Chương 38: Chị Ba
Chương 38: Chị Ba
Bốn giờ sáng, con đường đi Long An trống, và xe của Hoài Nam chạy một trăm cây số một giờ, và cô không nói gì trong tiếng đầu.
Nhà của bà Lê Thị Ba ở cuối xóm, và nó khác mọi cái nhà trong xóm.
Nó không có giàn mướp. Nó không có lu. Nó không có chó. Nó là một cái nhà cấp bốn sơn trắng, và cái sân của nó được quét sạch, và trước cửa có một cái ghế nhựa, và trên cái ghế có một cái khăn.
Bà ấy đã đặt nó ra từ đêm, vì bà ấy biết cô sẽ tới.
Xóm này cô đã đi một lần, mười một tháng trước, và nó đã khác.
Lần trước, bà Bình còn ở đó, và ở cổng nhà bà có một cái lu nước, và một cái giàn mướp, và một con chó đã sủa cô từ xa một trăm mét. Bây giờ cái cổng đó đóng, và chìa khóa của nó nằm trong tay một người không có ở đây, và giàn mướp đã chết, và không ai nhặt những cái mướp già rơi xuống đất.
Cái nhà cách hai cái nhà — cái mà Hoài Nam nói — sơn trắng, và nó có một cái sân quét sạch, và nó không có chó.
Cô đứng ở ngoài một phút.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Nếu tôi vào đó, và một tiếng sau tôi không ra. Anh làm gì?”
“Tôi vào.” Anh ta nói.
“Không.” Cô nói. “Nếu tôi không ra trong một tiếng, thì anh quay xe, và anh về số 9, và anh gọi cho chị Bích, và anh nói: ‘Cô Châu đã tìm ra người thứ mười hai.’ Và anh không quay lại.”
“Vì sao?”
“Vì nếu bà ấy muốn tôi chết, thì bà ấy đã có ba mươi năm để chuẩn bị, và một người ở ngoài cửa không đổi được cái gì.” Cô nói. “Và vì nếu bà ấy không muốn, thì anh ở ngoài đó cũng không có ích. Anh Nam, cha anh và cha tôi đã chết vì cùng một cái con tàu. Còn sống thì phải sống cho một cái việc. Cái việc của anh là cái sổ. Cái việc của tôi là cái cửa.”
Anh ta im rất lâu.
“Cô giống cha cô.” Anh ta nói. “Ông ấy cũng nói những cái câu như vậy, và tôi đã không nghe, và tôi đã ngồi ở ngoài một cái cửa, và ông ấy đã không ra.”
“Vậy lần này anh nghe.” Cô nói. “Một tiếng. Sau đó anh đi. Đó là điều cuối cùng tôi xin anh, và tôi xin nó với cái đúng nghĩa: nó là cái điều cuối cùng. Nếu tôi ra khỏi cái nhà đó, thì anh không cần nghe tôi nữa.”
Rồi cô xuống xe, và cô đi vào xóm, và xe không tắt máy, và nó đợi ở đầu đường, và nó là cái thứ duy nhất trong cái xóm đó đang chạy.
Bà Ba đứng ở cửa, và bà ấy khoảng bảy mươi lăm, và bà ấy gầy, và bà ấy mặc một cái áo bà ba đen, và tóc bà ấy buộc thấp, và bà ấy nhìn cô, và bà ấy nói:
“Cháu giống mẹ cháu. Nhưng lưng cháu thẳng hơn.”
Cô đứng im.
“Vào đi. Và người đi theo cháu cũng vào. Và cháu đừng giới thiệu. Bà biết nó là con của ai. Bà đã thấy nó mười chín tuổi, ở một cái cầu, và nó mặc một cái áo không cúc.”
Hoài Nam dừng lại ở ngưỡng cửa.
“Bà biết tôi?”
“Bà biết cha cháu.” Bà Ba nói. “Phạm Công Danh. Người đã đưa bà ra khỏi con tàu. Vào đi. Cả hai. Bà không còn thời gian để kể từng cái người một, và bà đã đợi ba mươi sáu năm, và bà không muốn đợi thêm một buổi sáng.”
Trong nhà có một cái bàn, bốn cái ghế, và một cái tủ kính, và trong cái tủ kính có một cái bát nhang, và một tấm ảnh.
Tấm ảnh: một người đàn bà trẻ, khoảng hai mươi, và bà ấy đứng trước một cái tàu, và bà ấy mặc một cái áo của thủy thủ, và bà ấy cười.
“Đó là bà.” Bà Ba nói. “Năm 1990. Bà mười chín tuổi, và bà đi từ một cái xóm ở Kiên Giang, và bà đi vì có người nói rằng bên kia có việc, lương năm trăm đô một tháng, và bà mang theo một cái gì đó mà bà chưa kể cho ai trong ba mươi sáu năm.”
“Cái gì?”
Bà ấy đặt tay lên bụng.
“Cháu ơi.” Bà ấy nói. “Bà đã mang theo một con.”
Cô ngồi xuống.
“Bà có con khi nào?”
“Bà có nó ở bên kia.” Bà Ba nói. “Ở một cái chỗ mà bà không kể tên, trong một cái năm mà bà không đếm. Và nó sinh ra ở đó, và nó không có giấy khai sinh, vì nó không sinh ra ở một cái nước. Nó sinh ra ở một cái hầm.”
“Con bà ở đâu?”
Bà ấy đặt một cái tay lên bàn, và bàn tay đó run.
“Cháu ơi. Trước khi bà trả lời cái câu đó, bà phải kể cháu nghe một cái chuyện khác. Vì cái chuyện đó là cái lý do mà bà sống, và là cái lý do mà mọi người trong cái chuyện của cháu đã chết. Và cái chuyện đó ngắn. Nó chỉ có một câu.”
Bà ấy nhìn cô.
“Cháu ơi. Bà không phải một người đã bị bán.”
“Nghĩa là sao?”
“Bà là người đã bán.” Bà Ba nói. “Và bà bán bằng cách của bà: bà làm việc cho cái đường dây, trong ba năm, và bà làm cái việc mà một người phụ nữ làm tốt nhất. Bà là người gọi điện về quê, và bà nói: ‘Bên này có việc, lương năm trăm đô, một năm rồi về.’ Và bà là người mà bốn mươi người trong bốn mươi mốt người kia đã tin.”
Cô không thở.
“Bà Ba.”
“Và bây giờ cháu biết vì sao bà sống.” Bà ấy nói. “Vì người ta không giết người bán. Người ta giết người chứng kiến. Và bà là cả hai, và người ta không biết bà là cái nào.”
Bốn giờ sáng, con đường đi Long An trống, và xe của Hoài Nam chạy một trăm cây số một giờ, và cô không nói gì trong tiếng đầu.
Nhà của bà Lê Thị Ba ở cuối xóm, và nó khác mọi cái nhà trong xóm.
Nó không có giàn mướp. Nó không có lu. Nó không có chó. Nó là một cái nhà cấp bốn sơn trắng, và cái sân của nó được quét sạch, và trước cửa có một cái ghế nhựa, và trên cái ghế có một cái khăn.
Bà ấy đã đặt nó ra từ đêm, vì bà ấy biết cô sẽ tới.
Xóm này cô đã đi một lần, mười một tháng trước, và nó đã khác.
Lần trước, bà Bình còn ở đó, và ở cổng nhà bà có một cái lu nước, và một cái giàn mướp, và một con chó đã sủa cô từ xa một trăm mét. Bây giờ cái cổng đó đóng, và chìa khóa của nó nằm trong tay một người không có ở đây, và giàn mướp đã chết, và không ai nhặt những cái mướp già rơi xuống đất.
Cái nhà cách hai cái nhà — cái mà Hoài Nam nói — sơn trắng, và nó có một cái sân quét sạch, và nó không có chó.
Cô đứng ở ngoài một phút.
“Anh Nam.”
“Dạ.”
“Nếu tôi vào đó, và một tiếng sau tôi không ra. Anh làm gì?”
“Tôi vào.” Anh ta nói.
“Không.” Cô nói. “Nếu tôi không ra trong một tiếng, thì anh quay xe, và anh về số 9, và anh gọi cho chị Bích, và anh nói: ‘Cô Châu đã tìm ra người thứ mười hai.’ Và anh không quay lại.”
“Vì sao?”
“Vì nếu bà ấy muốn tôi chết, thì bà ấy đã có ba mươi năm để chuẩn bị, và một người ở ngoài cửa không đổi được cái gì.” Cô nói. “Và vì nếu bà ấy không muốn, thì anh ở ngoài đó cũng không có ích. Anh Nam, cha anh và cha tôi đã chết vì cùng một cái con tàu. Còn sống thì phải sống cho một cái việc. Cái việc của anh là cái sổ. Cái việc của tôi là cái cửa.”
Anh ta im rất lâu.
“Cô giống cha cô.” Anh ta nói. “Ông ấy cũng nói những cái câu như vậy, và tôi đã không nghe, và tôi đã ngồi ở ngoài một cái cửa, và ông ấy đã không ra.”
“Vậy lần này anh nghe.” Cô nói. “Một tiếng. Sau đó anh đi. Đó là điều cuối cùng tôi xin anh, và tôi xin nó với cái đúng nghĩa: nó là cái điều cuối cùng. Nếu tôi ra khỏi cái nhà đó, thì anh không cần nghe tôi nữa.”
Rồi cô xuống xe, và cô đi vào xóm, và xe không tắt máy, và nó đợi ở đầu đường, và nó là cái thứ duy nhất trong cái xóm đó đang chạy.
Bà Ba đứng ở cửa, và bà ấy khoảng bảy mươi lăm, và bà ấy gầy, và bà ấy mặc một cái áo bà ba đen, và tóc bà ấy buộc thấp, và bà ấy nhìn cô, và bà ấy nói:
“Cháu giống mẹ cháu. Nhưng lưng cháu thẳng hơn.”
Cô đứng im.
“Vào đi. Và người đi theo cháu cũng vào. Và cháu đừng giới thiệu. Bà biết nó là con của ai. Bà đã thấy nó mười chín tuổi, ở một cái cầu, và nó mặc một cái áo không cúc.”
Hoài Nam dừng lại ở ngưỡng cửa.
“Bà biết tôi?”
“Bà biết cha cháu.” Bà Ba nói. “Phạm Công Danh. Người đã đưa bà ra khỏi con tàu. Vào đi. Cả hai. Bà không còn thời gian để kể từng cái người một, và bà đã đợi ba mươi sáu năm, và bà không muốn đợi thêm một buổi sáng.”
Trong nhà có một cái bàn, bốn cái ghế, và một cái tủ kính, và trong cái tủ kính có một cái bát nhang, và một tấm ảnh.
Tấm ảnh: một người đàn bà trẻ, khoảng hai mươi, và bà ấy đứng trước một cái tàu, và bà ấy mặc một cái áo của thủy thủ, và bà ấy cười.
“Đó là bà.” Bà Ba nói. “Năm 1990. Bà mười chín tuổi, và bà đi từ một cái xóm ở Kiên Giang, và bà đi vì có người nói rằng bên kia có việc, lương năm trăm đô một tháng, và bà mang theo một cái gì đó mà bà chưa kể cho ai trong ba mươi sáu năm.”
“Cái gì?”
Bà ấy đặt tay lên bụng.
“Cháu ơi.” Bà ấy nói. “Bà đã mang theo một con.”
Cô ngồi xuống.
“Bà có con khi nào?”
“Bà có nó ở bên kia.” Bà Ba nói. “Ở một cái chỗ mà bà không kể tên, trong một cái năm mà bà không đếm. Và nó sinh ra ở đó, và nó không có giấy khai sinh, vì nó không sinh ra ở một cái nước. Nó sinh ra ở một cái hầm.”
“Con bà ở đâu?”
Bà ấy đặt một cái tay lên bàn, và bàn tay đó run.
“Cháu ơi. Trước khi bà trả lời cái câu đó, bà phải kể cháu nghe một cái chuyện khác. Vì cái chuyện đó là cái lý do mà bà sống, và là cái lý do mà mọi người trong cái chuyện của cháu đã chết. Và cái chuyện đó ngắn. Nó chỉ có một câu.”
Bà ấy nhìn cô.
“Cháu ơi. Bà không phải một người đã bị bán.”
“Nghĩa là sao?”
“Bà là người đã bán.” Bà Ba nói. “Và bà bán bằng cách của bà: bà làm việc cho cái đường dây, trong ba năm, và bà làm cái việc mà một người phụ nữ làm tốt nhất. Bà là người gọi điện về quê, và bà nói: ‘Bên này có việc, lương năm trăm đô, một năm rồi về.’ Và bà là người mà bốn mươi người trong bốn mươi mốt người kia đã tin.”
Cô không thở.
“Bà Ba.”
“Và bây giờ cháu biết vì sao bà sống.” Bà ấy nói. “Vì người ta không giết người bán. Người ta giết người chứng kiến. Và bà là cả hai, và người ta không biết bà là cái nào.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa