Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Họ tới đường Nguyễn Văn Trỗi lúc một giờ mười lăm.
Cái văn phòng của ông Lộc ở tầng một, và nó có một cái cuốn cửa sắt, và cái cửa sắt đó đóng, và trước nó đỗ một cái xe tải nhỏ.
Không có người.
Hoài Nam tắt máy.
“Anh ở ngoài.” Cô nói.
“Không.”
“Anh ở ngoài.” Cô nói. “Vì nếu có ai ra, thì họ sẽ thấy một người đàn ông đứng trước cửa nhà một người sắp chết lúc một giờ sáng, và họ sẽ gọi công an. Còn tôi, tôi là khách của ông ấy. Ông ấy đưa tôi cái phong bì. Tôi có quyền quay lại lấy cái gì tôi quên.”
Cô xuống xe.
Cô bấm chuông nhà tầng hai.
Ba lần.
Rồi có một cái đèn bật, và một cái cửa sổ mở, và một giọng nói con gái:
“Ai đó?”
“Tôi là Nguyễn Minh Châu.” Cô nói. “Ông Lộc biết tôi.”
Im. Rồi cửa tầng hai mở, và một người đàn bà trẻ khoảng hai mươi sáu bước ra, và cô ta mặc áo ngủ, và tóc cô ta buộc vội, và cô ta cầm một cái đèn điện thoại.
“Cháu là cô Châu.” Cô ta nói. “Bố nói về cháu mỗi ngày.”
“Con là ai?”
“Con là Thảo. Con gái ông Lộc.” Cô ta nói. “Con không ở Úc. Con về mười một tháng rồi, để chăm bố.”
“Con về đúng lúc ông nội tôi chết.”
Cô ta im.
“Cháu vào đi.” Cô ta nói. “Và cháu đừng hỏi con câu đó. Vì con đã trả lời nó với chín người trong ba tuần, và cháu mệt rồi.”
“Chín người?”
Cô ta dẫn cô xuống cái văn phòng tầng một, và cô ta bật đèn.
Cái văn phòng trống.
Không còn kệ hồ sơ. Không còn máy photocopy. Không còn cái bàn giấy rộng tới mức người ta phải đi vòng để bắt tay.
Chỉ còn bốn cái thùng các tông, xếp ở góc, và một cái bàn nhỏ, và trên cái bàn nhỏ có một cái hộp thuốc và một cái ly nước.
“Cháu thấy rồi.” Cô Thảo nói. “Bốn cái thùng. Và xe đến ba giờ sáng mai để chở chúng đi. Và nó chở chúng tới một cái kho ở Bình Thái, và ở đó chúng sẽ được đốt.”
“Vì sao?”
“Vì bố con ký một tờ giấy, tuần trước, khi bố còn tỉnh.” Cô ta nói. “Tờ giấy nói: toàn bộ hồ sơ của văn phòng này, sau khi bố chết, sẽ được tiêu hủy. Không ai được đọc. Và bố nói: ‘Nếu con bé Châu quay lại, thì con cho nó đọc một cái thư, và sau đó con vẫn đốt.’ Và bố viết cái thư đó ở trong cái phong bì dán lên thùng thứ nhất.”
“Con đọc nó chưa?”
“Con đọc rồi.” Cô Thảo nói. “Và con không hiểu nó. Nên con làm đúng những gì bố dặn, vì bố là luật sư, và con không phải.”
Cô xé cái phong bì.
Bên trong là một tờ giấy, viết tay, và nó run:
“Cháu Châu.
Nếu cháu đọc cái thư này, thì cháu đã đi hết con đường mà tôi đã biết cháu sẽ đi. Và bây giờ cháu phải biết một chuyện, và tôi phải xin cháu một điều, và hai cái đó là một.
Chuyện: bốn cái thùng này không phải hồ sơ của văn phòng tôi. Chúng là bản sao của bốn mươi bảy cuốn sổ — tất cả — mà tôi đã làm trong bốn tháng, từ tháng Năm tới tháng Tám năm ngoái, khi cha cháu còn sống, và khi ông ấy tới và nói với tôi một câu: ‘Lộc ơi, nếu một ngày tôi chết, và nếu con bé không tìm được các cuốn sổ, thì nó phải có bản sao ở một chỗ mà không ai biết, kể cả nó.’
Và tôi làm. Bốn cái thùng. Và tôi giấu chúng ở đây mười một tháng, và tôi đợi cháu tới.
Xin: nếu cháu tới, và cháu đã đọc các cuốn sổ, và cháu đã biết ai là người mà cha cháu sợ — thì cháu phải để bốn cái thùng này được đốt.
Vì nếu nó không được đốt, thì cái người đó sẽ biết nó còn, và nó sẽ giết cháu, và nó sẽ giết con tôi, và nó sẽ giết bà Tư, và nó sẽ giết tất cả những người đã giữ một tờ giấy trong bốn mươi năm.
Cháu ơi. Ba tuần nữa tôi chết. Và tôi chết với một điều an tâm: là cháu có những gì cháu cần, và là những người còn sống sẽ không chết vì những gì tôi giữ.
Đốt nó, cháu ơi. Và sau đó, cháu sống. Đó là điều duy nhất mà cha cháu xin tôi, và là điều duy nhất tôi xin cháu.”
Cô đọc xong, và cô đặt tờ giấy xuống cái bàn nhỏ, và cô không nói gì trong rất lâu.
Cô Thảo đứng cạnh.
“Cháu đọc xong rồi?” Cô ta hỏi.
“Rồi.”
“Cháu sẽ để nó cháy chứ?”
Cô nhìn bốn cái thùng.
Rồi cô nhìn cái bàn nhỏ, và cái hộp thuốc, và cô thấy dưới cái ly nước có một tờ giấy khác, bị gấp làm bốn, và nó không có phong bì.
Cô lấy nó ra.
Trên đó là một cái chữ ký, và nó không phải chữ ký của ông Lộc. Nó là chữ ký của một người khác, và nó được đặt dưới một dòng chữ:
“Tôi, Trần Đắc Lộc, cam kết tiêu hủy toàn bộ hồ sơ sau khi chết. Người giám sát: ...”
Và chỗ đó có một cái tên.
Cô đọc cái tên.
Và cô hiểu vì sao ông Lộc viết “cháu đã biết ai là người mà cha cháu sợ”.
Vì cái tên đó không phải tên của một người trong đường dây.
Cái tên đó là: “Nguyễn Minh Châu.”
Cô để tờ giấy xuống.
“Cô Thảo.”
“Dạ.”
“Ba giờ sáng mai, xe tới đón.”
“Dạ.”
“Để nó chở.” Cô nói. “Và con làm đúng những gì bố con dặn. Nhưng con cho cháu mượn một thứ trước, và cháu trả trước khi xe tới.”
“Thứ gì?”
“Thùng thứ hai.” Cô nói. “Không mở. Không đọc. Chỉ mượn.”
Cô Thảo nhìn cô rất lâu.
“Cháu sẽ làm gì với nó?”
“Tôi sẽ đặt nó vào một cái két mà không ai biết, kể cả tôi sáu tiếng nữa.” Cô nói. “Vì ông Lộc nói cháu không được đọc nó. Ông ấy không nói cháu không được giữ nó.”
Rồi cô quay ra cửa, và cô dừng lại.
“Cô Thảo.”
“Dạ.”
“Bố con nói với con bao nhiêu cái tên trong ba tuần?”
“Chín.” Cô ta nói. “Chín người. Và mỗi người đến, và mỗi người hỏi về cái phong bì, và bố đều nói với họ: ‘Nó đã ra khỏi văn phòng này.’ Và mỗi người rời đi, và bố nói với con một câu sau khi họ đi.”
“Câu gì?”
“Bố nói: ‘Con đếm xem hôm nay là người thứ mấy. Và khi tới người thứ mười, thì con đừng đưa cái phong bì cho ai nữa. Vì người thứ mười sẽ không đến để hỏi. Người thứ mười sẽ đến để lấy.’”
Cô đứng ở cửa.
“Con ơi.” Cô nói. “Hôm nay tôi là người thứ mấy?”
Cô Thảo im.
“Hôm nay là người thứ mười một.” Cô ta nói. “Và người thứ mười tới cách đây bốn ngày. Nó mặc đồ công an. Và nó không hỏi về cái phong bì. Nó hỏi về cháu.”
Họ tới đường Nguyễn Văn Trỗi lúc một giờ mười lăm.
Cái văn phòng của ông Lộc ở tầng một, và nó có một cái cuốn cửa sắt, và cái cửa sắt đó đóng, và trước nó đỗ một cái xe tải nhỏ.
Không có người.
Hoài Nam tắt máy.
“Anh ở ngoài.” Cô nói.
“Không.”
“Anh ở ngoài.” Cô nói. “Vì nếu có ai ra, thì họ sẽ thấy một người đàn ông đứng trước cửa nhà một người sắp chết lúc một giờ sáng, và họ sẽ gọi công an. Còn tôi, tôi là khách của ông ấy. Ông ấy đưa tôi cái phong bì. Tôi có quyền quay lại lấy cái gì tôi quên.”
Cô xuống xe.
Cô bấm chuông nhà tầng hai.
Ba lần.
Rồi có một cái đèn bật, và một cái cửa sổ mở, và một giọng nói con gái:
“Ai đó?”
“Tôi là Nguyễn Minh Châu.” Cô nói. “Ông Lộc biết tôi.”
Im. Rồi cửa tầng hai mở, và một người đàn bà trẻ khoảng hai mươi sáu bước ra, và cô ta mặc áo ngủ, và tóc cô ta buộc vội, và cô ta cầm một cái đèn điện thoại.
“Cháu là cô Châu.” Cô ta nói. “Bố nói về cháu mỗi ngày.”
“Con là ai?”
“Con là Thảo. Con gái ông Lộc.” Cô ta nói. “Con không ở Úc. Con về mười một tháng rồi, để chăm bố.”
“Con về đúng lúc ông nội tôi chết.”
Cô ta im.
“Cháu vào đi.” Cô ta nói. “Và cháu đừng hỏi con câu đó. Vì con đã trả lời nó với chín người trong ba tuần, và cháu mệt rồi.”
“Chín người?”
Cô ta dẫn cô xuống cái văn phòng tầng một, và cô ta bật đèn.
Cái văn phòng trống.
Không còn kệ hồ sơ. Không còn máy photocopy. Không còn cái bàn giấy rộng tới mức người ta phải đi vòng để bắt tay.
Chỉ còn bốn cái thùng các tông, xếp ở góc, và một cái bàn nhỏ, và trên cái bàn nhỏ có một cái hộp thuốc và một cái ly nước.
“Cháu thấy rồi.” Cô Thảo nói. “Bốn cái thùng. Và xe đến ba giờ sáng mai để chở chúng đi. Và nó chở chúng tới một cái kho ở Bình Thái, và ở đó chúng sẽ được đốt.”
“Vì sao?”
“Vì bố con ký một tờ giấy, tuần trước, khi bố còn tỉnh.” Cô ta nói. “Tờ giấy nói: toàn bộ hồ sơ của văn phòng này, sau khi bố chết, sẽ được tiêu hủy. Không ai được đọc. Và bố nói: ‘Nếu con bé Châu quay lại, thì con cho nó đọc một cái thư, và sau đó con vẫn đốt.’ Và bố viết cái thư đó ở trong cái phong bì dán lên thùng thứ nhất.”
“Con đọc nó chưa?”
“Con đọc rồi.” Cô Thảo nói. “Và con không hiểu nó. Nên con làm đúng những gì bố dặn, vì bố là luật sư, và con không phải.”
Cô xé cái phong bì.
Bên trong là một tờ giấy, viết tay, và nó run:
“Cháu Châu.
Nếu cháu đọc cái thư này, thì cháu đã đi hết con đường mà tôi đã biết cháu sẽ đi. Và bây giờ cháu phải biết một chuyện, và tôi phải xin cháu một điều, và hai cái đó là một.
Chuyện: bốn cái thùng này không phải hồ sơ của văn phòng tôi. Chúng là bản sao của bốn mươi bảy cuốn sổ — tất cả — mà tôi đã làm trong bốn tháng, từ tháng Năm tới tháng Tám năm ngoái, khi cha cháu còn sống, và khi ông ấy tới và nói với tôi một câu: ‘Lộc ơi, nếu một ngày tôi chết, và nếu con bé không tìm được các cuốn sổ, thì nó phải có bản sao ở một chỗ mà không ai biết, kể cả nó.’
Và tôi làm. Bốn cái thùng. Và tôi giấu chúng ở đây mười một tháng, và tôi đợi cháu tới.
Xin: nếu cháu tới, và cháu đã đọc các cuốn sổ, và cháu đã biết ai là người mà cha cháu sợ — thì cháu phải để bốn cái thùng này được đốt.
Vì nếu nó không được đốt, thì cái người đó sẽ biết nó còn, và nó sẽ giết cháu, và nó sẽ giết con tôi, và nó sẽ giết bà Tư, và nó sẽ giết tất cả những người đã giữ một tờ giấy trong bốn mươi năm.
Cháu ơi. Ba tuần nữa tôi chết. Và tôi chết với một điều an tâm: là cháu có những gì cháu cần, và là những người còn sống sẽ không chết vì những gì tôi giữ.
Đốt nó, cháu ơi. Và sau đó, cháu sống. Đó là điều duy nhất mà cha cháu xin tôi, và là điều duy nhất tôi xin cháu.”
Cô đọc xong, và cô đặt tờ giấy xuống cái bàn nhỏ, và cô không nói gì trong rất lâu.
Cô Thảo đứng cạnh.
“Cháu đọc xong rồi?” Cô ta hỏi.
“Rồi.”
“Cháu sẽ để nó cháy chứ?”
Cô nhìn bốn cái thùng.
Rồi cô nhìn cái bàn nhỏ, và cái hộp thuốc, và cô thấy dưới cái ly nước có một tờ giấy khác, bị gấp làm bốn, và nó không có phong bì.
Cô lấy nó ra.
Trên đó là một cái chữ ký, và nó không phải chữ ký của ông Lộc. Nó là chữ ký của một người khác, và nó được đặt dưới một dòng chữ:
“Tôi, Trần Đắc Lộc, cam kết tiêu hủy toàn bộ hồ sơ sau khi chết. Người giám sát: ...”
Và chỗ đó có một cái tên.
Cô đọc cái tên.
Và cô hiểu vì sao ông Lộc viết “cháu đã biết ai là người mà cha cháu sợ”.
Vì cái tên đó không phải tên của một người trong đường dây.
Cái tên đó là: “Nguyễn Minh Châu.”
Cô để tờ giấy xuống.
“Cô Thảo.”
“Dạ.”
“Ba giờ sáng mai, xe tới đón.”
“Dạ.”
“Để nó chở.” Cô nói. “Và con làm đúng những gì bố con dặn. Nhưng con cho cháu mượn một thứ trước, và cháu trả trước khi xe tới.”
“Thứ gì?”
“Thùng thứ hai.” Cô nói. “Không mở. Không đọc. Chỉ mượn.”
Cô Thảo nhìn cô rất lâu.
“Cháu sẽ làm gì với nó?”
“Tôi sẽ đặt nó vào một cái két mà không ai biết, kể cả tôi sáu tiếng nữa.” Cô nói. “Vì ông Lộc nói cháu không được đọc nó. Ông ấy không nói cháu không được giữ nó.”
Rồi cô quay ra cửa, và cô dừng lại.
“Cô Thảo.”
“Dạ.”
“Bố con nói với con bao nhiêu cái tên trong ba tuần?”
“Chín.” Cô ta nói. “Chín người. Và mỗi người đến, và mỗi người hỏi về cái phong bì, và bố đều nói với họ: ‘Nó đã ra khỏi văn phòng này.’ Và mỗi người rời đi, và bố nói với con một câu sau khi họ đi.”
“Câu gì?”
“Bố nói: ‘Con đếm xem hôm nay là người thứ mấy. Và khi tới người thứ mười, thì con đừng đưa cái phong bì cho ai nữa. Vì người thứ mười sẽ không đến để hỏi. Người thứ mười sẽ đến để lấy.’”
Cô đứng ở cửa.
“Con ơi.” Cô nói. “Hôm nay tôi là người thứ mấy?”
Cô Thảo im.
“Hôm nay là người thứ mười một.” Cô ta nói. “Và người thứ mười tới cách đây bốn ngày. Nó mặc đồ công an. Và nó không hỏi về cái phong bì. Nó hỏi về cháu.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa