Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Nhà của bà Bình đã khác.
Cái cổng mở, và cái giàn mướp đã được dọn, và trong nhà có một cái giường, và bà ấy nằm ở nó, và bà ấy gầy, và bà ấy còn, và cái mắt của bà ấy mở khi cô bước vào.
“Cháu tới rồi.”
“Dạ.”
“Và cháu mang cái gì?”
Cô đặt cái hộp lên bàn. Trong hộp có một cái chén cơm trắng, và một cái chén canh cua, và hai cái miếng cá kho — và cô đã nấu nó ở một cái bếp của bà Tư, từ bốn giờ sáng, và bà Tư đã đứng cạnh, và bà ta đã không dạy, và bà ta đã chỉ đứng.
“Con nấu.” Cô nói. “Và nó không giống của bà. Và nó không giống của bà Tư. Nó giống của tôi.”
Bà Bình cử động, và bà ấy ngồi dậy, và cái tay bà ấy run, và cô đỡ, và bà ấy cầm cái chén, và bà ấy ăn, và bà ấy ăn chậm, và cô ngồi ở cái ghế, và không nói gì.
Bà ấy ăn trong mười lăm phút, và bà ấy ăn hết cái chén cơm, và một nửa cái canh, và một miếng cá.
Rồi bà ấy đặt cái chén xuống.
“Cháu ơi.”
“Dạ.”
“Con đã nấu nó ở cái bếp của bà Tư?”
“Dạ.”
“Và bà ấy đã nói gì?”
“Bà ấy đứng cạnh, và bà ấy không nói gì. Và khi con rót nước vào nồi canh, bà ấy nói một câu: ‘Đừng khuấy. Để nó tự.’”
“Ừ.” Bà Bình nói. “Bà ấy nói đúng. Cái canh cua thì không khuấy. Và một cái người thì không khuấy. Và bà ấy đã học nó trong ba mươi mốt năm, ở một cái cái bếp, và nó là cái thứ duy nhất mà bà ấy đã học, và nó là tất cả.”
Rồi bà ấy im rất lâu.
“Cháu ơi. Cháu đã đọc cái thư.”
“Dạ.”
“Và cháu biết bà là ai rồi.”
“Dạ. Trần Thị Mỹ.”
“Ừ.” Bà ấy nói. “Và cháu ơi, bà không xin lỗi. Vì bà đã hứa với bà Tư rằng bà không xin lỗi, trong ba mươi năm. Và bà chỉ nói một cái chuyện, và nó là cái chuyện mà bà đã không kể với ai, và nó là cái chuyện về cái ngày bà đã ra khỏi cái xưởng đó.”
“Kể đi.”
“Đêm mười tháng Tư, sau khi bà Tư mở cái cửa, và Tư Đẹt đi vào, và tôi đã ở ở cái giường số mười một, và tôi đã nghe cái tiếng của cái xích bị lấy ra, và tôi đã biết là có một cái người đã đến để lấy nó, chứ không phải để cứu. Và tôi đã đi xuống, bằng cái cầu thang sau, và tôi đã đi ra cái cửa sau, và tôi đã đứng ở cái sân. Và tôi đã thấy ông ấy đốt nó, từ một cái khoảng cách, và tôi đã không chạy. Và tôi đã đứng đó, và tôi đã nhìn, và tôi đã đếm cái tiếng của cái lửa.”
“Và vì sao bà không chạy?”
“Vì cái người ở trong đó — mười cái người — đã không chạy được.” Bà Bình nói. “Và một cái người mà nó còn hai cái chân thì nó không có quyền chạy, khi những cái người kia không có. Và tôi đã đứng đó, cho tới khi cái lửa hết, và tôi đã bị bỏng, ở cái vai trái, và cái bỏng đó còn, và nó là cái thứ mà tôi đã mang trong hai mươi hai năm, và nó là cái thứ duy nhất mà tôi không muốn lành.”
“Và cha tôi đã gạch tên bà.”
“Ông ấy đã gạch nó, và ông ấy đã nói: ‘Mày chết trên giấy.’ Và ông ấy đã làm nó không phải để cứu bà. Ông ấy đã làm nó để bà có thể sống mà không phải một cái người còn sống. Vì một cái người còn sống thì nó phải khai, và nếu nó khai, thì nó phải khai cả bà Tư. Và bà Tư đã có một đứa con ở một cái chỗ khác, và cái đứa con đó đã chết trong cái lửa, và bà Tư đã không biết điều đó cho tới năm 2009, và nó là cái thứ mà đã giết bà Tư từ trong, trong mười sáu năm, và tôi đã biết, và tôi đã im, và nó là cái tội của tôi, và nó lớn hơn cái tội của bà Tư. Vì bà Tư đã mở một cái cửa vì một cái lời nói dối. Còn tôi đã im vì một cái cái sợ.”
Cô cầm cái tay của bà Bình, và nó lạnh, và nó nhẹ.
“Bà Bình.”
“Dạ.”
“Bà nói với con: cái chén thứ mười ba đã đợi. Và bây giờ bà ăn ở một cái chỗ khác. Vậy bà muốn nó ở đâu?”
Bà ấy nhìn cái sân, qua cái cửa, và ở đó có một cái cây — cái cây của bà ấy, đã trồng năm 2005, và nó đã lớn.
“Ở dưới cái cây.” Bà ấy nói. “Và cháu đặt cái chén, và cháu rót nó đầy, và cháu để nó nguội. Và cháu đừng đợi nó. Và cháu đi ra. Vì một cái chén mà nguội dưới một cái cây thì nó là một cái chén mà nó đã được ăn, bởi cái thứ mà cháu không thấy, và cháu không phải thấy. Và nó là tất cả những cái gì mà bà có thể xin cháu, và nó là tất cả những cái gì mà bà đã xin, trong hai mươi hai năm, và nó là cái thứ mà bà chưa từng xin một ai.”
Và bà ấy nhắm mắt, và bà ấy ngủ, và cô ngồi ở cái ghế, và cô ngồi cho tới khi cái ngực của bà ấy dừng, mười một giờ đêm, và cô không gọi ai, và cô ngồi thêm một tiếng, và cô cầm cái tay bà ấy, và nó nguội từ từ, và cô đếm, như bà Tư đã dạy.
Nhà của bà Bình đã khác.
Cái cổng mở, và cái giàn mướp đã được dọn, và trong nhà có một cái giường, và bà ấy nằm ở nó, và bà ấy gầy, và bà ấy còn, và cái mắt của bà ấy mở khi cô bước vào.
“Cháu tới rồi.”
“Dạ.”
“Và cháu mang cái gì?”
Cô đặt cái hộp lên bàn. Trong hộp có một cái chén cơm trắng, và một cái chén canh cua, và hai cái miếng cá kho — và cô đã nấu nó ở một cái bếp của bà Tư, từ bốn giờ sáng, và bà Tư đã đứng cạnh, và bà ta đã không dạy, và bà ta đã chỉ đứng.
“Con nấu.” Cô nói. “Và nó không giống của bà. Và nó không giống của bà Tư. Nó giống của tôi.”
Bà Bình cử động, và bà ấy ngồi dậy, và cái tay bà ấy run, và cô đỡ, và bà ấy cầm cái chén, và bà ấy ăn, và bà ấy ăn chậm, và cô ngồi ở cái ghế, và không nói gì.
Bà ấy ăn trong mười lăm phút, và bà ấy ăn hết cái chén cơm, và một nửa cái canh, và một miếng cá.
Rồi bà ấy đặt cái chén xuống.
“Cháu ơi.”
“Dạ.”
“Con đã nấu nó ở cái bếp của bà Tư?”
“Dạ.”
“Và bà ấy đã nói gì?”
“Bà ấy đứng cạnh, và bà ấy không nói gì. Và khi con rót nước vào nồi canh, bà ấy nói một câu: ‘Đừng khuấy. Để nó tự.’”
“Ừ.” Bà Bình nói. “Bà ấy nói đúng. Cái canh cua thì không khuấy. Và một cái người thì không khuấy. Và bà ấy đã học nó trong ba mươi mốt năm, ở một cái cái bếp, và nó là cái thứ duy nhất mà bà ấy đã học, và nó là tất cả.”
Rồi bà ấy im rất lâu.
“Cháu ơi. Cháu đã đọc cái thư.”
“Dạ.”
“Và cháu biết bà là ai rồi.”
“Dạ. Trần Thị Mỹ.”
“Ừ.” Bà ấy nói. “Và cháu ơi, bà không xin lỗi. Vì bà đã hứa với bà Tư rằng bà không xin lỗi, trong ba mươi năm. Và bà chỉ nói một cái chuyện, và nó là cái chuyện mà bà đã không kể với ai, và nó là cái chuyện về cái ngày bà đã ra khỏi cái xưởng đó.”
“Kể đi.”
“Đêm mười tháng Tư, sau khi bà Tư mở cái cửa, và Tư Đẹt đi vào, và tôi đã ở ở cái giường số mười một, và tôi đã nghe cái tiếng của cái xích bị lấy ra, và tôi đã biết là có một cái người đã đến để lấy nó, chứ không phải để cứu. Và tôi đã đi xuống, bằng cái cầu thang sau, và tôi đã đi ra cái cửa sau, và tôi đã đứng ở cái sân. Và tôi đã thấy ông ấy đốt nó, từ một cái khoảng cách, và tôi đã không chạy. Và tôi đã đứng đó, và tôi đã nhìn, và tôi đã đếm cái tiếng của cái lửa.”
“Và vì sao bà không chạy?”
“Vì cái người ở trong đó — mười cái người — đã không chạy được.” Bà Bình nói. “Và một cái người mà nó còn hai cái chân thì nó không có quyền chạy, khi những cái người kia không có. Và tôi đã đứng đó, cho tới khi cái lửa hết, và tôi đã bị bỏng, ở cái vai trái, và cái bỏng đó còn, và nó là cái thứ mà tôi đã mang trong hai mươi hai năm, và nó là cái thứ duy nhất mà tôi không muốn lành.”
“Và cha tôi đã gạch tên bà.”
“Ông ấy đã gạch nó, và ông ấy đã nói: ‘Mày chết trên giấy.’ Và ông ấy đã làm nó không phải để cứu bà. Ông ấy đã làm nó để bà có thể sống mà không phải một cái người còn sống. Vì một cái người còn sống thì nó phải khai, và nếu nó khai, thì nó phải khai cả bà Tư. Và bà Tư đã có một đứa con ở một cái chỗ khác, và cái đứa con đó đã chết trong cái lửa, và bà Tư đã không biết điều đó cho tới năm 2009, và nó là cái thứ mà đã giết bà Tư từ trong, trong mười sáu năm, và tôi đã biết, và tôi đã im, và nó là cái tội của tôi, và nó lớn hơn cái tội của bà Tư. Vì bà Tư đã mở một cái cửa vì một cái lời nói dối. Còn tôi đã im vì một cái cái sợ.”
Cô cầm cái tay của bà Bình, và nó lạnh, và nó nhẹ.
“Bà Bình.”
“Dạ.”
“Bà nói với con: cái chén thứ mười ba đã đợi. Và bây giờ bà ăn ở một cái chỗ khác. Vậy bà muốn nó ở đâu?”
Bà ấy nhìn cái sân, qua cái cửa, và ở đó có một cái cây — cái cây của bà ấy, đã trồng năm 2005, và nó đã lớn.
“Ở dưới cái cây.” Bà ấy nói. “Và cháu đặt cái chén, và cháu rót nó đầy, và cháu để nó nguội. Và cháu đừng đợi nó. Và cháu đi ra. Vì một cái chén mà nguội dưới một cái cây thì nó là một cái chén mà nó đã được ăn, bởi cái thứ mà cháu không thấy, và cháu không phải thấy. Và nó là tất cả những cái gì mà bà có thể xin cháu, và nó là tất cả những cái gì mà bà đã xin, trong hai mươi hai năm, và nó là cái thứ mà bà chưa từng xin một ai.”
Và bà ấy nhắm mắt, và bà ấy ngủ, và cô ngồi ở cái ghế, và cô ngồi cho tới khi cái ngực của bà ấy dừng, mười một giờ đêm, và cô không gọi ai, và cô ngồi thêm một tiếng, và cô cầm cái tay bà ấy, và nó nguội từ từ, và cô đếm, như bà Tư đã dạy.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa