mươi nghìn đô ra khỏi cái tài khoản chung là tôi, và tôi rút nó để nộp cho người ta, để mua cái tờ khai gốc, vì sau khi bà ấy chết, tôi biết tờ khai đó sẽ rơi ra đâu đó, và tôi phải lấy nó trước.”
“Tôi không lấy được.”
“Và suốt sáu năm, tôi sống với một câu hỏi: tờ khai ở đâu?”
“Và bây giờ tôi biết.”
“Vì bà Hồng không giấu nó ở một cái két, hay dưới gạch. Bà ấy làm một cái việc mà chỉ một người mẹ mới làm: bà ấy may nó.”
“Cái áo sơ mi trắng không cổ mà ông Trung mặc tới năm 2015. Ông Trung tưởng bà ấy may nó bằng vải ông mua. Không. Bà ấy lót nó bằng tờ khai gốc, may làm hai lớp, và bà ấy không nói với ai, kể cả ông Trung. Vì bà ấy biết: cái nhà số 9 ăn người, và nó ăn cả những người trong nó.”
“Cái áo đó ông Trung mặc chín năm. Và năm 2015, ông Trung bỏ nó đi, vì nó cũ. Bà Hồng nhặt lại, và bà ấy giấu nó, và bà ấy viết trong một tờ giấy: ‘Nếu tôi chết, cái áo ở với những thứ của con bé. Nó sẽ biết lúc nào là lúc.’”
Cô bấm stop.
Cô ngồi trong cái phòng, và tiếng quạt ở phòng bên cạnh reo, và bà Bình đứng ở cửa bếp, và bà ấy nhìn cô.
“Con ơi.”
“Dạ.”
“Cái áo đó.” Bà ấy nói. “Bà biết nó ở đâu.”
“Ở đâu?”
“Ở trong cái quan tài.” Bà ấy nói. “Vì bà Tư, năm ngoái, bà ấy gọi cho bà. Bà ấy nói ông Trung chết, và người ta chuẩn bị hỏa táng, và bà ấy nói: ‘Trong quan tài có một cái áo sơ mi trắng, và ông Trung dặn phải mặc nó cho ông ấy.’ Và bà Tư hỏi bà: ‘Cô có biết vì sao không?’ Và bà trả lời không biết.”
Cô đứng dậy.
“Bà Bình.”
“Dạ.”
“Mười tám ký cát.” Cô nói. “Và một cái áo. Một cái quan tài nhẹ hơn cái quan tài thật hai chục ký. Vì cái áo thật, cái áo có tờ khai trong nó, nó không nằm trong quan tài.”
“Nó ở đâu?”
Cô lấy điện thoại.
“Nó ở chỗ mà cha tôi để lại cho tôi.” Cô nói. “Trong cái hộp ở nhà chú tôi. Cái hộp sắt. Ông ấy không chỉ để chìa khóa và tờ giấy. Ông ấy để cả cái áo. Vì ông ấy biết. Ông ấy luôn biết.”
Bà Bình nắm tay cô.
“Con ơi. Trước khi con đi.”
“Dạ.”
“Cái người gọi bà mười một tháng trước. Con có muốn biết bà nghe được gì ngoài giọng nói không?”
“Bà nói.”
“Ngoài cửa sổ nhà bà, có tiếng một cái xe tải. Không chạy. Chỉ nổ máy. Nó nổ máy suốt mười lăm phút mà người đó nói chuyện. Và khi người đó cúp máy, cái xe mới đi.” Bà ấy nói. “Con ơi, ở cái xóm này, bà sống bốn mươi năm, và bà biết thế nào là một người đến để hỏi, và thế nào là một người đến để xem bà có hay không. Người đó đến để xem.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa