Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Cái người đi ra khỏi tù vào một cái sáng thứ Tư, ngày mười bảy tháng Ba, và nó sáu mươi tám tuổi.
Và nó đứng ở cái cổng của cái trại, và nó không có một cái túi, và nó không có một cái điện thoại, và nó có một cuốn sách — cuốn thứ hai mà cô đã gửi, và nó đã được đọc hai mươi mốt lần, và cái bìa của nó không còn, và những cái trang của nó được buộc bằng một cái dây cao su màu nâu.
Và nó đi bằng xe khách, và nó đi hai ngày, và nó đến Sài Gòn vào sáng thứ Sáu.
Và nó không đi tới cái nhà số 9 trước.
Nó đi tới Bình Chánh, và nó đi tới cái vườn, và cái cổng không khóa, và cái biển ở cổng ghi cái câu mà cô đã viết, hai mươi năm trước, và nó đã đọc nó hai lần, và nó đã đi vào.
Và cái vườn trống, vào sáng thứ Sáu, vì nó là một cái ngày mà không phải cái ngày mở, và cái cái cây đầu tiên đã năm mét, và cái cây thứ mười một đã được trồng bởi một cái người trẻ, năm ngoái, và nó đã ba mét.
Và nó đi tới cái cây đầu tiên, và nó đứng trước nó, và nó không đụng vào nó.
Và nó ở trong vườn hai ngày.
Và nó ngủ ở dưới cái cây thứ nhất, và nó ngủ không có một cái cái chăn, và nó là một cái cái ngủ mà nó là cái ngủ đầu tiên của nó ngoài tù, trong hai mươi năm, và nó đã không ngủ, trong hai ngày đầu, vì nó đã đếm, và nó đã đếm tới bốn giờ mười bảy, và nó đã dừng, và nó là cái lần đầu tiên mà nó dừng, trong hai mươi năm, vì nó không phải đếm trong một cái phòng ăn.
Và nó đếm vì nó đã quen. Và nó đã dừng vì nó đã quen. Và hai cái thứ đó giống nhau, và nó là tất cả những cái gì nó còn.
Và sáng Chủ nhật, cô đến.
Và cô đến lúc bảy giờ sáng, vì cô đến cái vườn mỗi sáng Chủ nhật, và cô đã làm nó trong mười năm, và nó là cái cái việc mà bà Tư đã dặn, trước khi bà ta đi: “Cô đến cái vườn, mỗi Chủ nhật, và cô không làm gì. Cô chỉ đứng ở cổng, và cô nhìn, và cô đi ra. Vì một cái cái vườn mà nó không có một cái cái người đến nhìn nó thì nó là một cái vườn của những cái cái người đã chết. Và nó phải có một cái cái người mà sống.”
Và cô đến, và cô thấy nó.
Nó đứng ở dưới cái cây thứ nhất, và nó mặc một cái áo công nhân, và nó già, và nó gầy, và nó không nhìn cô, và nó nhìn cái cây.
Và cô đứng ở cổng, và cô không đi vào.
Và nó nói, không quay lại:
“Cô đến đúng giờ.”
“Dạ.”
“Và cô ơi, tôi đã ở đây hai ngày. Và tôi đã không đụng vào cái cây. Và tôi đã không đụng vào bất cứ một cái cái thứ nào trong vườn này. Và tôi đã ngủ ở dưới nó, và tôi biết nó không phải cái nơi cho một cái người ngủ. Nên hôm nay tôi làm một cái cái việc: tôi dọn cái vườn. Và tôi đã dọn nó trong hai ngày, và nó là cái việc mà tôi xin, hai mươi năm trước, và nó là cái việc mà cô đã trả lời, hai mươi năm trước, bằng một tờ giấy, và tờ giấy đó đã được đọc bởi một cái người trong tù, mười một lần, và nó là cái tờ giấy mà tôi đã mang nó ra khỏi tù, và nó nằm trong cuốn sách, ở trang ba mươi bốn, vì tôi đã đặt nó ở đó, và nó là cái trang mà tôi đã không đọc, vì tôi đã biết nó thuộc lòng.”
Và cô bước vào vườn, và cô đi tới chỗ nó, và nó quay lại, và cô thấy cái mặt của nó lần thứ hai trong đời.
Cái lần đầu tiên là ở một cái tầng hầm, mười tám năm trước, trong một cái đèn dầu.
Và cái mặt của nó đã già, và nó không đổi — nó vẫn là một cái mặt mà cô có thể đứng cạnh nó ở một cái chợ và không nhìn lần thứ hai.
“Ông đã dọn vườn?”
“Tôi đã quét, và tôi đã tưới, và tôi đã nhổ cỏ, và tôi đã không đụng vào mười một cái cây.” Nó nói. “Và tôi đã đụng vào một cái thứ: một cái cái hố ở gốc cái cây thứ nhất, và nó đã bị một con cún đào, và tôi đã lấp nó lại, bằng đất, và tôi đã đắp nó, và nó là cái hố mà có một cái phong bì ở trong đó. Và tôi đã không mở cái phong bì. Và tôi đã lấp nó lại, và tôi đã đắp nó bằng chính cái đất mà nó đã bị đào ra, và nó là cùng một cái đất. Và tôi biết nó là của một cái người mà chưa từng có một cái cái chỗ để nằm. Và nó đã có. Và nó đã bị con cún làm phiền. Và tôi đã trả nó.”
Và cô nhìn nó.
“Ông Đẹt.”
“Dạ.”
“Ông đã ăn cơm chưa?”
“Chưa. Từ sáng thứ Tư, ở trại.”
“Vậy ông đi theo tôi.” Cô nói. “Và ông ăn ở cái nhà số 9. Và cái chén thứ mười hai đã đợi ông hai mươi năm, và nó là cái chén mà bà Tư đã đặt, và bà Tư đã không rửa nó, và cô Hòa đã đặt nó mỗi sáng, và nó là một cái chén mà nó đã nguội hai mươi năm, và nó là cái chén mà nó đợi ông. Và ông ăn nó nguội. Và đó là cái điều mà bà Tư đã muốn. Và bà Tư đã không nói nó với tôi, nhưng tôi biết, vì bà Tư đã để lại một tờ giấy, và nó ghi: ‘Cái chén thứ mười hai đợi một cái người mà đã ăn một cái chén cơm của tôi, ở một cái bến xe, năm 1989, và nó phải ăn nó nguội, vì cái chén của tôi lúc đó đã nguội, và nó là cái chén mà nó đã không nguội trong đầu nó, trong hai mươi tám năm. Và hôm nay nó nguội thật. Và nó là cái điều mà tôi đã đợi.’”
Và ông ta nhìn cô, và cái mắt của ông ta đỏ.
“Cô ơi.”
“Dạ.”
“Tôi đã không ăn cơm không muối, trong hai mươi năm, ở trong tù.” Ông ta nói. “Và tôi đã xin cái ông đầu bếp, và ông ta đã không cho, sau năm đầu tiên, vì ông ta nói: ‘Tôi không làm một cái cái điều mà nó làm cho một cái người đau. Nó không phải cái việc của một cái cái bếp.’ Và tôi đã ăn cơm có muối, trong mười lăm năm. Và nó là cái điều mà tôi đã không nói với cô, trong hai mươi thư. Và tôi xin cô tha thứ cho điều đó, trước khi tôi ăn cái chén của bà Tư. Vì cái chén của bà Tư là một cái chén không muối. Và tôi không còn là một cái người mà đã giữ nó, trong hai mươi năm. Tôi là một cái người mà đã từ bỏ nó, ở trong tù, năm thứ sáu, vì tôi đã nghe một cái người nói một cái câu, ở một cái phòng ăn, và cái câu đó là: ‘Một cái người mà giữ một cái cái sự đau thì nó không sống. Nó chỉ ở.’ Và tôi đã muốn sống. Và tôi đã từ bỏ cái sự đau. Và nó là cái điều mà tôi đã không nói với cô, và nó là cái điều mà tôi đã xin bà Tư tha thứ, mỗi sáng, trong mười lăm năm, ở một cái cái chỗ mà không có một cái cái chén.”
Và cô nói:
“Ông ăn nó có muối thì cũng được. Bà Tư đã không cho ông một cái chén để ông giữ một cái sự đau. Bà ta đã cho ông một cái chén vì bà ta đã thấy một cái người lạnh, ở một cái bến xe, và bà ta đã có một cái nồi. Và cái nồi thì nó không hỏi nó cho ai muối. Nó chỉ nấu. Và hôm nay nó nấu có muối. Và ông ăn.”
Và ông ta ăn, ở cái nhà số 9, một sáng Chủ nhật, và cái chén thứ mười hai là một cái chén cơm có muối, và nó là cái chén mà nó đã đợi hai mươi năm, và nó đã đợi một cái cái nguội, và nó đã đợi một cái cái muối, và nó đã đợi một cái người mà đã từ bỏ cái sự đau, ở trong tù, năm thứ sáu, và đã quay lại, sau hai mươi năm, để chăm một cái cái cây.
Và nó ăn hết.
Và ông ta đặt cái chén xuống, và ông ta nói:
“Nó có muối. Và nó là cái cơm mà tôi đã ăn lần cuối ở bên ngoài, hai mươi năm trước, ở một cái bến xe, và nó là cái cơm mà bà ấy đã cho tôi, và nó không có muối, và nó là cái cơm mà tôi đã giữ trong đầu tôi, trong hai mươi tám năm, và nó không nguội. Và hôm nay nó có muối. Và nó nguội. Và tôi đã sống.”
Và cô Hòa đứng ở cái cửa bếp, và cô ta không nói gì, và cô ta đã nấu cái chén đó, sáng đó, và nó là cái chén mà cô ta đã nấu trong mười hai năm, và nó là cái chén mà nó đã đợi một cái người mà chưa sinh ra, và nó đã đợi một cái người đã ra khỏi tù.
Và nó đã đợi cả hai.
Và nó là một cái chén mà nó đã đợi hai mươi năm, và nó đã không nguội.
Và nó là tất cả.
Cái người đi ra khỏi tù vào một cái sáng thứ Tư, ngày mười bảy tháng Ba, và nó sáu mươi tám tuổi.
Và nó đứng ở cái cổng của cái trại, và nó không có một cái túi, và nó không có một cái điện thoại, và nó có một cuốn sách — cuốn thứ hai mà cô đã gửi, và nó đã được đọc hai mươi mốt lần, và cái bìa của nó không còn, và những cái trang của nó được buộc bằng một cái dây cao su màu nâu.
Và nó đi bằng xe khách, và nó đi hai ngày, và nó đến Sài Gòn vào sáng thứ Sáu.
Và nó không đi tới cái nhà số 9 trước.
Nó đi tới Bình Chánh, và nó đi tới cái vườn, và cái cổng không khóa, và cái biển ở cổng ghi cái câu mà cô đã viết, hai mươi năm trước, và nó đã đọc nó hai lần, và nó đã đi vào.
Và cái vườn trống, vào sáng thứ Sáu, vì nó là một cái ngày mà không phải cái ngày mở, và cái cái cây đầu tiên đã năm mét, và cái cây thứ mười một đã được trồng bởi một cái người trẻ, năm ngoái, và nó đã ba mét.
Và nó đi tới cái cây đầu tiên, và nó đứng trước nó, và nó không đụng vào nó.
Và nó ở trong vườn hai ngày.
Và nó ngủ ở dưới cái cây thứ nhất, và nó ngủ không có một cái cái chăn, và nó là một cái cái ngủ mà nó là cái ngủ đầu tiên của nó ngoài tù, trong hai mươi năm, và nó đã không ngủ, trong hai ngày đầu, vì nó đã đếm, và nó đã đếm tới bốn giờ mười bảy, và nó đã dừng, và nó là cái lần đầu tiên mà nó dừng, trong hai mươi năm, vì nó không phải đếm trong một cái phòng ăn.
Và nó đếm vì nó đã quen. Và nó đã dừng vì nó đã quen. Và hai cái thứ đó giống nhau, và nó là tất cả những cái gì nó còn.
Và sáng Chủ nhật, cô đến.
Và cô đến lúc bảy giờ sáng, vì cô đến cái vườn mỗi sáng Chủ nhật, và cô đã làm nó trong mười năm, và nó là cái cái việc mà bà Tư đã dặn, trước khi bà ta đi: “Cô đến cái vườn, mỗi Chủ nhật, và cô không làm gì. Cô chỉ đứng ở cổng, và cô nhìn, và cô đi ra. Vì một cái cái vườn mà nó không có một cái cái người đến nhìn nó thì nó là một cái vườn của những cái cái người đã chết. Và nó phải có một cái cái người mà sống.”
Và cô đến, và cô thấy nó.
Nó đứng ở dưới cái cây thứ nhất, và nó mặc một cái áo công nhân, và nó già, và nó gầy, và nó không nhìn cô, và nó nhìn cái cây.
Và cô đứng ở cổng, và cô không đi vào.
Và nó nói, không quay lại:
“Cô đến đúng giờ.”
“Dạ.”
“Và cô ơi, tôi đã ở đây hai ngày. Và tôi đã không đụng vào cái cây. Và tôi đã không đụng vào bất cứ một cái cái thứ nào trong vườn này. Và tôi đã ngủ ở dưới nó, và tôi biết nó không phải cái nơi cho một cái người ngủ. Nên hôm nay tôi làm một cái cái việc: tôi dọn cái vườn. Và tôi đã dọn nó trong hai ngày, và nó là cái việc mà tôi xin, hai mươi năm trước, và nó là cái việc mà cô đã trả lời, hai mươi năm trước, bằng một tờ giấy, và tờ giấy đó đã được đọc bởi một cái người trong tù, mười một lần, và nó là cái tờ giấy mà tôi đã mang nó ra khỏi tù, và nó nằm trong cuốn sách, ở trang ba mươi bốn, vì tôi đã đặt nó ở đó, và nó là cái trang mà tôi đã không đọc, vì tôi đã biết nó thuộc lòng.”
Và cô bước vào vườn, và cô đi tới chỗ nó, và nó quay lại, và cô thấy cái mặt của nó lần thứ hai trong đời.
Cái lần đầu tiên là ở một cái tầng hầm, mười tám năm trước, trong một cái đèn dầu.
Và cái mặt của nó đã già, và nó không đổi — nó vẫn là một cái mặt mà cô có thể đứng cạnh nó ở một cái chợ và không nhìn lần thứ hai.
“Ông đã dọn vườn?”
“Tôi đã quét, và tôi đã tưới, và tôi đã nhổ cỏ, và tôi đã không đụng vào mười một cái cây.” Nó nói. “Và tôi đã đụng vào một cái thứ: một cái cái hố ở gốc cái cây thứ nhất, và nó đã bị một con cún đào, và tôi đã lấp nó lại, bằng đất, và tôi đã đắp nó, và nó là cái hố mà có một cái phong bì ở trong đó. Và tôi đã không mở cái phong bì. Và tôi đã lấp nó lại, và tôi đã đắp nó bằng chính cái đất mà nó đã bị đào ra, và nó là cùng một cái đất. Và tôi biết nó là của một cái người mà chưa từng có một cái cái chỗ để nằm. Và nó đã có. Và nó đã bị con cún làm phiền. Và tôi đã trả nó.”
Và cô nhìn nó.
“Ông Đẹt.”
“Dạ.”
“Ông đã ăn cơm chưa?”
“Chưa. Từ sáng thứ Tư, ở trại.”
“Vậy ông đi theo tôi.” Cô nói. “Và ông ăn ở cái nhà số 9. Và cái chén thứ mười hai đã đợi ông hai mươi năm, và nó là cái chén mà bà Tư đã đặt, và bà Tư đã không rửa nó, và cô Hòa đã đặt nó mỗi sáng, và nó là một cái chén mà nó đã nguội hai mươi năm, và nó là cái chén mà nó đợi ông. Và ông ăn nó nguội. Và đó là cái điều mà bà Tư đã muốn. Và bà Tư đã không nói nó với tôi, nhưng tôi biết, vì bà Tư đã để lại một tờ giấy, và nó ghi: ‘Cái chén thứ mười hai đợi một cái người mà đã ăn một cái chén cơm của tôi, ở một cái bến xe, năm 1989, và nó phải ăn nó nguội, vì cái chén của tôi lúc đó đã nguội, và nó là cái chén mà nó đã không nguội trong đầu nó, trong hai mươi tám năm. Và hôm nay nó nguội thật. Và nó là cái điều mà tôi đã đợi.’”
Và ông ta nhìn cô, và cái mắt của ông ta đỏ.
“Cô ơi.”
“Dạ.”
“Tôi đã không ăn cơm không muối, trong hai mươi năm, ở trong tù.” Ông ta nói. “Và tôi đã xin cái ông đầu bếp, và ông ta đã không cho, sau năm đầu tiên, vì ông ta nói: ‘Tôi không làm một cái cái điều mà nó làm cho một cái người đau. Nó không phải cái việc của một cái cái bếp.’ Và tôi đã ăn cơm có muối, trong mười lăm năm. Và nó là cái điều mà tôi đã không nói với cô, trong hai mươi thư. Và tôi xin cô tha thứ cho điều đó, trước khi tôi ăn cái chén của bà Tư. Vì cái chén của bà Tư là một cái chén không muối. Và tôi không còn là một cái người mà đã giữ nó, trong hai mươi năm. Tôi là một cái người mà đã từ bỏ nó, ở trong tù, năm thứ sáu, vì tôi đã nghe một cái người nói một cái câu, ở một cái phòng ăn, và cái câu đó là: ‘Một cái người mà giữ một cái cái sự đau thì nó không sống. Nó chỉ ở.’ Và tôi đã muốn sống. Và tôi đã từ bỏ cái sự đau. Và nó là cái điều mà tôi đã không nói với cô, và nó là cái điều mà tôi đã xin bà Tư tha thứ, mỗi sáng, trong mười lăm năm, ở một cái cái chỗ mà không có một cái cái chén.”
Và cô nói:
“Ông ăn nó có muối thì cũng được. Bà Tư đã không cho ông một cái chén để ông giữ một cái sự đau. Bà ta đã cho ông một cái chén vì bà ta đã thấy một cái người lạnh, ở một cái bến xe, và bà ta đã có một cái nồi. Và cái nồi thì nó không hỏi nó cho ai muối. Nó chỉ nấu. Và hôm nay nó nấu có muối. Và ông ăn.”
Và ông ta ăn, ở cái nhà số 9, một sáng Chủ nhật, và cái chén thứ mười hai là một cái chén cơm có muối, và nó là cái chén mà nó đã đợi hai mươi năm, và nó đã đợi một cái cái nguội, và nó đã đợi một cái cái muối, và nó đã đợi một cái người mà đã từ bỏ cái sự đau, ở trong tù, năm thứ sáu, và đã quay lại, sau hai mươi năm, để chăm một cái cái cây.
Và nó ăn hết.
Và ông ta đặt cái chén xuống, và ông ta nói:
“Nó có muối. Và nó là cái cơm mà tôi đã ăn lần cuối ở bên ngoài, hai mươi năm trước, ở một cái bến xe, và nó là cái cơm mà bà ấy đã cho tôi, và nó không có muối, và nó là cái cơm mà tôi đã giữ trong đầu tôi, trong hai mươi tám năm, và nó không nguội. Và hôm nay nó có muối. Và nó nguội. Và tôi đã sống.”
Và cô Hòa đứng ở cái cửa bếp, và cô ta không nói gì, và cô ta đã nấu cái chén đó, sáng đó, và nó là cái chén mà cô ta đã nấu trong mười hai năm, và nó là cái chén mà nó đã đợi một cái người mà chưa sinh ra, và nó đã đợi một cái người đã ra khỏi tù.
Và nó đã đợi cả hai.
Và nó là một cái chén mà nó đã đợi hai mươi năm, và nó đã không nguội.
Và nó là tất cả.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái Người Cuối Cùng Đọc
Chương 79: Cái Nhà Không Bán
Chương 78: Cái Chén Đi Xuống
Chương 77: Cái Cây Thứ Bốn Mươi Hai
Chương 76: Cái Chữ Của Hồng
Chương 75: Cái Chữ Ký
Chương 74: Cái Ngày Đọc Tên
Chương 73: Cái Bảng Đồng
Chương 72: Cái Bàn Thứ Năm
Chương 71: Cái Tên
Chương 70: Cái Người Đi Ra
Chương 69: Mười Năm
Chương 68: Cái Tro
Chương 67: Cái Quên
Chương 66: Cái Thư Từ Miền Bắc
Chương 65: Cái Ngăn Kéo
Chương 64: Cái Vợ
Chương 63: Cái Người Ở Lại
Chương 62: Cái Cây Thứ Mười Một
Chương 61: Một Năm
Chương 60: Cái Bên Trong
Chương 59: Cái Chén Thứ Mười Hai
Chương 58: Cái Điều Chưa Kết
Chương 57: Cái Tòa Án
Chương 56: Cái Thứ Trong Cái Vali
Chương 55: Chuyến Bay VN37
Chương 54: Cái Chén Ở Long An
Chương 53: Cái Lá Thư Từ Long An
Chương 52: Cái Cây Ở Sân Sau
Chương 51: Tư Đẹt
Chương 50: Bốn Mươi Mốt Cái Túi
Chương 49: Cái Ngày Đầu Tiên
Chương 48: Mười Một Cái Ghế
Chương 47: Cái Người Đang Chết
Chương 46: Cái Người Không Có Giấy
Chương 45: Thứ Sáu
Chương 44: Cái Tên Nợ
Chương 43: Người Thư Ký
Chương 42: Cái Hộc Số Mười Một
Chương 41: Cái Giường Số Mười Một
Chương 40: Cái Chìa Khóa
Chương 39: Cái Bàn Ba Mươi Sáu Năm
Chương 38: Chị Ba
Chương 37: Cái Đáy Của Cái Hộp
Chương 36: Bốn Mươi Mốt Cái Tên
Chương 35: Ông Ta Đi Vào
Chương 34: Một Ngày
Chương 33: Cái Bàn Ở Số 9
Chương 32: Cái Két Không Ai Biết
Chương 31: Bốn Cái Thùng
Chương 30: Trang Chín Mươi Bảy
Chương 29: Người Bị Đình Chỉ
Chương 28: Cái Hộp Ở Bình Hưng Hòa
Chương 27: Con Số Ba Bốn Mươi Mốt
Chương 26: Xe Khách Đi Long An
Chương 25: Bốn Trăm Hai Mươi Trang
Chương 24: Buổi Họp Ở Quán Cà Phê Ba Sáu
Chương 23: Căn Phòng Trên Đường Nguyễn Văn Trỗi
Chương 22: Người Mở Cửa
Chương 21: Bốn Trăm Mười Hai Người
Chương 20: Cửa Sắt
Chương 19: Cuốn Băng Số Bốn
Chương 18: Đám Tang Không Có Quan Tài
Chương 17: Công An Thật
Chương 16: Người Đeo Đồng Hồ Vàng
Chương 15: Cuốn Băng Số Một
Chương 14: Bức Tường
Chương 13: Nhà Số 11
Chương 12: Cái Đồng Hồ Vàng
Chương 11: Con Mắt Trái
Chương 10: Người Kế Tiếp
Chương 9: Tờ Báo Năm 2004
Chương 8: Phòng Chờ Tầng Mười Hai
Chương 7: Người Đàn Bà Trả Nợ
Chương 6: Người Chú
Chương 5: Bốn Giờ Mười Bảy
Chương 4: Người Đi Theo
Chương 3: Số 9
Chương 2: Bốn Mươi Bảy Cuốn Sổ
Chương 1: Người Đàn Ông Đứng Dưới Mưa