Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Cái phong bì từ bệnh viện tới lúc chín giờ tối thứ Bảy.
Một người y tá, khoảng năm mươi, và cô ta mặc một cái áo xanh, và cô ta đứng ở cổng số 9, và bà Tư đi ra mở, và cô ta nói: “Tôi tìm cô Nguyễn Minh Châu.”
Cô ra.
“Tôi là y tá ở bệnh viện An Sinh, phòng 704.” Cô ta nói. “Bệnh nhân Hứa Kiến Bang mất lúc bảy giờ hai mươi sáng nay. Và ông ấy để lại cho cô một cái thứ, và ông ấy dặn tôi đưa nó bằng tay, và tôi phải nói với cô một câu mà ông ấy dặn.”
“Cô nói.”
“Ông ấy nói: ‘Nói với con bé rằng nó đã đúng. Và nó đã đúng vì nó đã không đến.’”
Cô cầm cái phong bì.
Bên trong có một cuốn băng, và một tờ giấy.
Tờ giấy: viết bằng một nét chữ yếu, và nó chỉ có hai dòng:
“Con ơi. Băng này ghi ở phòng 704, mười một giờ đêm qua. Nó là cái cuối cùng mà tôi còn. Và con nghe nó một lần, và sau đó con làm một cái việc: con đến cái nhà thờ ở Bình Chánh, và con nói với cha xứ một câu: ‘Ông Bang xin mười một cái ghế.’ Và ông ấy sẽ hiểu. Và con ngồi ở ghế thứ mười hai. Và không ai ngồi ở ghế thứ mười ba.”
Cô bấm cái cassette vào cái máy National.
Giọng của ông Bang, và nó nhỏ, và nó ngắt quãng, và nó là một giọng của một người đã hết hơi.
“Con ơi. Tôi là Hứa Kiến Bang. Và tôi chết trong bảy giờ nữa, và tôi biết, vì bác sĩ đã nói, và tôi đã từ chối mổ lần thứ hai. Và tôi ghi cái này không phải để thú tội, vì một người thú tội thì muốn được tha, và tôi không muốn được tha. Tôi ghi nó để con biết cái thứ tự của những cái việc mà con phải làm.”
“Thứ nhất. Cái con dấu Vương Bá Lộc — nó là của tôi. Tôi là người đã đặt nó, năm 1992, sáu tháng sau khi bà Mai Hương chết. Và tôi đặt nó vì tôi đã sợ. Và tôi đã sợ vì một cái gì mà tôi chưa từng kể, và tôi kể nó bây giờ.”
“Năm 1990, tôi hai mươi tám tuổi, và tôi không phải người cầm. Tôi là người cầm. Và cái người cầm tôi là cha của Đỗ Quang Hòa, và ông ta cầm tôi bằng một cái gì mà tôi đã không nói với ai trong ba mươi sáu năm: nó là một cái giấy, và cái giấy đó là giấy của tôi, và nó ghi rằng tôi đã từng ở bên kia, một năm, trong một cái năm mà tôi không đếm, và ở đó tôi đã làm một cái việc mà tôi không nói được ở đây. Và ông ta có bản sao. Và tôi không bao giờ biết nó để ở đâu.”
“Và cái cháy năm 2004 — con ơi, tôi không ra lệnh. Và ông Hòa không ra lệnh. Nó là Tư Đẹt, và Tư Đẹt nhận lệnh từ cha của ông Hòa, và cha của ông Hòa đã chết mười năm trước đó. Nghĩa là nó nhận lệnh từ một người đã chết. Và một cái đường dây mà nhận lệnh từ một người đã chết thì nó là một cái đường dây không có đầu. Và nó không ngừng. Và con ơi, đó là cái thứ mà cha con đã hiểu, và tôi chỉ hiểu năm ngoái: cái đường dây này không giết để lấy tiền. Nó giết để tiếp tục. Và nó tiếp tục vì nó không có một cái đầu để chặt.”
“Thứ hai. Cái cái phòng ở Phú An — con đã đến đó. Và con đã thấy cái dòng mà con không ký. Và con ơi, tôi nói con nghe: cái người đã ký tên con không phải Tư Đẹt. Tư Đẹt không biết đọc cái gì. Nó là một cái búa. Cái người đã ký là một cái người khác, và tôi biết nó là ai, và tôi đã để nó trong cái hộc số 11, không phải trong cuốn sổ mỏng. Con quay lại cái hộc đó, và con lấy cái hộp sắt, và con lật nó, và ở dưới đáy có một cái lớp keo, và dưới lớp keo có một cái tên. Và cái tên đó không phải một cái tên mới. Nó là cái tên mà con đã đọc hai lần, trong hai cái giấy khác nhau, và con đã không ghép nó, vì con không muốn.”
“Thứ ba. Con ơi. Mười một cái ghế. Và con ngồi ở ghế thứ mười hai. Và con nhớ: ghế thứ mười ba không ai ngồi. Vì nó là cái ghế của một người mà chưa chết. Và cái người đó là con.”
Băng dừng.
Cô ngồi ở cái quầy, và ngoài trời tối, và bà Tư đứng ở cửa sau, và bà ta không nói gì, và cô nghe cái máy tự tắt.
Rồi cô gọi cho Hoài Nam.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Ngân hàng Phương Nam, chi nhánh Bình Tây, cái hộc số mười một. Tôi đã mở nó, và tôi đã lấy cái hộp sắt, và tôi đã không lật nó.” Cô nói. “Anh mang cái hộp ra. Bây giờ. Và anh lật nó, và anh đọc cho tôi cái tên ở dưới đáy. Và anh đọc nó, và anh không hỏi tôi vì sao tôi không tự đọc.”
“Vì sao?”
“Vì nếu nó là cái tên mà tôi đang nghĩ,” cô nói, “thì tôi cần một cái người khác đọc nó trước. Và tôi cần anh là cái người đó, vì anh là con của một thủy thủ, và một thủy thủ đọc một cái tên trên một cái hộp mà không run tay.”
Mười phút sau, anh ta gọi lại.
Anh ta im ba giây trước khi nói.
“Cô Châu.”
“Anh nói.”
“Cái tên dưới đáy là: ‘TRẦN ĐẮC LỘC.’”
Cái phong bì từ bệnh viện tới lúc chín giờ tối thứ Bảy.
Một người y tá, khoảng năm mươi, và cô ta mặc một cái áo xanh, và cô ta đứng ở cổng số 9, và bà Tư đi ra mở, và cô ta nói: “Tôi tìm cô Nguyễn Minh Châu.”
Cô ra.
“Tôi là y tá ở bệnh viện An Sinh, phòng 704.” Cô ta nói. “Bệnh nhân Hứa Kiến Bang mất lúc bảy giờ hai mươi sáng nay. Và ông ấy để lại cho cô một cái thứ, và ông ấy dặn tôi đưa nó bằng tay, và tôi phải nói với cô một câu mà ông ấy dặn.”
“Cô nói.”
“Ông ấy nói: ‘Nói với con bé rằng nó đã đúng. Và nó đã đúng vì nó đã không đến.’”
Cô cầm cái phong bì.
Bên trong có một cuốn băng, và một tờ giấy.
Tờ giấy: viết bằng một nét chữ yếu, và nó chỉ có hai dòng:
“Con ơi. Băng này ghi ở phòng 704, mười một giờ đêm qua. Nó là cái cuối cùng mà tôi còn. Và con nghe nó một lần, và sau đó con làm một cái việc: con đến cái nhà thờ ở Bình Chánh, và con nói với cha xứ một câu: ‘Ông Bang xin mười một cái ghế.’ Và ông ấy sẽ hiểu. Và con ngồi ở ghế thứ mười hai. Và không ai ngồi ở ghế thứ mười ba.”
Cô bấm cái cassette vào cái máy National.
Giọng của ông Bang, và nó nhỏ, và nó ngắt quãng, và nó là một giọng của một người đã hết hơi.
“Con ơi. Tôi là Hứa Kiến Bang. Và tôi chết trong bảy giờ nữa, và tôi biết, vì bác sĩ đã nói, và tôi đã từ chối mổ lần thứ hai. Và tôi ghi cái này không phải để thú tội, vì một người thú tội thì muốn được tha, và tôi không muốn được tha. Tôi ghi nó để con biết cái thứ tự của những cái việc mà con phải làm.”
“Thứ nhất. Cái con dấu Vương Bá Lộc — nó là của tôi. Tôi là người đã đặt nó, năm 1992, sáu tháng sau khi bà Mai Hương chết. Và tôi đặt nó vì tôi đã sợ. Và tôi đã sợ vì một cái gì mà tôi chưa từng kể, và tôi kể nó bây giờ.”
“Năm 1990, tôi hai mươi tám tuổi, và tôi không phải người cầm. Tôi là người cầm. Và cái người cầm tôi là cha của Đỗ Quang Hòa, và ông ta cầm tôi bằng một cái gì mà tôi đã không nói với ai trong ba mươi sáu năm: nó là một cái giấy, và cái giấy đó là giấy của tôi, và nó ghi rằng tôi đã từng ở bên kia, một năm, trong một cái năm mà tôi không đếm, và ở đó tôi đã làm một cái việc mà tôi không nói được ở đây. Và ông ta có bản sao. Và tôi không bao giờ biết nó để ở đâu.”
“Và cái cháy năm 2004 — con ơi, tôi không ra lệnh. Và ông Hòa không ra lệnh. Nó là Tư Đẹt, và Tư Đẹt nhận lệnh từ cha của ông Hòa, và cha của ông Hòa đã chết mười năm trước đó. Nghĩa là nó nhận lệnh từ một người đã chết. Và một cái đường dây mà nhận lệnh từ một người đã chết thì nó là một cái đường dây không có đầu. Và nó không ngừng. Và con ơi, đó là cái thứ mà cha con đã hiểu, và tôi chỉ hiểu năm ngoái: cái đường dây này không giết để lấy tiền. Nó giết để tiếp tục. Và nó tiếp tục vì nó không có một cái đầu để chặt.”
“Thứ hai. Cái cái phòng ở Phú An — con đã đến đó. Và con đã thấy cái dòng mà con không ký. Và con ơi, tôi nói con nghe: cái người đã ký tên con không phải Tư Đẹt. Tư Đẹt không biết đọc cái gì. Nó là một cái búa. Cái người đã ký là một cái người khác, và tôi biết nó là ai, và tôi đã để nó trong cái hộc số 11, không phải trong cuốn sổ mỏng. Con quay lại cái hộc đó, và con lấy cái hộp sắt, và con lật nó, và ở dưới đáy có một cái lớp keo, và dưới lớp keo có một cái tên. Và cái tên đó không phải một cái tên mới. Nó là cái tên mà con đã đọc hai lần, trong hai cái giấy khác nhau, và con đã không ghép nó, vì con không muốn.”
“Thứ ba. Con ơi. Mười một cái ghế. Và con ngồi ở ghế thứ mười hai. Và con nhớ: ghế thứ mười ba không ai ngồi. Vì nó là cái ghế của một người mà chưa chết. Và cái người đó là con.”
Băng dừng.
Cô ngồi ở cái quầy, và ngoài trời tối, và bà Tư đứng ở cửa sau, và bà ta không nói gì, và cô nghe cái máy tự tắt.
Rồi cô gọi cho Hoài Nam.
“Anh Nam.”
“Cô Châu.”
“Ngân hàng Phương Nam, chi nhánh Bình Tây, cái hộc số mười một. Tôi đã mở nó, và tôi đã lấy cái hộp sắt, và tôi đã không lật nó.” Cô nói. “Anh mang cái hộp ra. Bây giờ. Và anh lật nó, và anh đọc cho tôi cái tên ở dưới đáy. Và anh đọc nó, và anh không hỏi tôi vì sao tôi không tự đọc.”
“Vì sao?”
“Vì nếu nó là cái tên mà tôi đang nghĩ,” cô nói, “thì tôi cần một cái người khác đọc nó trước. Và tôi cần anh là cái người đó, vì anh là con của một thủy thủ, và một thủy thủ đọc một cái tên trên một cái hộp mà không run tay.”
Mười phút sau, anh ta gọi lại.
Anh ta im ba giây trước khi nói.
“Cô Châu.”
“Anh nói.”
“Cái tên dưới đáy là: ‘TRẦN ĐẮC LỘC.’”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa