Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Đám tang của bà Bình ở Long An, và nó nhỏ, và nó có bốn cái bàn, và nó có một cái người đứng ở ngoài, trong suốt một ngày, và không ai hỏi nó là ai, vì bà Ba đã nói với mọi cái người: “Nó là người của cái nhà số 9. Và nó đến để đưa bà ấy một cái chén.”
Và nó là đúng.
Và sau đám tang, bà Ba dẫn cô ra sau cái nhà, và ở đó có cái cây, và dưới cái cây có một cái chén cơm, đã nguội, và trên cái chén có một cái lá, và nó đã rơi xuống, trong đêm, và nó nằm ở giữa cái chén, và nó không bị gió thổi đi.
“Bà đã đặt nó hôm qua.” Bà Ba nói. “Và bà chưa đụng nó. Và cháu ơi, bà không biết một cái lá là một cái cái gì. Nhưng nó rơi đúng vào giữa, trong một cái đêm không gió, và bà đã đứng ở đây hai tiếng, và nó đã không đi.”
Cô nhìn cái chén, và cái lá, và cô không đụng nó.
“Bà Ba. Ngày mười hai tháng Mười Hai. Chuyến bay VN37.”
“Ừ.” Bà Ba nói. “Và cháu ơi, bà không biết cháu nói gì với nó ở sân bay. Và bà không hỏi. Bà chỉ có một cái dặn: cháu đừng nói nó ở một cái cái phòng, và cháu đừng nói nó ngồi xuống. Cháu nói nó đứng, ở cái cổng, và cháu nói nó trong mười câu, và cháu dừng ở câu thứ mười. Và nếu nó khóc, thì cháu đừng ôm nó. Cháu để nó khóc, vì nó đã không khóc được trong hai mươi tám năm, và nó phải khóc một lần, một mình, và nó phải biết rằng có một cái người đang đứng đó, và không đi.”
Ngày mười hai tháng Mười Hai.
Sân bay Tân Sơn Nhất, cái cổng trong, và nó có một cái dòng người, và cô đứng ở nó, và cô mặc một cái áo trắng, và cô cầm một cái hoa cúc — một bó nhỏ, mười một cái bông.
Và hai giờ hai mươi, cái dòng người đi ra, và nó đi chậm, và cô nhìn từng cái mặt, và cô không nhìn cái bảng điện tử, và cô không nhìn cái điện thoại, và cô chỉ nhìn.
Và hai giờ ba mươi bốn phút, cô thấy nó.
Nó là một cái người đàn bà khoảng hai mươi tám, và nó cao, và nó mặc một cái áo khoác xám, và nó kéo một cái vali, và nó đi chậm, và nó không nhìn quanh, vì nó không tìm ai. Nó chỉ đi, theo cái dòng.
Và cô bước ra khỏi cái dòng, và cô đứng trước nó, và cái dòng đi quanh, và cái người đó dừng lại.
Và cô nói mười câu.
“Tôi là Nguyễn Minh Châu. Tôi hai mươi tư tuổi, và tôi ở Sài Gòn. Cha tôi là Lê Trung, và mẹ tôi là Nguyễn Thị Hồng. Cha của bà Ba là cha của cha tôi. Và bà Ba là người đã sinh bà ở một cái hầm, năm 1991, ở một cái nơi mà bà chưa từng quay lại. Và bà Ba là người đã cho bà cái họ Nguyễn, năm 2015, qua một cái lá thư mà bà ấy đã gửi qua bà Bình, và bà Bình là người đã nuôi tôi từ khi tôi mười tám tuổi. Và bà Ba là người đã viết cho tôi một cái lá thư, chín ngày trước, và nó nói rằng tôi có một cái người chị, và nó về hôm nay, trên chuyến bay này. Và nó là bà. Và tôi là em của bà. Và tôi đã không biết nó cho tới chín ngày trước. Và tôi đã không tin nó cho tới ba ngày trước, khi tôi thấy một cái ảnh của bà, ở cái tuổi mười, và nó giống cái ảnh của tôi ở cái tuổi mười, và nó là một cái ảnh của bà bà của chúng ta, ở một cái xóm ở Kiên Giang, và nó là cái ảnh duy nhất mà bà Ba còn.”
Rồi cô dừng, ở cái câu thứ mười, và cô không nói gì thêm, và cô cầm cái hoa, và cô đưa nó ra.
Và cái người đó đứng im, và cái vali đứng cạnh, và cái dòng người đi quanh hai cái người, và không ai dừng.
Và nó không cầm cái hoa.
Nó đứng đó, và nó bắt đầu khóc.
Và nó khóc một cách kỳ — không có tiếng, và không có cái run, và cái nước mắt nó đi xuống, và nó không lau, và nó không ngồi, và nó đứng, và nó khóc, trong bốn phút, và cô đứng đó, và cô không đi, và cô không ôm nó, và bà Ba đã dặn, và cô nghe.
Và sau bốn phút, nó dừng.
Và nó cầm cái hoa.
Và nó nói một câu, và nó là cái câu đầu tiên mà nó nói bằng tiếng Việt, trong hai mươi tám năm, và nó phát âm sai hai cái chữ, và nó là câu mà cô sẽ nhớ:
“Em ơi. Anh Nam — nó là ai? Vì nó đang đứng ở cái cổng ngoài, và nó cầm một cái ảnh của cha nó, và nó đứng đó từ hai giờ, và nó chưa từng đi vào.”
Cô quay ra cổng.
Và Hoài Nam đứng đó, và anh ta cầm một cái ảnh, và anh ta không bước vào, và anh ta chưa từng bước vào, vì anh ta đã nói với bà Ba, mười ngày trước, ở Long An, một câu:
“Tôi không đi vào. Tôi chỉ đến để thấy nó đi ra khỏi cái máy bay. Vì cha tôi đã không thấy nó đi ra khỏi một con tàu. Và tôi đi thay cha tôi, một lần.”
Và cô không nói gì với cái người chị của cô.
Cô chỉ bước ra khỏi cái cổng, và cô đi tới chỗ anh ta, và cô đặt cái tay lên cái tay anh ta, và cái ảnh trong tay anh ta là cái ảnh của Phạm Công Danh, năm 1990, ở một cái cầu, mười một giờ đêm, và nó mặc một cái áo không cúc.
Và cái người chị đó đi ra khỏi cổng, và nó theo cô, và nó đi tới chỗ anh ta, và nó đứng cạnh, và nó nhìn cái ảnh.
Và nó nói:
“Bà Ba đã kể tôi nghe về cha bà. Bà ấy nói ông ấy là người đã đưa bà ra khỏi con tàu. Và bà ấy nói ông ấy đã không về. Và bà ấy nói con của ông ấy đã về, và nó đã đợi hai mươi tám năm, và nó đã đợi ở một cái chỗ mà không ai biết.”
Và Hoài Nam nói, và nó là cái câu đầu tiên mà anh ta nói trong mười lăm phút:
“Tôi là Cố Hoài Nam. Và cha tôi là Phạm Công Danh. Và tôi không biết bà là ai cho tới hôm qua. Nhưng tôi biết một cái thứ: cha tôi đã nói với tôi, trước khi chết, rằng có một cái người đã sống ở bên kia, và nó là một cái người đàn bà, và nó đã được đưa ra khỏi con tàu bởi cha tôi, và nó đã trả bằng một cái lá thư, mỗi tháng, trong tám năm. Và tôi đã nghĩ nó là một cái chuyện mà cha tôi đã nghĩ ra, để tôi có một cái gì để sống với nó.”
“Và nó không phải một cái chuyện.”
“Nó không phải một cái chuyện.” Anh ta nói. “Và nó là cái thứ mà tôi đã sống với nó hai mươi tám năm, và nó là cái thứ mà cha tôi đã sống với nó chín năm, và nó là cái thứ mà đã chết cùng cha tôi, và nó là cái thứ mà đã sống lại, hôm nay, ở một cái cổng sân bay.”
Và ba cái người đứng ở một cái cổng sân bay, và cái dòng người đi quanh, và ở trong cái vali của cái người chị đó có một cái thứ, và nó là một cái thứ mà nó đã mang theo trong hai mươi tám năm, và nó chưa mở, và nó sẽ mở nó ở cái nhà số 9, trong cái tầng hầm, dưới cái giường không có tên.
Và cái thứ đó là một cái cái gì, và nó là cái chương sau.
Đám tang của bà Bình ở Long An, và nó nhỏ, và nó có bốn cái bàn, và nó có một cái người đứng ở ngoài, trong suốt một ngày, và không ai hỏi nó là ai, vì bà Ba đã nói với mọi cái người: “Nó là người của cái nhà số 9. Và nó đến để đưa bà ấy một cái chén.”
Và nó là đúng.
Và sau đám tang, bà Ba dẫn cô ra sau cái nhà, và ở đó có cái cây, và dưới cái cây có một cái chén cơm, đã nguội, và trên cái chén có một cái lá, và nó đã rơi xuống, trong đêm, và nó nằm ở giữa cái chén, và nó không bị gió thổi đi.
“Bà đã đặt nó hôm qua.” Bà Ba nói. “Và bà chưa đụng nó. Và cháu ơi, bà không biết một cái lá là một cái cái gì. Nhưng nó rơi đúng vào giữa, trong một cái đêm không gió, và bà đã đứng ở đây hai tiếng, và nó đã không đi.”
Cô nhìn cái chén, và cái lá, và cô không đụng nó.
“Bà Ba. Ngày mười hai tháng Mười Hai. Chuyến bay VN37.”
“Ừ.” Bà Ba nói. “Và cháu ơi, bà không biết cháu nói gì với nó ở sân bay. Và bà không hỏi. Bà chỉ có một cái dặn: cháu đừng nói nó ở một cái cái phòng, và cháu đừng nói nó ngồi xuống. Cháu nói nó đứng, ở cái cổng, và cháu nói nó trong mười câu, và cháu dừng ở câu thứ mười. Và nếu nó khóc, thì cháu đừng ôm nó. Cháu để nó khóc, vì nó đã không khóc được trong hai mươi tám năm, và nó phải khóc một lần, một mình, và nó phải biết rằng có một cái người đang đứng đó, và không đi.”
Ngày mười hai tháng Mười Hai.
Sân bay Tân Sơn Nhất, cái cổng trong, và nó có một cái dòng người, và cô đứng ở nó, và cô mặc một cái áo trắng, và cô cầm một cái hoa cúc — một bó nhỏ, mười một cái bông.
Và hai giờ hai mươi, cái dòng người đi ra, và nó đi chậm, và cô nhìn từng cái mặt, và cô không nhìn cái bảng điện tử, và cô không nhìn cái điện thoại, và cô chỉ nhìn.
Và hai giờ ba mươi bốn phút, cô thấy nó.
Nó là một cái người đàn bà khoảng hai mươi tám, và nó cao, và nó mặc một cái áo khoác xám, và nó kéo một cái vali, và nó đi chậm, và nó không nhìn quanh, vì nó không tìm ai. Nó chỉ đi, theo cái dòng.
Và cô bước ra khỏi cái dòng, và cô đứng trước nó, và cái dòng đi quanh, và cái người đó dừng lại.
Và cô nói mười câu.
“Tôi là Nguyễn Minh Châu. Tôi hai mươi tư tuổi, và tôi ở Sài Gòn. Cha tôi là Lê Trung, và mẹ tôi là Nguyễn Thị Hồng. Cha của bà Ba là cha của cha tôi. Và bà Ba là người đã sinh bà ở một cái hầm, năm 1991, ở một cái nơi mà bà chưa từng quay lại. Và bà Ba là người đã cho bà cái họ Nguyễn, năm 2015, qua một cái lá thư mà bà ấy đã gửi qua bà Bình, và bà Bình là người đã nuôi tôi từ khi tôi mười tám tuổi. Và bà Ba là người đã viết cho tôi một cái lá thư, chín ngày trước, và nó nói rằng tôi có một cái người chị, và nó về hôm nay, trên chuyến bay này. Và nó là bà. Và tôi là em của bà. Và tôi đã không biết nó cho tới chín ngày trước. Và tôi đã không tin nó cho tới ba ngày trước, khi tôi thấy một cái ảnh của bà, ở cái tuổi mười, và nó giống cái ảnh của tôi ở cái tuổi mười, và nó là một cái ảnh của bà bà của chúng ta, ở một cái xóm ở Kiên Giang, và nó là cái ảnh duy nhất mà bà Ba còn.”
Rồi cô dừng, ở cái câu thứ mười, và cô không nói gì thêm, và cô cầm cái hoa, và cô đưa nó ra.
Và cái người đó đứng im, và cái vali đứng cạnh, và cái dòng người đi quanh hai cái người, và không ai dừng.
Và nó không cầm cái hoa.
Nó đứng đó, và nó bắt đầu khóc.
Và nó khóc một cách kỳ — không có tiếng, và không có cái run, và cái nước mắt nó đi xuống, và nó không lau, và nó không ngồi, và nó đứng, và nó khóc, trong bốn phút, và cô đứng đó, và cô không đi, và cô không ôm nó, và bà Ba đã dặn, và cô nghe.
Và sau bốn phút, nó dừng.
Và nó cầm cái hoa.
Và nó nói một câu, và nó là cái câu đầu tiên mà nó nói bằng tiếng Việt, trong hai mươi tám năm, và nó phát âm sai hai cái chữ, và nó là câu mà cô sẽ nhớ:
“Em ơi. Anh Nam — nó là ai? Vì nó đang đứng ở cái cổng ngoài, và nó cầm một cái ảnh của cha nó, và nó đứng đó từ hai giờ, và nó chưa từng đi vào.”
Cô quay ra cổng.
Và Hoài Nam đứng đó, và anh ta cầm một cái ảnh, và anh ta không bước vào, và anh ta chưa từng bước vào, vì anh ta đã nói với bà Ba, mười ngày trước, ở Long An, một câu:
“Tôi không đi vào. Tôi chỉ đến để thấy nó đi ra khỏi cái máy bay. Vì cha tôi đã không thấy nó đi ra khỏi một con tàu. Và tôi đi thay cha tôi, một lần.”
Và cô không nói gì với cái người chị của cô.
Cô chỉ bước ra khỏi cái cổng, và cô đi tới chỗ anh ta, và cô đặt cái tay lên cái tay anh ta, và cái ảnh trong tay anh ta là cái ảnh của Phạm Công Danh, năm 1990, ở một cái cầu, mười một giờ đêm, và nó mặc một cái áo không cúc.
Và cái người chị đó đi ra khỏi cổng, và nó theo cô, và nó đi tới chỗ anh ta, và nó đứng cạnh, và nó nhìn cái ảnh.
Và nó nói:
“Bà Ba đã kể tôi nghe về cha bà. Bà ấy nói ông ấy là người đã đưa bà ra khỏi con tàu. Và bà ấy nói ông ấy đã không về. Và bà ấy nói con của ông ấy đã về, và nó đã đợi hai mươi tám năm, và nó đã đợi ở một cái chỗ mà không ai biết.”
Và Hoài Nam nói, và nó là cái câu đầu tiên mà anh ta nói trong mười lăm phút:
“Tôi là Cố Hoài Nam. Và cha tôi là Phạm Công Danh. Và tôi không biết bà là ai cho tới hôm qua. Nhưng tôi biết một cái thứ: cha tôi đã nói với tôi, trước khi chết, rằng có một cái người đã sống ở bên kia, và nó là một cái người đàn bà, và nó đã được đưa ra khỏi con tàu bởi cha tôi, và nó đã trả bằng một cái lá thư, mỗi tháng, trong tám năm. Và tôi đã nghĩ nó là một cái chuyện mà cha tôi đã nghĩ ra, để tôi có một cái gì để sống với nó.”
“Và nó không phải một cái chuyện.”
“Nó không phải một cái chuyện.” Anh ta nói. “Và nó là cái thứ mà tôi đã sống với nó hai mươi tám năm, và nó là cái thứ mà cha tôi đã sống với nó chín năm, và nó là cái thứ mà đã chết cùng cha tôi, và nó là cái thứ mà đã sống lại, hôm nay, ở một cái cổng sân bay.”
Và ba cái người đứng ở một cái cổng sân bay, và cái dòng người đi quanh, và ở trong cái vali của cái người chị đó có một cái thứ, và nó là một cái thứ mà nó đã mang theo trong hai mươi tám năm, và nó chưa mở, và nó sẽ mở nó ở cái nhà số 9, trong cái tầng hầm, dưới cái giường không có tên.
Và cái thứ đó là một cái cái gì, và nó là cái chương sau.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa