Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Cái lá thư đến cái nhà số 9 sau chín ngày, không phải mười một.
Nó được đưa bởi một người trẻ chạy xe máy, và anh ta khoảng hai mươi, và anh ta không phải người đưa thư. Anh ta là cái con của một cái hàng xóm của bà Ba, và anh ta nói: “Bà ấy dặn tôi đưa bằng tay, và tôi không được đưa cho ai khác. Và bà ấy dặn tôi nói một câu: ‘Nó không phải một cái thư. Nó là một cái thứ mà tôi đã viết trong mười một đêm, và tôi đã xóa nó mười lần, và cái lần thứ mười hai nó thành ra như thế.’”
Cô mở nó ở cái quầy, và bà Tư đứng cạnh, và bà ta không đọc.
Cái thư dài hai trang, và nó viết bằng một nét chữ nhỏ, và nó run ở những cái chỗ mà người viết đã dừng lại rất lâu:
“Cháu Minh Châu.
Bà không biết bắt đầu từ đâu, và bà đã xóa cái trang này mười lần. Và cái lần thứ mười hai, bà bắt đầu từ cái chỗ mà bà đã bắt đầu đời của bà: ở một cái cầu, năm 1990, mười một giờ đêm, và bà hai mươi tuổi, và bà mang theo một cái trong bụng bà, và bà không biết nó là của ai.
Bà đã kể cháu nghe cái chuyện của bà, và bà đã kể hết, trừ một cái chuyện. Và cái chuyện đó không phải một cái chuyện về một cái người. Nó là một cái chuyện về một cái con.
Cháu có một người chị. Và cái người chị đó là con của bà, và nó là con của cha cháu. Và bà đã biết điều đó từ năm 2009, khi cha cháu gọi cho bà và nói nó, và bà đã không tin, và bà đã đi xét nghiệm, một cách riêng, và nó đã đúng. Và bà đã không nói với nó, trong mười lăm năm, vì bà đã hứa với cha cháu: ‘Tôi đợi tới khi nó đủ mạnh để nghe nó.’ Và cha cháu nói: ‘Bà ấy sẽ không bao giờ đủ mạnh. Không ai đủ mạnh để nghe nó. Nhưng nó có quyền biết, và cái quyền đó không đợi.’”
“Và bà đã đợi tới bây giờ, vì bà đã nghĩ rằng bà phải là cái người nói nó. Và bà đã sai. Nó phải là người nghe nó, từ cái người mà nó đã tin. Và cái người đó là cháu. Và bà viết cái thư này không phải để nói nó. Bà viết nó để xin cháu làm cái việc mà bà không làm được: cháu nói nó với cái người chị của cháu, khi nó về tháng Mười Hai. Và cháu nói nó ở cái sân bay, trước khi bà Ba và bà Bình đến. Vì cái người chị của cháu đã sống hai mươi tám năm không biết nó có một cái người nào trong cái nước này. Và nó phải biết nó có. Và cái người phải nói nó là cháu, không phải bà.”
“Và cháu ơi, bà nói cháu nghe cái cuối cùng. Cha cháu đã không phải cha của tôi. Nhưng ông ấy là cha của hai đứa con gái của tôi. Và tôi đã thương ông ấy theo cái cách mà một người đàn bà thương một người đã cho bà một cái họ, khi bà không có họ. Và ông ấy đã cho tôi cái họ của ông ấy, năm 2005, trên một tờ giấy, và ông ấy nói: ‘Chị Ba, từ hôm nay chị là em gái của tôi. Và giấy tờ là một cái thứ nhỏ, nhưng nó là cái thứ mà một người không có gì cần nhất.’”
“Và cháu ơi, cái họ của cháu — Nguyễn Minh Châu — nó không phải chỉ cái họ của mẹ cháu. Nó là cái họ của tôi. Vì tôi đã lấy nó, năm 1993, khi tôi về, và tôi đã lấy nó ở một cái văn phòng mà không hỏi tôi, và tôi đã lấy nó vì nó là cái họ của một cái người mà tôi đã thương từ cái năm tôi mười chín tuổi.”
“Và bây giờ cháu biết. Và cháu có một người chị, và nó về trong mười một ngày. Và cháu có một cái họ, và nó là của ba cái người đàn bà. Và cháu có một cái nhà, và nó ở số 9, và trong cái nhà đó có một cái nồi cơm mà phải được đặt mười một cái chén, và một cái chén thứ mười hai.
Bà Ba.”
Và ở dưới, một cái dòng, viết khác mực, và nó là chữ của bà Bình — Trần Thị Mỹ:
“Và cháu ơi, cái chén thứ mười ba — nó không đợi một cái người chưa chết. Bà đã nói dối cha cháu, hai mươi hai năm trước, khi ông ấy hỏi bà một câu. Và cái câu đó là: ‘Mày có trở về không?’ Và bà đã trả lời: ‘Không.’ Và bà đã trả lời sai. Bà đã trở về. Và bà đã ở đó, ba mươi năm, và bà đã nuôi cháu. Và cái chén thứ mười ba là của bà. Và nó đã đợi. Và cháu ơi, nếu một ngày nào đó cháu đọc cái này, thì cháu đặt cái chén đó lên cái bàn, và cháu rót nó đầy, và cháu để nó nguội. Và bà sẽ ăn ở một cái chỗ khác, và bà không cần cái chén nữa. Vì bà đã ăn rồi, ở cái nhà của cháu, trong bốn năm, và nó là cái bữa ăn dài nhất trong đời của bà.”
Cô đặt cái thư xuống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Bà biết bà Bình chưa chết?”
“Tôi biết.” Bà ta nói. “Tôi biết từ năm 2004. Vì bà ấy là người đã giữ cái cửa sau, đêm đó, và tôi là người đã mở cái cửa trước. Và chúng tôi không nói với nhau từ đó, vì hai cái người mà cùng mở một cái cửa thì nó không nói được với nhau. Nó chỉ có thể nấu cơm cho nhau. Và chúng tôi đã nấu, trong ba mươi năm, ở hai cái bếp, và cái nồi của tôi đã đặt mười một cái chén, và cái nồi của bà ấy đã nuôi con của ông Trung. Và bây giờ bà ấy mệt, và bà ấy đã viết cái thư đó, và bà ấy đã đợi nó trong hai mươi hai năm.”
“Bà Bình mệt?”
“Bà ấy đã không đi khỏi cái giường từ tháng Tám.” Bà Tư nói. “Và bà ấy không có bệnh. Bà ấy chỉ hết. Một cái người mà sống hai mươi hai năm với một cái cái cửa thì nó hết, cô ơi. Và nó hết một cách bình thường, như một cái cây hết lá.”
Cô đứng dậy.
“Bà Tư. Xe khách tới Long An lúc mấy giờ?”
“Mười một giờ trưa. Và nó đi hai tiếng.” Bà ta nói. “Và cô ơi, bà Ba đã nói với tôi: cái người chị của cô về sân bay Tân Sơn Nhất, ngày mười hai tháng Mười Hai, chuyến bay VN37, hai giờ chiều. Và cái người chị đó chưa từng thấy mặt của bà Bình từ năm 2019. Và bà ấy chưa từng biết nó có một cái người chị.”
“Vậy tôi đi Long An hôm nay.” Cô nói. “Và tôi mang bà Bình một cái chén cơm.”
“Cô không biết nấu.”
“Tôi biết.” Cô nói. “Bà Tư đã dạy tôi, trong mười chín ngày, ở cái bếp của cái nhà số 9. Và bà ta đã dạy tôi không phải cái cách để nấu. Bà ta đã dạy tôi cái cách để đặt một cái chén, và cái cách để chờ nó nguội. Và đó là tất cả những cái gì một cái người cần biết, khi nó mang cơm cho một cái người đã hết.”
Cái lá thư đến cái nhà số 9 sau chín ngày, không phải mười một.
Nó được đưa bởi một người trẻ chạy xe máy, và anh ta khoảng hai mươi, và anh ta không phải người đưa thư. Anh ta là cái con của một cái hàng xóm của bà Ba, và anh ta nói: “Bà ấy dặn tôi đưa bằng tay, và tôi không được đưa cho ai khác. Và bà ấy dặn tôi nói một câu: ‘Nó không phải một cái thư. Nó là một cái thứ mà tôi đã viết trong mười một đêm, và tôi đã xóa nó mười lần, và cái lần thứ mười hai nó thành ra như thế.’”
Cô mở nó ở cái quầy, và bà Tư đứng cạnh, và bà ta không đọc.
Cái thư dài hai trang, và nó viết bằng một nét chữ nhỏ, và nó run ở những cái chỗ mà người viết đã dừng lại rất lâu:
“Cháu Minh Châu.
Bà không biết bắt đầu từ đâu, và bà đã xóa cái trang này mười lần. Và cái lần thứ mười hai, bà bắt đầu từ cái chỗ mà bà đã bắt đầu đời của bà: ở một cái cầu, năm 1990, mười một giờ đêm, và bà hai mươi tuổi, và bà mang theo một cái trong bụng bà, và bà không biết nó là của ai.
Bà đã kể cháu nghe cái chuyện của bà, và bà đã kể hết, trừ một cái chuyện. Và cái chuyện đó không phải một cái chuyện về một cái người. Nó là một cái chuyện về một cái con.
Cháu có một người chị. Và cái người chị đó là con của bà, và nó là con của cha cháu. Và bà đã biết điều đó từ năm 2009, khi cha cháu gọi cho bà và nói nó, và bà đã không tin, và bà đã đi xét nghiệm, một cách riêng, và nó đã đúng. Và bà đã không nói với nó, trong mười lăm năm, vì bà đã hứa với cha cháu: ‘Tôi đợi tới khi nó đủ mạnh để nghe nó.’ Và cha cháu nói: ‘Bà ấy sẽ không bao giờ đủ mạnh. Không ai đủ mạnh để nghe nó. Nhưng nó có quyền biết, và cái quyền đó không đợi.’”
“Và bà đã đợi tới bây giờ, vì bà đã nghĩ rằng bà phải là cái người nói nó. Và bà đã sai. Nó phải là người nghe nó, từ cái người mà nó đã tin. Và cái người đó là cháu. Và bà viết cái thư này không phải để nói nó. Bà viết nó để xin cháu làm cái việc mà bà không làm được: cháu nói nó với cái người chị của cháu, khi nó về tháng Mười Hai. Và cháu nói nó ở cái sân bay, trước khi bà Ba và bà Bình đến. Vì cái người chị của cháu đã sống hai mươi tám năm không biết nó có một cái người nào trong cái nước này. Và nó phải biết nó có. Và cái người phải nói nó là cháu, không phải bà.”
“Và cháu ơi, bà nói cháu nghe cái cuối cùng. Cha cháu đã không phải cha của tôi. Nhưng ông ấy là cha của hai đứa con gái của tôi. Và tôi đã thương ông ấy theo cái cách mà một người đàn bà thương một người đã cho bà một cái họ, khi bà không có họ. Và ông ấy đã cho tôi cái họ của ông ấy, năm 2005, trên một tờ giấy, và ông ấy nói: ‘Chị Ba, từ hôm nay chị là em gái của tôi. Và giấy tờ là một cái thứ nhỏ, nhưng nó là cái thứ mà một người không có gì cần nhất.’”
“Và cháu ơi, cái họ của cháu — Nguyễn Minh Châu — nó không phải chỉ cái họ của mẹ cháu. Nó là cái họ của tôi. Vì tôi đã lấy nó, năm 1993, khi tôi về, và tôi đã lấy nó ở một cái văn phòng mà không hỏi tôi, và tôi đã lấy nó vì nó là cái họ của một cái người mà tôi đã thương từ cái năm tôi mười chín tuổi.”
“Và bây giờ cháu biết. Và cháu có một người chị, và nó về trong mười một ngày. Và cháu có một cái họ, và nó là của ba cái người đàn bà. Và cháu có một cái nhà, và nó ở số 9, và trong cái nhà đó có một cái nồi cơm mà phải được đặt mười một cái chén, và một cái chén thứ mười hai.
Bà Ba.”
Và ở dưới, một cái dòng, viết khác mực, và nó là chữ của bà Bình — Trần Thị Mỹ:
“Và cháu ơi, cái chén thứ mười ba — nó không đợi một cái người chưa chết. Bà đã nói dối cha cháu, hai mươi hai năm trước, khi ông ấy hỏi bà một câu. Và cái câu đó là: ‘Mày có trở về không?’ Và bà đã trả lời: ‘Không.’ Và bà đã trả lời sai. Bà đã trở về. Và bà đã ở đó, ba mươi năm, và bà đã nuôi cháu. Và cái chén thứ mười ba là của bà. Và nó đã đợi. Và cháu ơi, nếu một ngày nào đó cháu đọc cái này, thì cháu đặt cái chén đó lên cái bàn, và cháu rót nó đầy, và cháu để nó nguội. Và bà sẽ ăn ở một cái chỗ khác, và bà không cần cái chén nữa. Vì bà đã ăn rồi, ở cái nhà của cháu, trong bốn năm, và nó là cái bữa ăn dài nhất trong đời của bà.”
Cô đặt cái thư xuống.
“Bà Tư.”
“Dạ.”
“Bà biết bà Bình chưa chết?”
“Tôi biết.” Bà ta nói. “Tôi biết từ năm 2004. Vì bà ấy là người đã giữ cái cửa sau, đêm đó, và tôi là người đã mở cái cửa trước. Và chúng tôi không nói với nhau từ đó, vì hai cái người mà cùng mở một cái cửa thì nó không nói được với nhau. Nó chỉ có thể nấu cơm cho nhau. Và chúng tôi đã nấu, trong ba mươi năm, ở hai cái bếp, và cái nồi của tôi đã đặt mười một cái chén, và cái nồi của bà ấy đã nuôi con của ông Trung. Và bây giờ bà ấy mệt, và bà ấy đã viết cái thư đó, và bà ấy đã đợi nó trong hai mươi hai năm.”
“Bà Bình mệt?”
“Bà ấy đã không đi khỏi cái giường từ tháng Tám.” Bà Tư nói. “Và bà ấy không có bệnh. Bà ấy chỉ hết. Một cái người mà sống hai mươi hai năm với một cái cái cửa thì nó hết, cô ơi. Và nó hết một cách bình thường, như một cái cây hết lá.”
Cô đứng dậy.
“Bà Tư. Xe khách tới Long An lúc mấy giờ?”
“Mười một giờ trưa. Và nó đi hai tiếng.” Bà ta nói. “Và cô ơi, bà Ba đã nói với tôi: cái người chị của cô về sân bay Tân Sơn Nhất, ngày mười hai tháng Mười Hai, chuyến bay VN37, hai giờ chiều. Và cái người chị đó chưa từng thấy mặt của bà Bình từ năm 2019. Và bà ấy chưa từng biết nó có một cái người chị.”
“Vậy tôi đi Long An hôm nay.” Cô nói. “Và tôi mang bà Bình một cái chén cơm.”
“Cô không biết nấu.”
“Tôi biết.” Cô nói. “Bà Tư đã dạy tôi, trong mười chín ngày, ở cái bếp của cái nhà số 9. Và bà ta đã dạy tôi không phải cái cách để nấu. Bà ta đã dạy tôi cái cách để đặt một cái chén, và cái cách để chờ nó nguội. Và đó là tất cả những cái gì một cái người cần biết, khi nó mang cơm cho một cái người đã hết.”
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa