← Trang chủ Độc Sủng Kiều Thê

Chương 10: Lão phu nhân hỏi một câu về cái khay

Chương 10: Lão phu nhân hỏi một câu về cái khay

Người tới hỏi không phải một người. Là ba người, và ba người ấy tới vào ba lúc khác nhau, và cả ba đều nói một câu khác nhau, và cả ba đều muốn một cái khác nhau.

Người thứ nhất tới lúc giờ Thìn, là bà Tần.

Bà Tần vào, và bà ấy không chào, và bà ấy đứng ở cửa, và bà ấy nhìn cái bàn.

Trên bàn có một cái khay.

Cái khay gỗ mun, bốn góc bọc đồng, và trên khay có bốn cái chén, và ba cái chén có nước, và một cái chén không.

"Tam tiểu thư," bà Tần nói. "Cái khay này ai bưng vào?"

Lục Dao ngồi im.

Bà Tần là người của tam phòng, già, đã ở cái phủ này ba mươi mốt năm, và ở cái kiếp kia bà ấy bị phát mãi — bị bán đi — vào cái mùa đông sau khi Lục Dao xuất giá, vì một cái tội mà bà ấy không phạm.

Lục Dao đã cứu bà ấy ở tháng trước bằng một cái cách rất nhỏ: nàng nói với mẹ rằng cái chén trà của bà Tần bị sứt, và mẹ nàng đổi cho bà ấy cái chén khác. Cái chén sứt ấy là của hồi môn của một người đã chết, và nếu nó bị vỡ trong tay bà Tần thì bà Tần phải đền, và bà Tần không có tiền, và người ta sẽ bán bà ấy.

Đó là tất cả những gì Lục Dao làm. Một cái chén.

Nhưng bà Tần biết.

Bà Tần không biết vì sao, và bà ấy sẽ không bao giờ biết vì sao, nhưng bà ấy biết một cái việc: tam tiểu thư đã đổi cái chén cho bà ấy đúng vào cái ngày mà người ta định bắt đầu cái chuyện ấy.

"Ba cái chén có nước, một cái chén không," bà Tần nói. "Cái khay này là khay thứ hai. Khay thứ nhất bưng vào buổi sáng, có bốn cái chén, cả bốn đều có nước. Mà tam tiểu thư uống có một chén."

Lục Dao gật đầu.

"Bà Tần," nàng nói. "Bà ngồi."

Bà Tần ngồi xuống cái ghế đẩu, và bà ấy ngồi rất thẳng, và hai tay bà ấy để trên đầu gối, và Lục Dao nhìn thấy cái tay ấy.

Bàn tay bà Tần có những vết chai ở chỗ khớp ngón cái. Không phải chai do cầm chổi. Chai do cầm kim.

"Bà may áo cho cả phủ bao nhiêu năm rồi?"

"Ba mươi mốt năm ạ. Trước khi con tới thì con đã may cho bà cụ nhà ta mười chín năm."

"Bà biết cái mũi khâu chữ nhật không?"

"Biết ạ." Bà Tần nhìn Lục Dao. "Cái mũi ấy là mũi của người Bắc. Ở kinh thành không ai khâu thế. Chỉ có người ở bốn trấn ngoài mới khâu thế, vì mũi ấy chắc, mà vải ở ngoài ấy dày."

Lục Dao đứng dậy, và nàng đi tới cái tủ, và nàng mở, và nàng lấy ra một cái áo.

Cái áo màu xanh rêu, cũ, và ở cổ tay áo có một cái viền khâu bằng mũi chữ nhật.

"Cái này là của ai?"

Bà Tần nhìn, và cái mặt bà ấy đổi.

"Tam tiểu thư lấy cái này ở đâu?"

"Trong cái rương của mẹ ta. Dưới cùng. Có bốn cái."

Bà Tần im rất lâu. Rồi bà ấy nói:

"Cái này là áo của bà cụ nhà ta. Bà cụ là người ở ngoài trấn. Bà cụ may bốn cái áo này cho bốn người con, và bà cụ may bằng cái mũi ấy, và bà cụ nói: cái mũi này là cái mũi của người không có tiền mua vải tốt, cho nên phải khâu dày."

"Bà cụ nói thế với bà?"

"Bà cụ nói thế với tôi, và bà cụ nói thế với một người nữa." Bà Tần nhìn Lục Dao. "Với cái người may cái viền trong áo của tam tiểu thư hôm qua."

Lục Dao ngồi xuống.

Nàng đã đoán ra từ đêm qua, và bây giờ thì cái đoán ấy thành một cái sự thật: mẹ nàng là người ngoài trấn.

Không phải tiểu thư khuê các. Không phải con nhà quan. Mẹ nàng là con của một người đàn bà may áo ở ngoài trấn, và người đàn bà ấy gả con gái vào Hầu phủ bằng một cái cách mà tới giờ không ai trong phủ dám nói.

"Bà Tần," Lục Dao nói, và giọng nàng rất chậm. "Bà có biết vì sao mẹ ta lấy cha ta không?"

Bà Tần không đáp.

"Bà biết."

"Tôi biết một nửa."

"Thế thì bà nói cái nửa ấy."

Bà Tần nhìn ra cửa. Cửa mở, và ngoài cửa có nắng, và trong nắng có bụi bay.

"Bà cụ nhà ta," bà ấy nói, "là người giỏi nhất cái trấn ấy về cái việc đếm vải. Bà cụ đếm vải cho cả cái trấn. Mà đếm vải thì phải biết cái sổ. Mà cái sổ ấy, có một năm, có người tới hỏi mua."

"Ai?"

"Tôi không biết tên. Tôi biết cái áo." Bà Tần nói. "Người ấy mặc áo xanh, áo của quan, nhưng cái áo ấy không phải áo của quan ở kinh. Cái cổ áo may kiểu khác. Cho nên tôi nhớ."

Lục Dao ngồi im rất lâu.

Rồi nàng nói: "Bà Tần, từ hôm nay bà đừng may áo cho ai nữa. Bà chỉ may cho mẹ ta, và bà may ở trong cái phòng này, và bà ăn ở đây."

Bà Tần ngẩng lên.

"Tam tiểu thư…"

"Ta không nói chuyện này với ai nữa. Bà cũng thế."

Bà Tần đứng dậy, và bà ấy cúi rất sâu, và bà ấy đi ra, và bà ấy không nói một câu cảm ơn, và Lục Dao thích cái ấy hơn là một câu cảm ơn.

Người thứ hai tới lúc giờ Tỵ ba khắc, là nhị phu nhân.

Bà ấy không vào. Bà ấy đứng ở ngoài cửa, và bà ấy nói to, để cho cả cái hành lang nghe:

"Tam muội ơi. Cái áo ấy đẹp thật. Nhưng mà ta nói cái này, muội đừng giận: cái áo ấy là áo của tam tẩu may, mà tam tẩu thì ốm. Người ốm thì cái khí nó nặng. Muội đưa cái áo ấy cho người ta khoác, người ta khoác xong thì người ta ốm. Muội nghĩ cái ấy có phải là cái lòng tốt không?"

Lục Dao đứng ở trong, và nàng nghe hết, và nàng không ra.

Nàng chờ bà ấy nói xong. Rồi nàng nói, và nàng nói vừa đủ to:

"Nhị tẩu nói đúng. Cái áo ấy là của mẹ ta. Nhưng mà cái áo ấy mẹ ta may cho ta, không phải mẹ ta mặc. Cho nên cái khí ấy là khí của ta, không phải khí của mẹ ta. Mà ta thì không ốm."

Cái hành lang im.

Rồi có tiếng cười. Một tiếng, rất ngắn, và cái tiếng ấy tới từ phía đông, chỗ có mấy bà quét sân đang đứng.

Nhị phu nhân quay lại, và bà ấy không tìm được ai, và bà ấy đi.

Lục Dao đứng trong phòng, và nàng nghĩ: bà ấy vừa làm một cái việc rất ngu. Bà ấy tới đây để nói xấu mẹ ta, và bà ấy nói xấu mẹ ta trước mười mấy người, trong đó có người của tam phòng.

Một người khôn thì không nói xấu người ốm. Vì người ốm thì ai cũng thương, và ai thương thì sẽ nhớ cái tên của người nói.

Lục Dao lấy bút, và nàng viết vào tờ giấy thứ mười, nhưng nàng chưa kịp viết thì người thứ ba tới.

Người thứ ba là người của lão phu nhân.

Một con hầu nhỏ, mười hai tuổi, tên là Bích, và nó nói đúng một câu:

"Lão phu nhân gọi tam tiểu thư. Ngay bây giờ ạ."

Lục Dao gấp tờ giấy, và nàng nhét vào đế giày, và nàng đi.

Cái viện của lão phu nhân ở phía bắc, và nó là cái viện duy nhất trong phủ có hai lớp tường. Lớp ngoài là tường gạch. Lớp trong là một dãy cửa gỗ chạm, và cái dãy ấy mở ra một cái sân nhỏ có bốn cây tùng, và giữa sân có một cái giếng đã lấp.

Cái giếng ấy lấp từ năm lão phu nhân bốn mươi tuổi, và không ai trong phủ dám hỏi vì sao.

Lục Dao vào, và nàng quỳ, và nàng quỳ đúng cái chỗ mà nàng vẫn quỳ từ nhỏ, cái chỗ có một vết lõm trên nền gạch, vì ba đời người trong cái nhà này đã quỳ đúng chỗ ấy.

Lão phu nhân ngồi trên cái sập, và bà ấy đang bóc một quả quýt.

Bà ấy bóc rất chậm. Bà ấy bóc bằng móng tay, và bà ấy không làm rách một chỗ nào, và bà ấy để cái vỏ thành một cái hình, và cái hình ấy là một cái hoa.

Rồi bà ấy đặt quả quýt xuống, và bà ấy nói:

"Con có biết vì sao ta gọi con không?"

"Con không biết ạ."

"Ta gọi con vì cái khay."

Lục Dao không ngẩng lên.

"Con có biết cái khay nào không?"

"Con biết ạ."

"Nói."

"Khay thứ nhất bưng vào buổi sáng, bốn chén, cả bốn có nước. Khay thứ hai bưng vào buổi chiều, bốn chén, ba chén có nước, một chén không. Người bưng khay thứ nhất là con Hạnh, người bưng khay thứ hai là một bà già mà con không biết tên. Mà cái bà già ấy mặc áo của nhị phòng."

Lão phu nhân im.

"Con thấy cái khay," bà ấy nói, "hay con thấy cái người bưng khay?"

Cái câu ấy tới rất nhẹ, và nó không phải một câu hỏi.

Nó là một cái cân.

Lục Dao biết: nếu nàng nói "con thấy cái khay" thì nàng là một đứa trẻ. Nếu nàng nói "con thấy cái người" thì nàng là một người khôn, và một người khôn thì người ta phải đề phòng.

Có một câu thứ ba.

"Con thấy cái tay áo ạ."

Lão phu nhân ngẩng lên.

"Tay áo?"

"Dạ. Cái bà già ấy bưng khay bằng hai tay, và hai tay thì phải xắn tay áo. Mà tay áo bà ấy xắn lên tới khuỷu, và ở trong cái tay áo ấy có một cái đường may. Cái đường may ấy là đường may của nhị phòng, vì nhị phòng may áo bằng mũi ba, mà tam phòng may bằng mũi bốn. Con không thấy cái khay. Con thấy cái đường may."

Lão phu nhân đặt quả quýt xuống.

Bà ấy nhìn Lục Dao rất lâu, và cái nhìn ấy không có gì, và chính cái không có gì ấy là cái đáng sợ nhất.

"Con học mấy cái này ở đâu?"

Lục Dao không đáp ngay.

Nàng biết câu trả lời đúng, và nàng biết câu trả lời ấy sẽ mở một cái cửa mà không đóng lại được.

"Ở cái khay ạ."

"Ở cái khay?"

"Dạ. Cái khay dạy con." Lục Dao nói, và nàng nói chậm, vì nàng đang nghĩ trong lúc nói. "Cái khay thứ nhất có bốn chén, mà con uống có một. Cho nên ba chén kia là để cho người ta thấy con uống một. Mà cái khay thứ hai có ba chén nước, một chén không, cho nên cái chén không ấy là để cho người ta thấy con không uống. Hai cái khay, hai cái ý. Cho nên con nghĩ: trong cái phủ này, cái gì cũng có hai cái ý, và cái ý thứ hai thì không bao giờ nói ra."

Lão phu nhân cười.

Cái cười ấy rất ngắn, và nó không phải cái cười vui.

"Con giống bà," bà ấy nói.

Lục Dao cúi đầu.

"Con không dám ạ."

"Ta không khen con." Lão phu nhân nói, và bà ấy cầm quả quýt lên, và bà ấy tách ra, và bà ấy đưa cho Lục Dao một múi. "Ta nói cái ấy là một cái sự thật. Mà cái sự thật ấy thì không tốt cho con gái."

Lục Dao nhận múi quýt, và nàng không ăn.

"Bà nội," nàng nói. "Con hỏi một câu."

"Hỏi."

"Cái người mà bà nói là giống, người ấy sống được bao lâu?"

Lão phu nhân im.

Rồi bà ấy đứng dậy, và bà ấy đi tới cái tủ, và bà ấy mở ngăn kéo thứ hai, và bà ấy lấy ra một cái túi vải nhỏ, và bà ấy đặt lên sập.

Trong cái túi có một cái chìa khóa.

Chìa khóa đồng, nhỏ, và cái răng của nó mòn tới mức gần như không còn, vì nó đã được mở rất nhiều lần, và nó đã được mở trong rất nhiều năm.

"Cái chìa này mở cái cửa ở sau phòng thuốc," lão phu nhân nói. "Cái cửa ấy mở vào một cái buồng không có cửa sổ. Trong cái buồng ấy có mười mấy cái bao. Con cầm cái chìa này, và con đi xem, và con về nói cho ta biết trong ấy có gì."

Lục Dao nhìn cái chìa khóa.

Nàng biết cái ấy là gì. Nàng đoán ra từ cái giây phút bà ấy nói chữ "bao".

Nhưng nàng không nói.

"Bà nội cho con cái chìa này, hay bà nội thử con?"

"Ta cho con cái chìa này," lão phu nhân nói, "và ta cũng thử con. Hai cái ấy không khác nhau. Một người cho cái gì thì cũng đang thử cái người ấy sẽ làm gì với cái ấy."

Lục Dao cầm cái chìa khóa.

Nó lạnh, và nó nhẹ, và nó có một cái mùi rất riêng: mùi đồng cũ.

"Con có một cái điều kiện," lão phu nhân nói.

"Dạ."

"Cái cửa ấy thì ta cho con. Nhưng cái cửa lớn của cái phủ này thì ta không cho con. Cái cửa ấy là cái cửa hôn ước. Con phải lấy Thừa Châu."

Lục Dao ngồi im.

Cái tên ấy.

Nó tới, và nó không làm nàng đau như nàng nghĩ. Nó làm nàng lạnh, và cái lạnh ấy quen, và nàng nhận ra cái lạnh ấy là cái lạnh của một cái hồ nước đóng băng.

Nàng đã chết trong cái hồ ấy.

Người ta nói với nàng rằng nàng chết vì trượt chân.

Người ta không nói với nàng rằng chồng nàng đứng ở bờ, và chồng nàng nhìn, và chồng nàng không gọi.

"Bà nội," nàng nói, và giọng nàng rất bình. "Con muốn hỏi bà một câu về cái hôn ước."

"Nói."

"Cái hôn ước ấy là để cho con có một chỗ, hay để cho tam phòng có một chỗ?"

Lão phu nhân không đáp.

Lục Dao đứng dậy, và nàng cúi, và nàng nói:

"Con xin nhận cái chìa khóa. Còn cái hôn ước thì con xin bà cho con ba tháng. Ba tháng nữa con trả lời."

"Ba tháng để làm gì?"

"Để con học cái việc giữ sổ của cái nhà này," Lục Dao nói. "Vì nếu con lấy chồng mà con không biết cái nhà này giữ sổ thế nào, thì con sẽ không biết cái chỗ mà con ngồi là cái chỗ nào."

Lão phu nhân nhìn nàng rất lâu.

Rồi bà ấy ngồi xuống, và bà ấy cầm quả quýt thứ hai, và bà ấy bóc, và bà ấy không nói một câu nào nữa.

Lục Dao lùi ra, ba bước, và nàng đi.

Ra tới cái sân có bốn cây tùng, nàng dừng lại, và nàng thở ra một cái rất dài.

Cái chìa khóa trong tay nàng đã ấm.

Rồi nàng ngẩng lên, và nàng thấy có người đứng ở cửa tròn.

Cố Thừa Châu.

Chàng mặc áo trắng, và chàng đứng ở chỗ có nắng, và chàng đứng rất yên, và chàng nhìn nàng như nhìn một người mà chàng đã quen từ nhỏ và bây giờ thì không quen nữa.

"Tam muội," chàng nói.

Lục Dao đứng im.

Chàng gọi nàng là tam muội, và cái tiếng ấy đúng, và cái tiếng ấy là cái tiếng của một người anh.

Nhưng nàng biết cái tiếng ấy sẽ đổi. Nàng biết nó sẽ đổi vào cái ngày mà chàng cần nó đổi.

"Biểu ca," nàng nói.

Rồi nàng đi qua chàng, và nàng không cúi, và nàng không chậm lại, và nàng nghe thấy chàng nói thêm một câu, và câu ấy rất nhỏ:

"Muội khác rồi."

Lục Dao đi tiếp.

Nàng không quay lại, và nàng nghĩ: phải, ta khác rồi. Vì ta đã chết một lần, và người ta không nói cho ta biết là ai đẩy.

Nhưng nàng không nói ra, vì ngoài sân có ba người đang quét lá.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Mùa xuân ở hồ nước cũ Chương 79: Ninh Vương phủ bị niêm phong Chương 78: Đứa trẻ sinh vào giờ mưa Chương 77: Tiêu Dận không nạp thiếp Chương 76: Mùa đông thứ ba, ta có thai Chương 75: Một chén rượu đặt sai chỗ Chương 74 Chương 73 Chương 72: Ta hỏi hắn về mẹ hắn Chương 71: Có một người đứng ngoài cửa suốt đêm Chương 70: Cái hồ được lấp Chương 69: Bản án viết bằng mực đỏ Chương 68: Ngụy Tuyết Hinh quỳ ở cổng Trấn Bắc Hầu phủ Chương 67: Quy Ninh Hầu phủ xin từ hôn Chương 66: Ngụy Hoành bị bắt ở cổng thành Chương 65: Cha ra khỏi chiếu ngục vào mùa thu Chương 64: Cái rương dưới gầm giường Chương 63: Cái chết của mẹ không phải bệnh Chương 62: Tần ma ma nói ra chuyện mười năm trước Chương 61: Người làm chứng thứ chín đổi lời Chương 60: Cái thư mười bảy cái dòng Chương 59: Đứa trẻ không phải của Cố Thừa Châu Chương 58: Ngụy Tuyết Hinh mang thai Chương 57: Ba mươi bảy xe lương được đếm lại Chương 56: Cái cân ở trước điện Chương 55: Ta đứng ở cửa điện, không quỳ Chương 54: Ninh Vương phủ mở cửa Chương 53: Bức thư thứ hai có cùng nét chữ Chương 52: Một câu nói của Cố Thừa Châu trong mưa Chương 51: Người đưa cơm ở chiếu ngục số ba Chương 50: Lục Đình Quang tới thăm ngục Chương 49: Đêm thứ bảy, mẹ uống hết bát thuốc Chương 48: Một cái tên trong sổ của Ngụy Hoành Chương 47: Ta tới Bắc Trấn Ty lần thứ hai Chương 46: Cái ấn được tháo khỏi ngăn kéo Chương 45: Lão phu nhân quỳ ở từ đường Chương 44: Cha bị đưa vào chiếu ngục Chương 43: Lục Chiêu gửi về một cái hộp gỗ Chương 42: Ba ngày trước khi cha bị bắt Chương 41: Phong thư có con dấu của cha Chương 40: Lần đầu ta gọi hắn là "tướng công" Chương 39: Bữa tiệc mừng của nhị phòng Chương 38: Ngụy Tuyết Hinh vào cửa Quy Ninh Hầu phủ Chương 37: Sáng hôm sau, hắn để lại một cái hộp Chương 36: Đêm tân hôn có ba câu hỏi Chương 35: Ngày thành thân không có kiệu hoa đỏ Chương 34: Nhị phòng đổi khóa kho Chương 33: Cố Thừa Châu đứng ở hành lang rất lâu Chương 32: Hôn ước bị trả lại giữa tiệc Chương 31: Điều kiện của Diêm La Chương 30: Ta đưa hắn một trang giấy Chương 29: Bắc Trấn Ty không nhận lễ Chương 28: Một câu hỏi về ba mươi bảy xe lương Chương 27: Tiêu Dận tới dự lễ thọ của lão phu nhân Chương 26: Lần đầu ta nói dối lão phu nhân Chương 25: Cái khăn tay thêu chữ "Hinh" Chương 24: Cứu hay không cứu Chương 23: Người rơi xuống là ai Chương 22: Hồ nước chưa đóng băng năm nay Chương 21: Cố Thừa Châu nói một câu về hôn ước Chương 20: Bạch tiên sinh bắt mạch ba lần Chương 19: Ngụy Hoành tới thăm "bệnh" của mẹ Chương 18: Một trang giấy có hai con dấu Chương 17: Đêm mưa ở kho số bảy Chương 16: Cái chìa khóa trong ống tay áo Chương 15: Lục Đình Quang mời ta uống trà Chương 14: Ba mươi bảy xe lương không có trong sổ Chương 13: Vị quan sai áo xanh đứng ở cổng sau Chương 12: Bức thư gửi tới Bắc Trấn Ty Chương 11: Đêm đầu tiên ta không ngủ Chương 10: Lão phu nhân hỏi một câu về cái khay Chương 9: Ngụy Tuyết Hinh quỳ ở giữa sân Chương 8: Lễ cập kê và chiếc trâm gãy Chương 7: Cái tên được ghi vào sổ phòng thuốc Chương 6: Thang thuốc của mẹ có ba vị lạ Chương 5: Bà vú già và cái khay thứ hai Chương 4: Bánh hoa quế có mùi hạnh nhân đắng Chương 3: Ba ngày trước lễ cập kê Chương 2: Mở mắt trong mùa hạ năm mười sáu Chương 1: Cái chết ở hồ nước đóng băng