Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Ông ta nói trong ba tiếng.
Từ bốn giờ mười lăm tới bảy giờ mười lăm, và bà Tư ở tầng trên, và bà ta không xuống, và cô ghi.
Ông ta bắt đầu từ năm 1990.
“Con tàu Vĩnh Lợi không phải tàu của tôi. Tôi là thuyền phó, và tôi hai mươi sáu tuổi, và tôi nhận lệnh từ cha tôi — Đỗ Văn Thận, chủ tàu. Và cha tôi nhận hàng từ một người không xuống cầu. Người đó gửi tiền trước, bằng một cái phong bì ở một cái hòm thư của một cái tiệm vàng ở Hải Thượng Lãn Ông. Cái tiệm vàng số 11.”
“Hứa Kiến Bang.”
“Hứa Kiến Bang.” Ông ta nói. “Và ông Bang hồi đó hai mươi tám tuổi, và ông ta làm cái việc đó vì ông ta nợ. Ông ta nợ một cái gì đó mà tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: ông ta không làm vì tiền. Ông ta làm vì ông ta bị cầm.”
“Cầm bởi ai?”
“Tôi không biết. Ông cha tôi không biết. Và trong ba mươi sáu năm, tôi không tìm ra. Nhưng tôi biết một điều: cái người cầm ông Bang cũng là cái người cầm cha tôi, vì cha tôi không dám dừng, và ông Bang không dám dừng, và một cái tàu mà không ai dám dừng thì nó không phải một cái tàu. Nó là một cái thứ gì khác.”
“Bốn mươi mốt người.”
“Ba mươi xác, và mười một người sống.” Ông ta nói. “Ba mươi xác của những người đã chết ở trong một cái nhà ở Bình Chánh, trước khi lên tàu. Họ chết vì bệnh, vì đói, và vì hai cái chuyện tôi không kể được ở đây. Và cha tôi không thể đưa ba mươi cái xác vào tờ khai, vì tờ khai thì người ta kiểm. Nên ông ấy nhét họ vào giữa những người sống, và ông ấy nói: ‘Tới bên kia, ai còn thở thì xuống, ai không thì ở lại con tàu, và con tàu chở xác là chuyện bình thường, vì nó chở cá.’”
“Và mười một người sống thì sao?”
“Họ xuống. Ở một cái cầu ở bên kia. Và họ không có giấy, và họ không có tiền, và họ không có tên trong danh sách của ai. Và họ biến mất. Cha tôi nói: ‘Họ thành người không có. Và người không có thì không ai tìm.’ Và cha tôi chết năm 1994, vì một cái tai nạn ở sông, và tôi không tin nó là tai nạn, và tôi không dám nói.”
“Và cái tờ khai thật?”
“Tôi viết nó.” Ông ta nói. “Tôi viết nó năm 1991, trong một cái vở, và tôi viết vì tôi không ngủ được. Tôi viết ba trăm bốn mươi mốt, và tôi viết tên của mười một người sống — tôi nhớ tên của họ, vì tôi đã đọc danh sách của họ, và họ có danh sách, vì họ được đưa lên từ một cái nhà, và cái nhà có sổ. Và tôi viết xong, và tôi giấu nó trong một cái ống treo, và tôi đưa cho một người.”
“Ai?”
“Cha cô.” Ông ta nói. “Vì năm 1991, cha cô là người duy nhất trong cái khu này mà người ta không mua được, và tôi biết điều đó vì tôi từng đi vay của ông ấy hai mươi triệu, năm 1989, và ông ấy cho tôi vay, không lãi, và ông ấy nói: ‘Trả khi nào có. Không có thì thôi.’ Và tôi không trả. Và mười ba năm sau, tôi mang cái ống treo tới số 9, và tôi đặt nó lên cái bàn này, và tôi nói: ‘Ông Trung, tôi trả nợ.’”
Cô nhìn cái bàn.
“Và cha tôi nhận.”
“Ông ấy nhận, và ông ấy mở cái ống, và ông ấy đọc trong một tiếng, và ông ấy không nói gì. Và rồi ông ấy nói một câu, và cái câu đó tôi giữ tới bây giờ. Ông ấy nói: ‘Ông Hòa, cái này không phải một tờ giấy nợ. Đây là một tờ giấy đòi. Và người đòi là bốn mươi mốt cái tên. Và tôi sẽ giữ nó, nhưng tôi không dùng nó. Tôi chờ.’” Ông ta ngừng lại. “‘Tôi chờ tới khi nào có một người mà tôi tin được cái đầu của họ. Và khi người đó tới, tôi đưa. Và người đó sẽ làm những gì mà tôi không làm được, vì tôi đã già, và tôi đã mệt, và tôi đã sợ đủ.’”
Cô đặt cái bút xuống.
“Và cái người đó là tôi.”
“Ông ấy nói với tôi, tháng Tư năm ngoái: ‘Con bé đã tìm ra tầng hầm. Nó tìm ra cái tầng hầm trong hai tuần, Hòa ơi. Bà ấy tìm ra nó trong hai năm.’ Và ông ấy cười, và nó là cái lần đầu tiên tôi thấy ông ấy cười trong bốn mươi năm.”
Ông ta ngừng lại.
“Còn cái tàu Hồng Long, 2024?”
“Tôi không ra lệnh.” Ông ta nói. “Và tôi không làm. Tôi biết nó xảy ra, và tôi biết sau, và tôi không báo. Và cái việc không báo là cái tội của tôi, và tôi sẽ trả nó. Nhưng tôi không chở ai. Tôi đã hết chở người từ năm 2019, sau khi bà Hồng...” Ông ta im. “Sau khi bà Hồng ngồi ở cái bàn này và nói với tôi: ‘Ông đã có bốn năm lương thiện. Bây giờ ông chọn.’”
“Và cái xe tải năm 2019?”
“Tôi ra lệnh theo dõi bà Hồng, sáu năm. Tôi không ra lệnh giết.” Ông ta nói. “Và cái người ra lệnh giết...” Ông ta ngừng lại rất lâu. “Cô ơi, tôi sẽ nói nó, nhưng cô phải cho tôi một phút trước khi cô phản ứng, vì cái tôi sắp nói sẽ làm cô phải xem lại mọi thứ.”
“Ông nói.”
“Người ra lệnh giết Nguyễn Thị Hồng không phải tôi, và không phải ông Bang, và không phải cái người cầm ông Bang.” Ông ta nói. “Nó là người trong nhà của cô. Nó là một người mà cha cô tin nhất. Và cái người đó đã làm nó vì một lý do mà tôi không biết — và cái người đó đã trả tôi bốn trăm ba mươi nghìn đô để tôi im lặng, và tôi nhận, vì tôi đã nhận tiền của cái người đó từ năm 2005, và tôi đã không thể ngừng.”
“Cái người đó tên gì?”
Ông ta nhìn cái đồng hồ.
“Cô đã biết cái tên rồi.” Ông ta nói. “Cô đã đọc nó ở cái phong bì dưới gấu cái áo, và cô đã đọc nó trong lịch sử của cái tài khoản, và cô đã nghe nó từ miệng bà Tư. Nhưng cô chưa nhận ra nó, vì cô chưa đứng ở chỗ của tôi.”
“Ông nói tên đi.”
“Người đó,” Ông ta nói, “là bà Tư.”
Cô đứng dậy.
Cái ghế ngã.
“Bà Tư không thể.” Cô nói. “Bà ấy là người mở cửa năm 2004, và bà ấy là người giữ cái nhà ba mươi mốt năm, và bà ấy là người...”
“Là người mở cửa năm 2004, cho một người mặc đồ công an.” Ông ta nói. “Và cái người mặc đồ công an đó là tôi. Và bà Tư mở cửa cho tôi không phải vì bà ấy đốt cái xưởng. Bà ấy mở cửa vì tôi nói với bà ấy rằng nếu bà ấy không mở, thì con gái bà ấy sẽ không bao giờ ra khỏi cái nhà đó. Và bà ấy mở, và tôi vào, và cái việc tôi làm trong đó đêm đó là tôi lấy đi cái gì?”
Cô đứng im.
“Tôi lấy một cái xích.” Ông ta nói. “Tôi không đốt. Tôi không giết ai. Tôi lấy cái xích khóa cửa, vì tôi phải làm cho nó trông như một vụ cháy do chập điện, và một cái cửa khóa ngoài là cái dấu hiệu của một vụ cháy có người. Nên tôi lấy nó đi. Và cái cháy xảy ra một tiếng sau, bởi một người khác, và cái người đó tôi không biết là ai, và bà Tư không biết, và cha cô đã tìm ra — và cha cô không nói với ai, kể cả tôi.”
“Vậy ai đốt?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Nhưng tôi biết một người biết. Và cái người đó đã chết rồi, và cái người đó để lại một cái gì đó ở một cái chỗ mà cô đã đi qua ba lần mà không thấy.”
“Ai?”
“Chú cô. Lê Trung Khoa.” Ông ta nói. “Và cái chỗ đó là cái hộp sắt ở nhà vợ chú. Ông ấy đã để một cái thứ trong đó — không phải cái chìa khóa, không phải tờ giấy, và không phải cái áo. Một cái thứ thứ tư. Và nó nằm dưới cái đáy của cái hộp, và nó không phải một cái thứ mà người ta thấy khi mở. Nó là một cái thứ mà người ta thấy khi người ta đổ cái hộp ra ngược.”
Ông ta nói trong ba tiếng.
Từ bốn giờ mười lăm tới bảy giờ mười lăm, và bà Tư ở tầng trên, và bà ta không xuống, và cô ghi.
Ông ta bắt đầu từ năm 1990.
“Con tàu Vĩnh Lợi không phải tàu của tôi. Tôi là thuyền phó, và tôi hai mươi sáu tuổi, và tôi nhận lệnh từ cha tôi — Đỗ Văn Thận, chủ tàu. Và cha tôi nhận hàng từ một người không xuống cầu. Người đó gửi tiền trước, bằng một cái phong bì ở một cái hòm thư của một cái tiệm vàng ở Hải Thượng Lãn Ông. Cái tiệm vàng số 11.”
“Hứa Kiến Bang.”
“Hứa Kiến Bang.” Ông ta nói. “Và ông Bang hồi đó hai mươi tám tuổi, và ông ta làm cái việc đó vì ông ta nợ. Ông ta nợ một cái gì đó mà tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: ông ta không làm vì tiền. Ông ta làm vì ông ta bị cầm.”
“Cầm bởi ai?”
“Tôi không biết. Ông cha tôi không biết. Và trong ba mươi sáu năm, tôi không tìm ra. Nhưng tôi biết một điều: cái người cầm ông Bang cũng là cái người cầm cha tôi, vì cha tôi không dám dừng, và ông Bang không dám dừng, và một cái tàu mà không ai dám dừng thì nó không phải một cái tàu. Nó là một cái thứ gì khác.”
“Bốn mươi mốt người.”
“Ba mươi xác, và mười một người sống.” Ông ta nói. “Ba mươi xác của những người đã chết ở trong một cái nhà ở Bình Chánh, trước khi lên tàu. Họ chết vì bệnh, vì đói, và vì hai cái chuyện tôi không kể được ở đây. Và cha tôi không thể đưa ba mươi cái xác vào tờ khai, vì tờ khai thì người ta kiểm. Nên ông ấy nhét họ vào giữa những người sống, và ông ấy nói: ‘Tới bên kia, ai còn thở thì xuống, ai không thì ở lại con tàu, và con tàu chở xác là chuyện bình thường, vì nó chở cá.’”
“Và mười một người sống thì sao?”
“Họ xuống. Ở một cái cầu ở bên kia. Và họ không có giấy, và họ không có tiền, và họ không có tên trong danh sách của ai. Và họ biến mất. Cha tôi nói: ‘Họ thành người không có. Và người không có thì không ai tìm.’ Và cha tôi chết năm 1994, vì một cái tai nạn ở sông, và tôi không tin nó là tai nạn, và tôi không dám nói.”
“Và cái tờ khai thật?”
“Tôi viết nó.” Ông ta nói. “Tôi viết nó năm 1991, trong một cái vở, và tôi viết vì tôi không ngủ được. Tôi viết ba trăm bốn mươi mốt, và tôi viết tên của mười một người sống — tôi nhớ tên của họ, vì tôi đã đọc danh sách của họ, và họ có danh sách, vì họ được đưa lên từ một cái nhà, và cái nhà có sổ. Và tôi viết xong, và tôi giấu nó trong một cái ống treo, và tôi đưa cho một người.”
“Ai?”
“Cha cô.” Ông ta nói. “Vì năm 1991, cha cô là người duy nhất trong cái khu này mà người ta không mua được, và tôi biết điều đó vì tôi từng đi vay của ông ấy hai mươi triệu, năm 1989, và ông ấy cho tôi vay, không lãi, và ông ấy nói: ‘Trả khi nào có. Không có thì thôi.’ Và tôi không trả. Và mười ba năm sau, tôi mang cái ống treo tới số 9, và tôi đặt nó lên cái bàn này, và tôi nói: ‘Ông Trung, tôi trả nợ.’”
Cô nhìn cái bàn.
“Và cha tôi nhận.”
“Ông ấy nhận, và ông ấy mở cái ống, và ông ấy đọc trong một tiếng, và ông ấy không nói gì. Và rồi ông ấy nói một câu, và cái câu đó tôi giữ tới bây giờ. Ông ấy nói: ‘Ông Hòa, cái này không phải một tờ giấy nợ. Đây là một tờ giấy đòi. Và người đòi là bốn mươi mốt cái tên. Và tôi sẽ giữ nó, nhưng tôi không dùng nó. Tôi chờ.’” Ông ta ngừng lại. “‘Tôi chờ tới khi nào có một người mà tôi tin được cái đầu của họ. Và khi người đó tới, tôi đưa. Và người đó sẽ làm những gì mà tôi không làm được, vì tôi đã già, và tôi đã mệt, và tôi đã sợ đủ.’”
Cô đặt cái bút xuống.
“Và cái người đó là tôi.”
“Ông ấy nói với tôi, tháng Tư năm ngoái: ‘Con bé đã tìm ra tầng hầm. Nó tìm ra cái tầng hầm trong hai tuần, Hòa ơi. Bà ấy tìm ra nó trong hai năm.’ Và ông ấy cười, và nó là cái lần đầu tiên tôi thấy ông ấy cười trong bốn mươi năm.”
Ông ta ngừng lại.
“Còn cái tàu Hồng Long, 2024?”
“Tôi không ra lệnh.” Ông ta nói. “Và tôi không làm. Tôi biết nó xảy ra, và tôi biết sau, và tôi không báo. Và cái việc không báo là cái tội của tôi, và tôi sẽ trả nó. Nhưng tôi không chở ai. Tôi đã hết chở người từ năm 2019, sau khi bà Hồng...” Ông ta im. “Sau khi bà Hồng ngồi ở cái bàn này và nói với tôi: ‘Ông đã có bốn năm lương thiện. Bây giờ ông chọn.’”
“Và cái xe tải năm 2019?”
“Tôi ra lệnh theo dõi bà Hồng, sáu năm. Tôi không ra lệnh giết.” Ông ta nói. “Và cái người ra lệnh giết...” Ông ta ngừng lại rất lâu. “Cô ơi, tôi sẽ nói nó, nhưng cô phải cho tôi một phút trước khi cô phản ứng, vì cái tôi sắp nói sẽ làm cô phải xem lại mọi thứ.”
“Ông nói.”
“Người ra lệnh giết Nguyễn Thị Hồng không phải tôi, và không phải ông Bang, và không phải cái người cầm ông Bang.” Ông ta nói. “Nó là người trong nhà của cô. Nó là một người mà cha cô tin nhất. Và cái người đó đã làm nó vì một lý do mà tôi không biết — và cái người đó đã trả tôi bốn trăm ba mươi nghìn đô để tôi im lặng, và tôi nhận, vì tôi đã nhận tiền của cái người đó từ năm 2005, và tôi đã không thể ngừng.”
“Cái người đó tên gì?”
Ông ta nhìn cái đồng hồ.
“Cô đã biết cái tên rồi.” Ông ta nói. “Cô đã đọc nó ở cái phong bì dưới gấu cái áo, và cô đã đọc nó trong lịch sử của cái tài khoản, và cô đã nghe nó từ miệng bà Tư. Nhưng cô chưa nhận ra nó, vì cô chưa đứng ở chỗ của tôi.”
“Ông nói tên đi.”
“Người đó,” Ông ta nói, “là bà Tư.”
Cô đứng dậy.
Cái ghế ngã.
“Bà Tư không thể.” Cô nói. “Bà ấy là người mở cửa năm 2004, và bà ấy là người giữ cái nhà ba mươi mốt năm, và bà ấy là người...”
“Là người mở cửa năm 2004, cho một người mặc đồ công an.” Ông ta nói. “Và cái người mặc đồ công an đó là tôi. Và bà Tư mở cửa cho tôi không phải vì bà ấy đốt cái xưởng. Bà ấy mở cửa vì tôi nói với bà ấy rằng nếu bà ấy không mở, thì con gái bà ấy sẽ không bao giờ ra khỏi cái nhà đó. Và bà ấy mở, và tôi vào, và cái việc tôi làm trong đó đêm đó là tôi lấy đi cái gì?”
Cô đứng im.
“Tôi lấy một cái xích.” Ông ta nói. “Tôi không đốt. Tôi không giết ai. Tôi lấy cái xích khóa cửa, vì tôi phải làm cho nó trông như một vụ cháy do chập điện, và một cái cửa khóa ngoài là cái dấu hiệu của một vụ cháy có người. Nên tôi lấy nó đi. Và cái cháy xảy ra một tiếng sau, bởi một người khác, và cái người đó tôi không biết là ai, và bà Tư không biết, và cha cô đã tìm ra — và cha cô không nói với ai, kể cả tôi.”
“Vậy ai đốt?”
“Tôi không biết.” Ông ta nói. “Nhưng tôi biết một người biết. Và cái người đó đã chết rồi, và cái người đó để lại một cái gì đó ở một cái chỗ mà cô đã đi qua ba lần mà không thấy.”
“Ai?”
“Chú cô. Lê Trung Khoa.” Ông ta nói. “Và cái chỗ đó là cái hộp sắt ở nhà vợ chú. Ông ấy đã để một cái thứ trong đó — không phải cái chìa khóa, không phải tờ giấy, và không phải cái áo. Một cái thứ thứ tư. Và nó nằm dưới cái đáy của cái hộp, và nó không phải một cái thứ mà người ta thấy khi mở. Nó là một cái thứ mà người ta thấy khi người ta đổ cái hộp ra ngược.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa