Chương 34: Một Ngày
Chương 34: Một Ngày
Cô lập danh sách lúc mười một giờ trưa, và danh sách đó có năm cái tên, và năm cái việc, và nó không được viết ra giấy. Nó nằm trong đầu cô, và cô nhắc nó mỗi mười phút, như người ta nhắc một bài thơ.
Thứ nhất: chị Bích.
Cô gọi chị ta lúc mười một giờ mười lăm, bằng cái máy thứ hai.
“Chị Bích. Tôi có hai mươi tư giờ. Và tôi cần chị làm một việc mà không phải việc công an.”
“Cô nói.”
“Chị tìm ông Đường Chí Viễn. Không gặp. Chỉ tìm. Chị biết cái lịch của ông ta — chị là công an kinh tế, chị biết cái ngân hàng họp lúc nào. Và chị tìm ra cái ngày mà ông ta có một cái họp mà không thể hủy. Một cái họp với cổ đông, hay với thanh tra. Một cái họp mà nếu ông ta không đến thì mọi người sẽ hỏi vì sao.”
“Vì sao cô cần nó?”
“Vì tôi cần một cái ngày mà ông Đường không thể chọn bên.” Cô nói. “Một người bị kẹt trong một cái họp thì không thể ra lệnh giết ai. Và tôi cần ít nhất một cái ngày như vậy trong hai mươi tư giờ tới.”
Chị ta im.
“Thứ hai?”
“Thứ hai là ông Tạ Vĩnh Khiêm. Chị không gặp anh ta. Nhưng chị cho anh ta biết một tin: tôi đã có trang thứ hai. Và tôi cho anh ta biết bằng cách này: chị gửi cho anh ta một tin nhắn từ một số lạ, và trong tin nhắn chỉ có bốn chữ: ‘Trang hai — an toàn.’ Anh ta sẽ hiểu.”
“Vì sao tôi phải làm cái đó?”
“Vì ông Khiêm là một người đang ngồi trên một cái xe buýt mà xe buýt đó đi tới đâu là do ông Hòa. Và một người như vậy, khi nghe bốn chữ đó, sẽ làm một cái việc mà anh ta đã định làm từ ba tuần: anh ta sẽ chạy tới chỗ ông Hòa, và anh ta sẽ nói: ‘Cô bé đã có nó. Và cô bé cho tôi biết là cô bé có nó. Nghĩa là cô bé muốn đàm phán, không muốn giết.’ Và cái tin đó sẽ làm ông Hòa dừng mười hai giờ.” Cô nói. “Và mười hai giờ là tất cả những gì tôi cần.”
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cô không phải công an.” Chị ta nói. “Và tôi không phải người làm việc cho cô.”
“Chị đúng.” Cô nói. “Và chị là người duy nhất trong hai cái số điện thoại của tôi mà vừa là công an, vừa là người có một người cậu chết ở Bình Chánh. Và tôi không xin chị làm cho tôi. Tôi xin chị làm cho Lê Văn Thành.”
Im rất lâu.
“Gửi gì, và gửi tới đâu?”
Cô đọc số của ông Khiêm.
Thứ ba: bà Tư.
Cô về số 9 lúc hai giờ, và bà Tư đợi cô, và bà ta đã gói ba cái gì đó trong giấy báo.
“Bà Tư. Tôi cần bà rời khỏi cái nhà này trong bốn mươi tám giờ.”
“Không.”
“Bà Tư.”
“Tôi nói không.” Bà ta nói. “Và tôi nói vì tôi đã rời khỏi cái nhà này một lần, vào đêm mười tháng Tư năm 2004, và cái việc tôi làm khi tôi rời khỏi là tôi đứng ở cái cây. Và tôi không làm lại. Một người không được làm cùng một cái sai hai lần, cô ơi. Đó là cái luật mà tôi đặt cho tôi, và nó là cái luật duy nhất mà tôi còn.”
“Vậy tôi đổi điều kiện.” Cô nói. “Bà không rời. Nhưng bà chuyển cái sổ giao ca và cái hộp sắt ra khỏi đây. Đưa cho bà Bình ở Long An. Bà biết đường.”
Bà ta im.
“Và bà?” Bà ta hỏi.
“Tôi ở đây.” Cô nói. “Và tôi mở cửa cái nhà này cho một người. Bốn giờ chiều. Và bà ngồi ở tầng trên, và bà không xuống, bất kể bà nghe gì.”
“Cô mời ai?”
“Tôi mời ông Đỗ Quang Hòa.”
Bà ta đặt cái giỏ xuống.
“Cô điên rồi.”
“Có thể.” Cô nói. “Nhưng bà Tư, tôi đã nghĩ cái việc này ba ngày, và tôi không nghĩ nó khi tôi sợ. Tôi nghĩ nó khi tôi đọc trang chín mươi bảy của cuốn sổ nấu ăn của bà, và cái trang đó nói về một người đến để đếm. Và tôi nhận ra: một người đếm là một người chưa chọn. Và một người chưa chọn thì có thể bị ép chọn. Và tôi có bốn trăm ba mươi tờ giấy để ép.”
“Và nếu ông ta không ngồi xuống?”
“Thì ông ta sẽ làm một cái việc mà tôi đã chuẩn bị.” Cô nói. “Và cái việc đó là: trước khi ông ta tới, tôi sẽ gọi cho một người phóng viên, và tôi sẽ hẹn họ ở một quán cà phê đối diện số 9, và tôi sẽ nói: ‘Nếu bốn giờ mười lăm tôi chưa gọi, thì cô vào số 9 Hải Thượng Lãn Ông, và cô lấy cái gì dưới cái ghế cao, và cô đăng nó.’”
“Và dưới cái ghế cao có gì?”
“Chưa có gì.” Cô nói. “Nhưng nó sẽ có, lúc bốn giờ. Một bản sao của tờ khai 341, và một tờ giấy ghi tên tôi, và một tờ giấy ghi ngày hôm nay. Và một người phóng viên mà cầm được ba cái thứ đó, thì cô ấy sẽ không đăng nó ngay. Cô ấy sẽ gọi cho tòa soạn, và tòa soạn sẽ gọi cho luật, và luật sẽ gọi cho công an, và công an sẽ gọi cho ông Đỗ Quang Hòa. Và ông Hòa sẽ nhận được cái tin đó đúng lúc ông ta đang ngồi ở cái bàn này, đối diện tôi.”
Bà Tư nhìn cô rất lâu.
“Cô giống bà ấy.” Bà ta nói lại, và lần này bà ta nói nó như một cái gì đó khác.
Thứ tư: Hoài Nam.
Cô gặp anh ta ở quán hủ tiếu Lý Chính Thắng, bốn giờ, không phải ở số 9.
“Anh Nam. Hôm nay anh không có ở số 9.”
“Vì sao?”
“Vì nếu có chuyện, thì tôi không muốn anh ở trong đó.” Cô nói. “Và tôi nói như vậy không phải vì tôi không tin anh. Là vì tôi vừa biết anh là con của một thủy thủ, và một thủy thủ mà lên con tàu Vĩnh Lợi thì đã chết một lần. Anh không được chết lần thứ hai vì cái việc của cha tôi.”
Anh ta nhìn cô.
“Cô muốn gì?”
“Tôi muốn anh làm một cái việc mà tôi không làm được. Anh biết cái kho ở Bình Thái, chỗ mà bốn cái thùng sẽ được đốt. Anh đến đó lúc ba giờ sáng mai, và anh nhìn. Không làm gì. Chỉ nhìn. Và nếu nó được đốt — thì nó được đốt. Và nếu nó không được đốt, và nó bị lấy — thì anh gọi tôi ngay, và anh nói: ‘Nó đi theo hướng nào.’”
“Vì sao tôi phải để nó đốt?”
“Vì cha tôi đã bảo.” Cô nói. “Và cha tôi đã đúng hai mươi hai năm. Anh Nam, tôi để cái thùng thứ hai ở một cái chỗ, và tôi để năm cái thứ khác ở một cái chỗ khác, và cái chỗ thứ hai không ai biết. Nếu bốn cái thùng cháy, thì cái người lấy nó sẽ nghĩ nó hết. Và một người nghĩ nó hết thì buông. Và một người buông thì tôi có thể bước ra.”
Thứ năm: cô.
Việc thứ năm là cái việc của cô, và nó bắt đầu lúc bốn giờ, và nó là cái việc mà cô đã chuẩn bị từ sáng, và nó là một cái bàn.
Cô đặt trên cái bàn ở số 9 ba cái thứ.
Một cái ly trà. Một bản sao của tờ khai 341. Và một tờ giấy trắng.
Rồi cô ngồi xuống, và bà Tư đi lên tầng, và cái đồng hồ đã chết trên tường vẫn dừng ở bốn giờ mười bảy.
Và bốn giờ, cái cửa cuốn không kêu.
Và bốn giờ mười, nó kêu.
Cô lập danh sách lúc mười một giờ trưa, và danh sách đó có năm cái tên, và năm cái việc, và nó không được viết ra giấy. Nó nằm trong đầu cô, và cô nhắc nó mỗi mười phút, như người ta nhắc một bài thơ.
Thứ nhất: chị Bích.
Cô gọi chị ta lúc mười một giờ mười lăm, bằng cái máy thứ hai.
“Chị Bích. Tôi có hai mươi tư giờ. Và tôi cần chị làm một việc mà không phải việc công an.”
“Cô nói.”
“Chị tìm ông Đường Chí Viễn. Không gặp. Chỉ tìm. Chị biết cái lịch của ông ta — chị là công an kinh tế, chị biết cái ngân hàng họp lúc nào. Và chị tìm ra cái ngày mà ông ta có một cái họp mà không thể hủy. Một cái họp với cổ đông, hay với thanh tra. Một cái họp mà nếu ông ta không đến thì mọi người sẽ hỏi vì sao.”
“Vì sao cô cần nó?”
“Vì tôi cần một cái ngày mà ông Đường không thể chọn bên.” Cô nói. “Một người bị kẹt trong một cái họp thì không thể ra lệnh giết ai. Và tôi cần ít nhất một cái ngày như vậy trong hai mươi tư giờ tới.”
Chị ta im.
“Thứ hai?”
“Thứ hai là ông Tạ Vĩnh Khiêm. Chị không gặp anh ta. Nhưng chị cho anh ta biết một tin: tôi đã có trang thứ hai. Và tôi cho anh ta biết bằng cách này: chị gửi cho anh ta một tin nhắn từ một số lạ, và trong tin nhắn chỉ có bốn chữ: ‘Trang hai — an toàn.’ Anh ta sẽ hiểu.”
“Vì sao tôi phải làm cái đó?”
“Vì ông Khiêm là một người đang ngồi trên một cái xe buýt mà xe buýt đó đi tới đâu là do ông Hòa. Và một người như vậy, khi nghe bốn chữ đó, sẽ làm một cái việc mà anh ta đã định làm từ ba tuần: anh ta sẽ chạy tới chỗ ông Hòa, và anh ta sẽ nói: ‘Cô bé đã có nó. Và cô bé cho tôi biết là cô bé có nó. Nghĩa là cô bé muốn đàm phán, không muốn giết.’ Và cái tin đó sẽ làm ông Hòa dừng mười hai giờ.” Cô nói. “Và mười hai giờ là tất cả những gì tôi cần.”
“Cô Châu.”
“Dạ.”
“Cô không phải công an.” Chị ta nói. “Và tôi không phải người làm việc cho cô.”
“Chị đúng.” Cô nói. “Và chị là người duy nhất trong hai cái số điện thoại của tôi mà vừa là công an, vừa là người có một người cậu chết ở Bình Chánh. Và tôi không xin chị làm cho tôi. Tôi xin chị làm cho Lê Văn Thành.”
Im rất lâu.
“Gửi gì, và gửi tới đâu?”
Cô đọc số của ông Khiêm.
Thứ ba: bà Tư.
Cô về số 9 lúc hai giờ, và bà Tư đợi cô, và bà ta đã gói ba cái gì đó trong giấy báo.
“Bà Tư. Tôi cần bà rời khỏi cái nhà này trong bốn mươi tám giờ.”
“Không.”
“Bà Tư.”
“Tôi nói không.” Bà ta nói. “Và tôi nói vì tôi đã rời khỏi cái nhà này một lần, vào đêm mười tháng Tư năm 2004, và cái việc tôi làm khi tôi rời khỏi là tôi đứng ở cái cây. Và tôi không làm lại. Một người không được làm cùng một cái sai hai lần, cô ơi. Đó là cái luật mà tôi đặt cho tôi, và nó là cái luật duy nhất mà tôi còn.”
“Vậy tôi đổi điều kiện.” Cô nói. “Bà không rời. Nhưng bà chuyển cái sổ giao ca và cái hộp sắt ra khỏi đây. Đưa cho bà Bình ở Long An. Bà biết đường.”
Bà ta im.
“Và bà?” Bà ta hỏi.
“Tôi ở đây.” Cô nói. “Và tôi mở cửa cái nhà này cho một người. Bốn giờ chiều. Và bà ngồi ở tầng trên, và bà không xuống, bất kể bà nghe gì.”
“Cô mời ai?”
“Tôi mời ông Đỗ Quang Hòa.”
Bà ta đặt cái giỏ xuống.
“Cô điên rồi.”
“Có thể.” Cô nói. “Nhưng bà Tư, tôi đã nghĩ cái việc này ba ngày, và tôi không nghĩ nó khi tôi sợ. Tôi nghĩ nó khi tôi đọc trang chín mươi bảy của cuốn sổ nấu ăn của bà, và cái trang đó nói về một người đến để đếm. Và tôi nhận ra: một người đếm là một người chưa chọn. Và một người chưa chọn thì có thể bị ép chọn. Và tôi có bốn trăm ba mươi tờ giấy để ép.”
“Và nếu ông ta không ngồi xuống?”
“Thì ông ta sẽ làm một cái việc mà tôi đã chuẩn bị.” Cô nói. “Và cái việc đó là: trước khi ông ta tới, tôi sẽ gọi cho một người phóng viên, và tôi sẽ hẹn họ ở một quán cà phê đối diện số 9, và tôi sẽ nói: ‘Nếu bốn giờ mười lăm tôi chưa gọi, thì cô vào số 9 Hải Thượng Lãn Ông, và cô lấy cái gì dưới cái ghế cao, và cô đăng nó.’”
“Và dưới cái ghế cao có gì?”
“Chưa có gì.” Cô nói. “Nhưng nó sẽ có, lúc bốn giờ. Một bản sao của tờ khai 341, và một tờ giấy ghi tên tôi, và một tờ giấy ghi ngày hôm nay. Và một người phóng viên mà cầm được ba cái thứ đó, thì cô ấy sẽ không đăng nó ngay. Cô ấy sẽ gọi cho tòa soạn, và tòa soạn sẽ gọi cho luật, và luật sẽ gọi cho công an, và công an sẽ gọi cho ông Đỗ Quang Hòa. Và ông Hòa sẽ nhận được cái tin đó đúng lúc ông ta đang ngồi ở cái bàn này, đối diện tôi.”
Bà Tư nhìn cô rất lâu.
“Cô giống bà ấy.” Bà ta nói lại, và lần này bà ta nói nó như một cái gì đó khác.
Thứ tư: Hoài Nam.
Cô gặp anh ta ở quán hủ tiếu Lý Chính Thắng, bốn giờ, không phải ở số 9.
“Anh Nam. Hôm nay anh không có ở số 9.”
“Vì sao?”
“Vì nếu có chuyện, thì tôi không muốn anh ở trong đó.” Cô nói. “Và tôi nói như vậy không phải vì tôi không tin anh. Là vì tôi vừa biết anh là con của một thủy thủ, và một thủy thủ mà lên con tàu Vĩnh Lợi thì đã chết một lần. Anh không được chết lần thứ hai vì cái việc của cha tôi.”
Anh ta nhìn cô.
“Cô muốn gì?”
“Tôi muốn anh làm một cái việc mà tôi không làm được. Anh biết cái kho ở Bình Thái, chỗ mà bốn cái thùng sẽ được đốt. Anh đến đó lúc ba giờ sáng mai, và anh nhìn. Không làm gì. Chỉ nhìn. Và nếu nó được đốt — thì nó được đốt. Và nếu nó không được đốt, và nó bị lấy — thì anh gọi tôi ngay, và anh nói: ‘Nó đi theo hướng nào.’”
“Vì sao tôi phải để nó đốt?”
“Vì cha tôi đã bảo.” Cô nói. “Và cha tôi đã đúng hai mươi hai năm. Anh Nam, tôi để cái thùng thứ hai ở một cái chỗ, và tôi để năm cái thứ khác ở một cái chỗ khác, và cái chỗ thứ hai không ai biết. Nếu bốn cái thùng cháy, thì cái người lấy nó sẽ nghĩ nó hết. Và một người nghĩ nó hết thì buông. Và một người buông thì tôi có thể bước ra.”
Thứ năm: cô.
Việc thứ năm là cái việc của cô, và nó bắt đầu lúc bốn giờ, và nó là cái việc mà cô đã chuẩn bị từ sáng, và nó là một cái bàn.
Cô đặt trên cái bàn ở số 9 ba cái thứ.
Một cái ly trà. Một bản sao của tờ khai 341. Và một tờ giấy trắng.
Rồi cô ngồi xuống, và bà Tư đi lên tầng, và cái đồng hồ đã chết trên tường vẫn dừng ở bốn giờ mười bảy.
Và bốn giờ, cái cửa cuốn không kêu.
Và bốn giờ mười, nó kêu.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa