Chương 64: Cái Vợ
Chương 64: Cái Vợ
Hoài Nam kết hôn với cô Hòa sau hai năm.
Không phải một cái đám cưới. Một cái cái giấy, ở một cái văn phòng công chứng, và hai cái cái nhân chứng: bà Tư, và chị Bích.
Và cô không biết nó trước hai ngày, và nó là cái cái điều mà anh ta đã chọn, và anh ta đã giải thích nó, ở một cái quán hủ tiếu Lý Chính Thắng, một tối thứ Tư:
“Tôi không làm một cái cái đám cưới, vì cha tôi đã không có một cái cái đám cưới. Cha tôi và mẹ tôi đã ở với nhau mười hai năm, và nó đã không có một cái cái giấy, và nó đã không có một cái cái đám cưới, và nó đã có một cái con, và nó là tôi. Và cha tôi đã chết mà không có một cái cái giấy cho cái thứ mà ông ấy đã có. Và tôi không làm một cái cái đám cưới. Tôi làm một cái cái giấy. Và cái giấy đó là cái thứ mà cha tôi đã không có. Và nó là cái thứ mà tôi trả cho cha tôi, bằng cái cái đời của tôi.”
“Và cô Hòa đã nói gì?”
“Cô Hòa đã nói: ‘Tôi không biết anh đã hỏi tôi cái gì, trong hai năm, và tôi đã trả lời nó bằng một cái cái cách mà nó là một cái cái cách của một cái người đã sống ở một cái hầm, mười chín tháng, và nó là một cái cách mà nó không có một cái cái từ. Nên tôi trả lời bằng một cái cái giấy. Và cái giấy đó là cái thứ mà tôi chưa từng có, trong hai mươi tám năm, và nó là một cái cái giấy mà nó ghi rằng tôi thuộc về một cái người. Và cha của anh đã không thuộc về một cái ai, vì cái cái nước mà ông ấy đã về thì nó không có một cái cái giấy cho một cái người đã đi ra khỏi một con tàu. Và anh và tôi — chúng ta là cái con của hai cái người mà đã không thuộc về một cái ai. Và chúng ta làm một cái cái giấy, và nó là cái giấy đầu tiên trong cái dòng.’”
Và cô nói:
“Và tôi là cái gì trong cái cái giấy đó?”
“Cô là cái người mà đã đưa cái cái chị của tôi ra khỏi một cái cái cổng sân bay, bằng mười câu.” Anh ta nói. “Và nó là cái thứ mà tôi đã đợi hai mươi tám năm, và tôi đã không biết tôi đợi nó. Và nó là cái thứ mà cha tôi đã đợi chín năm, và nó đã chết mà không đợi được. Và tôi trả cho cha tôi cái thứ đó, bằng một cái cái giấy, và nó có hai cái tên, và cái thứ hai là cái tên của một cái người mà đã đi ra khỏi một con tàu, và nó đã về, và nó là cái người mà đã bị ôm trong một cái hầm bởi một cái người đàn bà đã nấu cơm cho một cái người không có tên. Và cha tôi đã không có một cái cái giấy cho cái người đó. Và tôi có. Và nó là tất cả.”
Và cái cái giấy đó được ký vào một cái cái ngày, và nó là cái ngày mười bảy tháng Chín — cái ngày mà cha cô đã chọn, và cái ngày mà cái đồng hồ ở cái nhà số 9 đã dừng.
Và bà Tư đến, với cái nạng, và cô Hòa mặc một cái áo bà ba trắng, và chị Bích mặc một cái cái áo thường, và cô mặc một cái áo trắng, và nó là cái áo mà cô đã mặc ở một cái cổng sân bay, hai năm trước, và nó chưa được giặt, vì cô đã không giặt nó — cô đã để nó trong một cái ngăn kéo, và nó có mùi của một cái cái sân bay, và cô đã mặc nó hôm nay, và nó là cái áo của một cái cái ngày.
Và cái văn phòng công chứng ở đường Lý Tự Trọng, và cái người công chứng là một cái người đàn ông trẻ, và nó đọc cái cái giấy, và nó hỏi:
“Cô Nguyễn Thị Hòa. Cô xác nhận cô kết hôn với ông Cố Hoài Nam?”
“Tôi xác nhận.”
“Và ông Cố Hoài Nam?”
“Tôi xác nhận.”
“Và hai cái nhân chứng?”
Bà Tư ký, và chị Bích ký.
Và cái người công chứng đóng dấu, và ông ta nói:
“Xong rồi.”
Và nó là tất cả.
Và cái cái giấy đó được đặt trong một cái hộp, và cái hộp được đặt trong một cái ngăn kéo ở cái nhà số 9, và cái ngăn kéo đó là cái ngăn kéo mà cái cái giấy mua bán của cái cái đất ở Bình Chánh đã từng nằm, và nó là cái ngăn kéo mà bà Tư đã mở một lần một năm, và nó là cái ngăn kéo mà không có một cái cái khóa, vì nó không cần một cái cái khóa.
Và sau cái văn phòng, họ đi tới cái nhà số 9, và bà Tư nấu một cái nồi cơm, và nó là cái nồi của một cái ngày, và nó có mười hai cái chén, và cái chén thứ mười hai — hôm nay nó không đợi ai. Nó là của cô Hòa, và cô Hòa ăn, và cái cơm đó có đủ muối.
Và cái chén thứ mười ba vẫn không ai ăn.
Và nó đợi.
Hoài Nam kết hôn với cô Hòa sau hai năm.
Không phải một cái đám cưới. Một cái cái giấy, ở một cái văn phòng công chứng, và hai cái cái nhân chứng: bà Tư, và chị Bích.
Và cô không biết nó trước hai ngày, và nó là cái cái điều mà anh ta đã chọn, và anh ta đã giải thích nó, ở một cái quán hủ tiếu Lý Chính Thắng, một tối thứ Tư:
“Tôi không làm một cái cái đám cưới, vì cha tôi đã không có một cái cái đám cưới. Cha tôi và mẹ tôi đã ở với nhau mười hai năm, và nó đã không có một cái cái giấy, và nó đã không có một cái cái đám cưới, và nó đã có một cái con, và nó là tôi. Và cha tôi đã chết mà không có một cái cái giấy cho cái thứ mà ông ấy đã có. Và tôi không làm một cái cái đám cưới. Tôi làm một cái cái giấy. Và cái giấy đó là cái thứ mà cha tôi đã không có. Và nó là cái thứ mà tôi trả cho cha tôi, bằng cái cái đời của tôi.”
“Và cô Hòa đã nói gì?”
“Cô Hòa đã nói: ‘Tôi không biết anh đã hỏi tôi cái gì, trong hai năm, và tôi đã trả lời nó bằng một cái cái cách mà nó là một cái cái cách của một cái người đã sống ở một cái hầm, mười chín tháng, và nó là một cái cách mà nó không có một cái cái từ. Nên tôi trả lời bằng một cái cái giấy. Và cái giấy đó là cái thứ mà tôi chưa từng có, trong hai mươi tám năm, và nó là một cái cái giấy mà nó ghi rằng tôi thuộc về một cái người. Và cha của anh đã không thuộc về một cái ai, vì cái cái nước mà ông ấy đã về thì nó không có một cái cái giấy cho một cái người đã đi ra khỏi một con tàu. Và anh và tôi — chúng ta là cái con của hai cái người mà đã không thuộc về một cái ai. Và chúng ta làm một cái cái giấy, và nó là cái giấy đầu tiên trong cái dòng.’”
Và cô nói:
“Và tôi là cái gì trong cái cái giấy đó?”
“Cô là cái người mà đã đưa cái cái chị của tôi ra khỏi một cái cái cổng sân bay, bằng mười câu.” Anh ta nói. “Và nó là cái thứ mà tôi đã đợi hai mươi tám năm, và tôi đã không biết tôi đợi nó. Và nó là cái thứ mà cha tôi đã đợi chín năm, và nó đã chết mà không đợi được. Và tôi trả cho cha tôi cái thứ đó, bằng một cái cái giấy, và nó có hai cái tên, và cái thứ hai là cái tên của một cái người mà đã đi ra khỏi một con tàu, và nó đã về, và nó là cái người mà đã bị ôm trong một cái hầm bởi một cái người đàn bà đã nấu cơm cho một cái người không có tên. Và cha tôi đã không có một cái cái giấy cho cái người đó. Và tôi có. Và nó là tất cả.”
Và cái cái giấy đó được ký vào một cái cái ngày, và nó là cái ngày mười bảy tháng Chín — cái ngày mà cha cô đã chọn, và cái ngày mà cái đồng hồ ở cái nhà số 9 đã dừng.
Và bà Tư đến, với cái nạng, và cô Hòa mặc một cái áo bà ba trắng, và chị Bích mặc một cái cái áo thường, và cô mặc một cái áo trắng, và nó là cái áo mà cô đã mặc ở một cái cổng sân bay, hai năm trước, và nó chưa được giặt, vì cô đã không giặt nó — cô đã để nó trong một cái ngăn kéo, và nó có mùi của một cái cái sân bay, và cô đã mặc nó hôm nay, và nó là cái áo của một cái cái ngày.
Và cái văn phòng công chứng ở đường Lý Tự Trọng, và cái người công chứng là một cái người đàn ông trẻ, và nó đọc cái cái giấy, và nó hỏi:
“Cô Nguyễn Thị Hòa. Cô xác nhận cô kết hôn với ông Cố Hoài Nam?”
“Tôi xác nhận.”
“Và ông Cố Hoài Nam?”
“Tôi xác nhận.”
“Và hai cái nhân chứng?”
Bà Tư ký, và chị Bích ký.
Và cái người công chứng đóng dấu, và ông ta nói:
“Xong rồi.”
Và nó là tất cả.
Và cái cái giấy đó được đặt trong một cái hộp, và cái hộp được đặt trong một cái ngăn kéo ở cái nhà số 9, và cái ngăn kéo đó là cái ngăn kéo mà cái cái giấy mua bán của cái cái đất ở Bình Chánh đã từng nằm, và nó là cái ngăn kéo mà bà Tư đã mở một lần một năm, và nó là cái ngăn kéo mà không có một cái cái khóa, vì nó không cần một cái cái khóa.
Và sau cái văn phòng, họ đi tới cái nhà số 9, và bà Tư nấu một cái nồi cơm, và nó là cái nồi của một cái ngày, và nó có mười hai cái chén, và cái chén thứ mười hai — hôm nay nó không đợi ai. Nó là của cô Hòa, và cô Hòa ăn, và cái cơm đó có đủ muối.
Và cái chén thứ mười ba vẫn không ai ăn.
Và nó đợi.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa