Chương 15: Lục Đình Quang mời ta uống trà
Chương 15: Lục Đình Quang mời ta uống trà
Đứa cháu của bà Tần tên là Bình, mười bốn tuổi, và nó bán nước chè ở cái chợ muối từ năm nó mười một.
Nó tới cái phủ này lúc giờ Tuất, bằng cái cửa sau, và nó mang theo một cái thúng, và trong cái thúng ấy có ba cái bát và một cái ấm, vì một đứa bán nước chè đi vào cái phủ của một cái Hầu thì người ta sẽ nghĩ nó tới bán nước chè.
Lục Dao gặp nó ở phòng bà Tần.
Nó quỳ, và nó không dám ngẩng, và Lục Dao nói:
"Ngồi lên. Ta hỏi, ngươi đáp. Đừng thêm."
"Dạ."
"Giờ Mùi, ở cái chợ muối, có mấy cái xe đi qua?"
"Bảy cái ạ."
"Bảy cái đi cùng nhau hay đi rời?"
"Đi rời ạ. Cái thứ nhất qua lúc giờ Mùi một khắc. Cái thứ hai qua lúc giờ Mùi hai khắc. Rồi cách một lúc lâu, rồi năm cái kia qua liền một đoàn ạ."
Lục Dao ghi nhớ.
Cái thứ nhất và cái thứ hai đi rời. Năm cái kia đi liền.
Cái việc ấy có nghĩa là: cái thứ nhất và cái thứ hai là hai cái xe "mở đường". Chúng đi trước để xem cái đường có ai không. Mà một người chở lương thì không cần xem đường.
Một người chở cái khác thì cần.
"Số hiệu trên xe?"
"Con không đọc được số ạ." Bình nói, và cái mặt nó xịu. "Con chỉ biết cái hình ạ. Cái xe thứ nhất có một cái vòng tròn sơn đỏ ở góc. Cái thứ hai thì không có gì. Còn năm cái kia thì mỗi cái có một cái số, mà con nhìn không ra, vì cái sơn đã bạc."
"Ngươi có đếm cái số ấy bằng cách nào không?"
"Con đếm cái vạch ạ." Bình nói, và nó ngẩng lên, và cái mặt nó sáng. "Con không biết chữ, nhưng con biết đếm vạch. Con lấy cái que, và con vạch xuống đất, và con vạch đúng cái số vạch mà con thấy ạ."
Nó mở bàn tay, và trong bàn tay nó có một mảnh giấy, và trên mảnh giấy ấy có bảy cái hình rất xấu, và mỗi cái hình là một cái số được vẽ bằng những cái vạch.
Lục Dao cầm mảnh giấy, và nàng nhìn, và nàng đọc.
Cái thứ nhất: bốn vạch, rồi một vạch ngang. Bốn. Một. "Bốn mươi mốt."
Cái thứ hai: ba vạch, hai vạch ngang. "Ba mươi hai."
Rồi năm cái kia: bốn mươi lăm, bốn mươi bảy, bốn mươi tám, năm mươi mốt, năm mươi ba.
Lục Dao đặt mảnh giấy xuống.
Bảy cái số: bốn mươi mốt, ba mươi hai, bốn mươi lăm, bốn mươi bảy, bốn mươi tám, năm mươi mốt, năm mươi ba.
Mà cái mảnh giấy trong đế giày nàng, cái mảnh giấy mà cha nàng đã chép bốn năm trước, có bảy cái số.
Nàng lấy ra, và nàng so.
Bốn mươi mốt. Ba mươi hai. Bốn mươi lăm. Bốn mươi bảy. Bốn mươi tám. Năm mươi mốt. Năm mươi ba.
Đúng bảy cái.
Lục Dao ngồi im rất lâu.
Rồi nàng hiểu ra cái việc mà nàng vừa có.
Cha nàng đã chép bảy cái số ấy bốn năm trước, và cái ấy nghĩa là bảy cái số ấy là cái số của cái chuyến thứ hai của bốn năm trước. Mà năm nay, cái chuyến thứ hai dùng lại đúng bảy cái xe ấy.
Cùng bảy cái xe.
Một cái quan mà làm cái việc ấy trong bốn năm thì người ấy sẽ không đổi xe, vì đổi xe là đổi cái sổ, mà đổi cái sổ thì phải đổi cái người đánh số, mà cái người đánh số thì biết quá nhiều.
Cho nên cái người ấy giữ nguyên bảy cái xe, và bảy cái xe ấy đã đi qua cái chợ muối bảy lần trong bốn năm, và cái việc ấy là một cái bằng chứng mà không ai nghĩ tới: một cái người bán nước chè mười bốn tuổi, không biết chữ, đã đếm được nó bằng những cái vạch trên đất.
"Bình," Lục Dao nói.
"Dạ."
"Ngươi có nhớ cái sân có hai cái cổng không?"
"Có ạ."
"Ngươi có biết cái sân ấy là của ai không?"
Bình im, và nó nhìn bà Tần, và bà Tần không nói gì.
"Con biết ạ." Nó nói, rất nhỏ. "Cái sân ấy là cái sân sau của hiệu cầm đồ họ Ngụy ạ. Con không biết chữ, nhưng con biết cái biển. Cái biển ấy có hai cái chữ, và cái chữ thứ hai giống cái chữ ở trên cái khăn của nhị tiểu thư ạ."
Lục Dao nhìn nó.
"Ngươi thấy cái khăn ấy ở đâu?"
"Con thấy ở cái chợ ạ. Nhị tiểu thư đi chợ với hai người hầu, và bà ấy làm rơi cái khăn, và con nhặt lên, và bà ấy nói: đưa đây. Con đưa, và con nhìn cái chữ ạ."
Lục Dao cười.
Cái cười ấy là cái cười thật đầu tiên của nàng trong ba ngày.
"Bình," nàng nói, "từ hôm nay ngươi không bán nước chè nữa."
Cái mặt nó tái đi.
"Tiểu thư ơi, mẹ con mất rồi, bà con nuôi con, mà con—"
"Ta không nói ngươi thôi bán." Lục Dao nói. "Ta nói ngươi đổi cái chỗ bán. Ngươi bán ở cái cổng chợ muối, chỗ cái cầu, cái chỗ mà người ta phải đi qua để vào cái sân ấy. Và ngươi bán thêm một cái thứ nữa: ngươi bán nước cho người đánh xe."
Bình nhìn nàng, và nó hiểu.
"Tiểu thư muốn con nghe ạ."
"Ta muốn ngươi đếm." Lục Dao nói. "Đếm xe, đếm người, đếm cái việc người ta nói với nhau khi người ta uống nước. Và ngươi đừng viết. Ngươi vạch, như ngươi vạch cái số ấy. Và mỗi tháng ngươi đưa cho bà ngươi một lần."
"Dạ."
"Và cái này." Nàng đưa cho nó một cái túi nhỏ. "Trong ấy có hai lượng bạc. Không phải thưởng. Là tiền mua cái chỗ bán. Ngươi đừng nói với ai là ai cho."
Bình cầm cái túi, và nó cúi rất sâu, và nó nói một câu mà nàng không ngờ:
"Tiểu thư ơi. Con hỏi một câu. Mẹ con chết ở trong cái phủ này, mà con không biết vì sao. Tiểu thư có biết không ạ?"
Lục Dao nhìn nó rất lâu.
Rồi nàng nói:
"Ta biết. Mà ta chưa nói được. Cho nên ta nói cái này: mẹ ngươi không chết vì bệnh. Mẹ ngươi chết vì người ta sợ cái việc mẹ ngươi biết. Mà cái việc mẹ ngươi biết thì bây giờ ta biết. Cho nên ta sẽ nói, nhưng ta phải nói vào cái lúc mà nó làm cho người ta chết, không phải làm cho ta chết."
Bình im.
Rồi nó quỳ xuống, và nó dập đầu ba cái, và cái dập đầu thứ ba nó dập mạnh tới mức cái trán nó đỏ.
Lục Dao không đỡ nó.
Nàng biết cái dập đầu ấy không phải để cảm ơn. Nó là một cái lời hứa, và một cái lời hứa thì phải dập.
Hôm sau, giờ Thìn, nhị phòng mời nàng uống trà.
Người tới mời là một con hầu tên là Lục, và nó nói cái câu mà nó đã được dạy:
"Nhị lão gia nói, mời tam tiểu thư qua uống chén trà. Nhị lão gia nói, cái trà ấy là trà mới, từ ngoài trấn đưa về."
Lục Dao ngồi ở bàn, và nàng nghe cái câu ấy, và nàng biết ba cái việc.
Một: nhị thúc không mời nàng một mình bao giờ. Ông ấy mời mẹ nàng, hoặc mời cha nàng, hoặc mời cả hai.
Hai: "trà mới từ ngoài trấn" là một cái lời đe. Nó nói: ta có cái đường ra ngoài trấn. Nó cũng nói: ta biết cái việc ngoài trấn đang có người để ý.
Ba: cái việc mời ấy xảy ra sau ngày mười bốn một ngày.
Lục Dao đứng dậy.
"Thu Từ, lấy cho ta cái áo màu tro."
"Tiểu thư ơi, cái áo ấy là cái áo mặc đi chùa ạ."
"Nó là cái áo duy nhất trong tủ ta mà không có thêu." Lục Dao nói. "Một cái áo không thêu thì không có gì để người ta đọc."
Nhị phòng ở phía đông, và nó là cái viện lớn nhất trong phủ, và cái viện ấy có một cái hồ nhỏ, và trong hồ ấy có ba con cá chép vàng, và ba con cá ấy đã sống ở đấy mười hai năm, và không ai biết chúng ăn gì.
Lục Đình Quang ngồi ở cái sập gỗ, và ông ấy đang pha trà.
Ông ấy năm mươi tư tuổi, và ông ấy béo, và cái béo ấy là cái béo của một người ăn ngon và ngủ yên. Ông ấy có một bộ râu đẹp, và ông ấy chăm bộ râu ấy mỗi ngày, và cái việc chăm râu ấy là cái việc duy nhất mà ông ấy làm bằng tay.
"Dao nhi," ông ấy nói. "Ngồi."
Lục Dao ngồi, và nàng ngồi ở cái ghế thấp, cái ghế của người dưới, và nàng ngồi đúng cái tư thế của một người con gái ngoan.
Ông ấy rót trà.
Ba cái chén. Ba cái thứ trà.
"Đây là trà ô long." Ông ấy nói. "Đây là trà hoa lài. Còn cái này là trà mạn, loại người ta uống ở ngoài trấn, nó đắng lắm, con gái không uống được."
Lục Dao nhìn ba cái chén.
Rồi nàng nhìn cái ấm.
Cái ấm ấy bằng đất, và nó có một cái nắp, và trên cái nắp ấy có một cái vết nứt đã được hàn bằng bạc.
"Thúc pha trà bằng nước gì ạ?"
"Nước mưa." Ông ấy nói. "Ta có một cái chum hứng nước mưa ở sau vườn, hứng từ tháng Sáu."
Lục Dao cầm chén trà mạn lên.
Nàng ngửi.
Rồi nàng đặt xuống, và nàng nói:
"Thúc ơi, cái trà này thơm ạ. Nhưng mà con không uống được."
"Vì sao?"
"Vì trong cái trà này có một vị con không hợp." Nàng nói, và nàng nói rất nhẹ. "Nó là vị của cái lá mận khô. Mà lá mận khô thì nó làm cho người ta ra mồ hôi, mà con thì không ra mồ hôi được, vì mẹ con ốm, và con phải thức đêm, mà thức đêm mà ra mồ hôi thì sáng hôm sau con ngất."
Lục Đình Quang không đổi mặt.
Nhưng cái tay ông ấy, cái tay đang cầm cái ấm, dừng lại nửa nhịp.
Lục Dao ghi lại cái nửa nhịp ấy.
Nàng vừa nói một cái điều đúng: trong cái trà mạn ấy có lá mận khô. Nàng biết vì nàng đã ngửi thấy, và nàng biết cái mùi ấy vì nó là một trong bảy cái mùi trong cái bã thuốc của mẹ nàng — không, nó không phải trong bã. Nó là cái mùi trong cái bao của năm thứ ba, cái bao mà nàng đã mở ra và đậy lại.
Mà lá mận khô thì không có trong thang thuốc của mẹ nàng. Nó là một cái vị khác. Nó là cái vị mà người ta dùng khi người ta muốn cho một người ra mồ hôi mà không muốn dùng thuốc.
Có nghĩa là nhị thúc biết cái việc ấy.
Có nghĩa là ông ấy biết cái thang thuốc của mẹ nàng có vấn đề, và ông ấy biết nó có vấn đề vì ông ấy là một trong những người đã làm nó có vấn đề.
Và cái chén trà ấy là một cái thử.
Nếu nàng uống, thì nàng là một đứa trẻ không biết gì.
Nếu nàng không uống mà không nói lý do, thì nàng là một đứa trẻ đang giận.
Nàng uống thì chết, nàng không uống thì lộ.
Cho nên nàng uống một cái khác.
"Con xin chén hoa lài ạ." Nàng nói, và nàng cầm chén hoa lài lên, và nàng uống một hớp, và nàng cười. "Cái này thơm ạ. Cái này là trà của mùa hạ."
Lục Đình Quang nhìn nàng.
Rồi ông ấy cười, và ông ấy rót cho mình chén trà mạn, và ông ấy uống hết, và ông ấy nói:
"Con uống trà hoa lài thì đúng. Con gái thì uống trà hoa lài." Ông ấy đặt chén xuống. "Mà cái việc con gái thì không nên biết là cái việc đếm."
Lục Dao để cái chén xuống.
"Thúc nói cái gì ạ?"
"Ta nói cái việc đếm." Ông ấy nói, và giọng ông ấy vẫn ấm. "Cái việc đếm xe, đếm bao, đếm cái số trên cái xe. Cái việc ấy là cái việc của đàn ông, vì đàn ông thì có cái sổ, mà có cái sổ thì phải đếm. Con gái mà đếm thì người ta nghĩ con gái có cái sổ. Mà con gái có cái sổ thì người ta nghĩ cái sổ ấy là của ai."
Lục Dao ngồi im.
Ông ấy vừa nói một cái câu mà nếu nàng là một cô gái mười sáu tuổi thật thì nàng sẽ khóc.
Nhưng nàng không khóc.
"Thúc ơi," nàng nói. "Con có một câu hỏi."
"Hỏi."
"Cái sổ của cái kho số bảy, ai giữ ạ?"
Cái phòng im.
Ba con cá chép vàng ở ngoài hồ bơi qua cái cửa sổ, và cái bóng của chúng đi qua cái chiếu.
"Ta giữ." Lục Đình Quang nói.
"Vậy thì cái sổ ấy ghi ba mươi bốn xe." Lục Dao nói. "Mà cái kho ấy nhận ba mươi bảy. Cho nên cái sổ ấy thiếu ba cái xe, và ba cái xe ấy là ba cái xe đầu tiên, cái có vòng tròn sơn đỏ và cái không có gì. Mà hai cái xe ấy đi rời, cho nên hai cái xe ấy không phải là xe chở lương."
Cái phòng im.
Rồi Lục Đình Quang cười, và cái cười ấy khác cái cười trước, và nó không còn ấm.
"Con," ông ấy nói, "con có biết cái việc gì xảy ra với một cô gái mà biết quá nhiều không?"
"Con biết ạ."
"Biết mà vẫn nói?"
"Con không nói." Lục Dao nói. "Con hỏi. Mà câu hỏi thì không phải là cái tội, vì một câu hỏi thì có thể là cái việc của một đứa trẻ con. Cho nên con hỏi thúc một câu nữa, và câu này là câu của một đứa trẻ con: thúc ơi, cái sân có hai cái cổng ở phía đông, cái sân của hiệu cầm đồ họ Ngụy, cái sân ấy có phải là của thúc không ạ?"
Lục Đình Quang đứng dậy.
Ông ấy đứng dậy rất chậm, và ông ấy đi tới cái cửa sổ, và ông ấy nhìn cái hồ, và ông ấy nói:
"Con về đi."
"Thúc—"
"Con về." Ông ấy nói, và ông ấy không quay lại. "Và con nói với cha con một câu: cái trà này ta pha cho con, không phải để con uống. Là để xem con có biết cái vị ấy không."
Lục Dao đứng dậy, và nàng cúi, và nàng đi ra tới cửa, và nàng dừng, và nàng nói:
"Con biết ạ. Cho nên con mới uống cái chén khác."
Rồi nàng đi.
Nàng đi qua cái hồ, và nàng đi qua cái hành lang có bốn cái cột, và ở cái cột thứ ba có một cái giá treo áo.
Trên cái giá ấy có một cái áo ngoài.
Cái áo ngoài của nhị thúc, cái áo ông ấy cởi ra khi pha trà, vì pha trà thì phải cởi áo ngoài, và cái áo ấy treo ở đấy, và không ai để ý cái áo ấy, vì nó là cái áo của một người ở trong cái nhà của mình.
Lục Dao đi qua cái giá ấy, và nàng không chậm lại.
Nhưng cái tay nàng, cái tay trái, cái tay mà không ai nhìn, đã chạm vào cái ống tay áo ấy, và nó đã làm xong cái việc của nó trước khi nàng đi qua cái cột thứ tư.
Ở trong ống tay áo ấy có một cái chìa khóa.
Và cái chìa khóa ấy dài hơn cái chìa khóa của lão phu nhân, và cái răng của nó còn mới, và nó có ba cái răng, và cái răng thứ ba có một cái mấu.
Lục Dao đi ra khỏi cái viện, và nàng đi qua cái sân, và nàng đi vào phòng, và nàng đóng cửa, và nàng ngồi xuống, và nàng mở bàn tay trái.
Trong lòng bàn tay nàng có một cái cục sáp ong, nhỏ bằng hạt đỗ, và trên cái cục sáp ấy có một cái dấu.
Cái dấu của ba cái răng, và cái mấu ở cái răng thứ ba.
Đứa cháu của bà Tần tên là Bình, mười bốn tuổi, và nó bán nước chè ở cái chợ muối từ năm nó mười một.
Nó tới cái phủ này lúc giờ Tuất, bằng cái cửa sau, và nó mang theo một cái thúng, và trong cái thúng ấy có ba cái bát và một cái ấm, vì một đứa bán nước chè đi vào cái phủ của một cái Hầu thì người ta sẽ nghĩ nó tới bán nước chè.
Lục Dao gặp nó ở phòng bà Tần.
Nó quỳ, và nó không dám ngẩng, và Lục Dao nói:
"Ngồi lên. Ta hỏi, ngươi đáp. Đừng thêm."
"Dạ."
"Giờ Mùi, ở cái chợ muối, có mấy cái xe đi qua?"
"Bảy cái ạ."
"Bảy cái đi cùng nhau hay đi rời?"
"Đi rời ạ. Cái thứ nhất qua lúc giờ Mùi một khắc. Cái thứ hai qua lúc giờ Mùi hai khắc. Rồi cách một lúc lâu, rồi năm cái kia qua liền một đoàn ạ."
Lục Dao ghi nhớ.
Cái thứ nhất và cái thứ hai đi rời. Năm cái kia đi liền.
Cái việc ấy có nghĩa là: cái thứ nhất và cái thứ hai là hai cái xe "mở đường". Chúng đi trước để xem cái đường có ai không. Mà một người chở lương thì không cần xem đường.
Một người chở cái khác thì cần.
"Số hiệu trên xe?"
"Con không đọc được số ạ." Bình nói, và cái mặt nó xịu. "Con chỉ biết cái hình ạ. Cái xe thứ nhất có một cái vòng tròn sơn đỏ ở góc. Cái thứ hai thì không có gì. Còn năm cái kia thì mỗi cái có một cái số, mà con nhìn không ra, vì cái sơn đã bạc."
"Ngươi có đếm cái số ấy bằng cách nào không?"
"Con đếm cái vạch ạ." Bình nói, và nó ngẩng lên, và cái mặt nó sáng. "Con không biết chữ, nhưng con biết đếm vạch. Con lấy cái que, và con vạch xuống đất, và con vạch đúng cái số vạch mà con thấy ạ."
Nó mở bàn tay, và trong bàn tay nó có một mảnh giấy, và trên mảnh giấy ấy có bảy cái hình rất xấu, và mỗi cái hình là một cái số được vẽ bằng những cái vạch.
Lục Dao cầm mảnh giấy, và nàng nhìn, và nàng đọc.
Cái thứ nhất: bốn vạch, rồi một vạch ngang. Bốn. Một. "Bốn mươi mốt."
Cái thứ hai: ba vạch, hai vạch ngang. "Ba mươi hai."
Rồi năm cái kia: bốn mươi lăm, bốn mươi bảy, bốn mươi tám, năm mươi mốt, năm mươi ba.
Lục Dao đặt mảnh giấy xuống.
Bảy cái số: bốn mươi mốt, ba mươi hai, bốn mươi lăm, bốn mươi bảy, bốn mươi tám, năm mươi mốt, năm mươi ba.
Mà cái mảnh giấy trong đế giày nàng, cái mảnh giấy mà cha nàng đã chép bốn năm trước, có bảy cái số.
Nàng lấy ra, và nàng so.
Bốn mươi mốt. Ba mươi hai. Bốn mươi lăm. Bốn mươi bảy. Bốn mươi tám. Năm mươi mốt. Năm mươi ba.
Đúng bảy cái.
Lục Dao ngồi im rất lâu.
Rồi nàng hiểu ra cái việc mà nàng vừa có.
Cha nàng đã chép bảy cái số ấy bốn năm trước, và cái ấy nghĩa là bảy cái số ấy là cái số của cái chuyến thứ hai của bốn năm trước. Mà năm nay, cái chuyến thứ hai dùng lại đúng bảy cái xe ấy.
Cùng bảy cái xe.
Một cái quan mà làm cái việc ấy trong bốn năm thì người ấy sẽ không đổi xe, vì đổi xe là đổi cái sổ, mà đổi cái sổ thì phải đổi cái người đánh số, mà cái người đánh số thì biết quá nhiều.
Cho nên cái người ấy giữ nguyên bảy cái xe, và bảy cái xe ấy đã đi qua cái chợ muối bảy lần trong bốn năm, và cái việc ấy là một cái bằng chứng mà không ai nghĩ tới: một cái người bán nước chè mười bốn tuổi, không biết chữ, đã đếm được nó bằng những cái vạch trên đất.
"Bình," Lục Dao nói.
"Dạ."
"Ngươi có nhớ cái sân có hai cái cổng không?"
"Có ạ."
"Ngươi có biết cái sân ấy là của ai không?"
Bình im, và nó nhìn bà Tần, và bà Tần không nói gì.
"Con biết ạ." Nó nói, rất nhỏ. "Cái sân ấy là cái sân sau của hiệu cầm đồ họ Ngụy ạ. Con không biết chữ, nhưng con biết cái biển. Cái biển ấy có hai cái chữ, và cái chữ thứ hai giống cái chữ ở trên cái khăn của nhị tiểu thư ạ."
Lục Dao nhìn nó.
"Ngươi thấy cái khăn ấy ở đâu?"
"Con thấy ở cái chợ ạ. Nhị tiểu thư đi chợ với hai người hầu, và bà ấy làm rơi cái khăn, và con nhặt lên, và bà ấy nói: đưa đây. Con đưa, và con nhìn cái chữ ạ."
Lục Dao cười.
Cái cười ấy là cái cười thật đầu tiên của nàng trong ba ngày.
"Bình," nàng nói, "từ hôm nay ngươi không bán nước chè nữa."
Cái mặt nó tái đi.
"Tiểu thư ơi, mẹ con mất rồi, bà con nuôi con, mà con—"
"Ta không nói ngươi thôi bán." Lục Dao nói. "Ta nói ngươi đổi cái chỗ bán. Ngươi bán ở cái cổng chợ muối, chỗ cái cầu, cái chỗ mà người ta phải đi qua để vào cái sân ấy. Và ngươi bán thêm một cái thứ nữa: ngươi bán nước cho người đánh xe."
Bình nhìn nàng, và nó hiểu.
"Tiểu thư muốn con nghe ạ."
"Ta muốn ngươi đếm." Lục Dao nói. "Đếm xe, đếm người, đếm cái việc người ta nói với nhau khi người ta uống nước. Và ngươi đừng viết. Ngươi vạch, như ngươi vạch cái số ấy. Và mỗi tháng ngươi đưa cho bà ngươi một lần."
"Dạ."
"Và cái này." Nàng đưa cho nó một cái túi nhỏ. "Trong ấy có hai lượng bạc. Không phải thưởng. Là tiền mua cái chỗ bán. Ngươi đừng nói với ai là ai cho."
Bình cầm cái túi, và nó cúi rất sâu, và nó nói một câu mà nàng không ngờ:
"Tiểu thư ơi. Con hỏi một câu. Mẹ con chết ở trong cái phủ này, mà con không biết vì sao. Tiểu thư có biết không ạ?"
Lục Dao nhìn nó rất lâu.
Rồi nàng nói:
"Ta biết. Mà ta chưa nói được. Cho nên ta nói cái này: mẹ ngươi không chết vì bệnh. Mẹ ngươi chết vì người ta sợ cái việc mẹ ngươi biết. Mà cái việc mẹ ngươi biết thì bây giờ ta biết. Cho nên ta sẽ nói, nhưng ta phải nói vào cái lúc mà nó làm cho người ta chết, không phải làm cho ta chết."
Bình im.
Rồi nó quỳ xuống, và nó dập đầu ba cái, và cái dập đầu thứ ba nó dập mạnh tới mức cái trán nó đỏ.
Lục Dao không đỡ nó.
Nàng biết cái dập đầu ấy không phải để cảm ơn. Nó là một cái lời hứa, và một cái lời hứa thì phải dập.
Hôm sau, giờ Thìn, nhị phòng mời nàng uống trà.
Người tới mời là một con hầu tên là Lục, và nó nói cái câu mà nó đã được dạy:
"Nhị lão gia nói, mời tam tiểu thư qua uống chén trà. Nhị lão gia nói, cái trà ấy là trà mới, từ ngoài trấn đưa về."
Lục Dao ngồi ở bàn, và nàng nghe cái câu ấy, và nàng biết ba cái việc.
Một: nhị thúc không mời nàng một mình bao giờ. Ông ấy mời mẹ nàng, hoặc mời cha nàng, hoặc mời cả hai.
Hai: "trà mới từ ngoài trấn" là một cái lời đe. Nó nói: ta có cái đường ra ngoài trấn. Nó cũng nói: ta biết cái việc ngoài trấn đang có người để ý.
Ba: cái việc mời ấy xảy ra sau ngày mười bốn một ngày.
Lục Dao đứng dậy.
"Thu Từ, lấy cho ta cái áo màu tro."
"Tiểu thư ơi, cái áo ấy là cái áo mặc đi chùa ạ."
"Nó là cái áo duy nhất trong tủ ta mà không có thêu." Lục Dao nói. "Một cái áo không thêu thì không có gì để người ta đọc."
Nhị phòng ở phía đông, và nó là cái viện lớn nhất trong phủ, và cái viện ấy có một cái hồ nhỏ, và trong hồ ấy có ba con cá chép vàng, và ba con cá ấy đã sống ở đấy mười hai năm, và không ai biết chúng ăn gì.
Lục Đình Quang ngồi ở cái sập gỗ, và ông ấy đang pha trà.
Ông ấy năm mươi tư tuổi, và ông ấy béo, và cái béo ấy là cái béo của một người ăn ngon và ngủ yên. Ông ấy có một bộ râu đẹp, và ông ấy chăm bộ râu ấy mỗi ngày, và cái việc chăm râu ấy là cái việc duy nhất mà ông ấy làm bằng tay.
"Dao nhi," ông ấy nói. "Ngồi."
Lục Dao ngồi, và nàng ngồi ở cái ghế thấp, cái ghế của người dưới, và nàng ngồi đúng cái tư thế của một người con gái ngoan.
Ông ấy rót trà.
Ba cái chén. Ba cái thứ trà.
"Đây là trà ô long." Ông ấy nói. "Đây là trà hoa lài. Còn cái này là trà mạn, loại người ta uống ở ngoài trấn, nó đắng lắm, con gái không uống được."
Lục Dao nhìn ba cái chén.
Rồi nàng nhìn cái ấm.
Cái ấm ấy bằng đất, và nó có một cái nắp, và trên cái nắp ấy có một cái vết nứt đã được hàn bằng bạc.
"Thúc pha trà bằng nước gì ạ?"
"Nước mưa." Ông ấy nói. "Ta có một cái chum hứng nước mưa ở sau vườn, hứng từ tháng Sáu."
Lục Dao cầm chén trà mạn lên.
Nàng ngửi.
Rồi nàng đặt xuống, và nàng nói:
"Thúc ơi, cái trà này thơm ạ. Nhưng mà con không uống được."
"Vì sao?"
"Vì trong cái trà này có một vị con không hợp." Nàng nói, và nàng nói rất nhẹ. "Nó là vị của cái lá mận khô. Mà lá mận khô thì nó làm cho người ta ra mồ hôi, mà con thì không ra mồ hôi được, vì mẹ con ốm, và con phải thức đêm, mà thức đêm mà ra mồ hôi thì sáng hôm sau con ngất."
Lục Đình Quang không đổi mặt.
Nhưng cái tay ông ấy, cái tay đang cầm cái ấm, dừng lại nửa nhịp.
Lục Dao ghi lại cái nửa nhịp ấy.
Nàng vừa nói một cái điều đúng: trong cái trà mạn ấy có lá mận khô. Nàng biết vì nàng đã ngửi thấy, và nàng biết cái mùi ấy vì nó là một trong bảy cái mùi trong cái bã thuốc của mẹ nàng — không, nó không phải trong bã. Nó là cái mùi trong cái bao của năm thứ ba, cái bao mà nàng đã mở ra và đậy lại.
Mà lá mận khô thì không có trong thang thuốc của mẹ nàng. Nó là một cái vị khác. Nó là cái vị mà người ta dùng khi người ta muốn cho một người ra mồ hôi mà không muốn dùng thuốc.
Có nghĩa là nhị thúc biết cái việc ấy.
Có nghĩa là ông ấy biết cái thang thuốc của mẹ nàng có vấn đề, và ông ấy biết nó có vấn đề vì ông ấy là một trong những người đã làm nó có vấn đề.
Và cái chén trà ấy là một cái thử.
Nếu nàng uống, thì nàng là một đứa trẻ không biết gì.
Nếu nàng không uống mà không nói lý do, thì nàng là một đứa trẻ đang giận.
Nàng uống thì chết, nàng không uống thì lộ.
Cho nên nàng uống một cái khác.
"Con xin chén hoa lài ạ." Nàng nói, và nàng cầm chén hoa lài lên, và nàng uống một hớp, và nàng cười. "Cái này thơm ạ. Cái này là trà của mùa hạ."
Lục Đình Quang nhìn nàng.
Rồi ông ấy cười, và ông ấy rót cho mình chén trà mạn, và ông ấy uống hết, và ông ấy nói:
"Con uống trà hoa lài thì đúng. Con gái thì uống trà hoa lài." Ông ấy đặt chén xuống. "Mà cái việc con gái thì không nên biết là cái việc đếm."
Lục Dao để cái chén xuống.
"Thúc nói cái gì ạ?"
"Ta nói cái việc đếm." Ông ấy nói, và giọng ông ấy vẫn ấm. "Cái việc đếm xe, đếm bao, đếm cái số trên cái xe. Cái việc ấy là cái việc của đàn ông, vì đàn ông thì có cái sổ, mà có cái sổ thì phải đếm. Con gái mà đếm thì người ta nghĩ con gái có cái sổ. Mà con gái có cái sổ thì người ta nghĩ cái sổ ấy là của ai."
Lục Dao ngồi im.
Ông ấy vừa nói một cái câu mà nếu nàng là một cô gái mười sáu tuổi thật thì nàng sẽ khóc.
Nhưng nàng không khóc.
"Thúc ơi," nàng nói. "Con có một câu hỏi."
"Hỏi."
"Cái sổ của cái kho số bảy, ai giữ ạ?"
Cái phòng im.
Ba con cá chép vàng ở ngoài hồ bơi qua cái cửa sổ, và cái bóng của chúng đi qua cái chiếu.
"Ta giữ." Lục Đình Quang nói.
"Vậy thì cái sổ ấy ghi ba mươi bốn xe." Lục Dao nói. "Mà cái kho ấy nhận ba mươi bảy. Cho nên cái sổ ấy thiếu ba cái xe, và ba cái xe ấy là ba cái xe đầu tiên, cái có vòng tròn sơn đỏ và cái không có gì. Mà hai cái xe ấy đi rời, cho nên hai cái xe ấy không phải là xe chở lương."
Cái phòng im.
Rồi Lục Đình Quang cười, và cái cười ấy khác cái cười trước, và nó không còn ấm.
"Con," ông ấy nói, "con có biết cái việc gì xảy ra với một cô gái mà biết quá nhiều không?"
"Con biết ạ."
"Biết mà vẫn nói?"
"Con không nói." Lục Dao nói. "Con hỏi. Mà câu hỏi thì không phải là cái tội, vì một câu hỏi thì có thể là cái việc của một đứa trẻ con. Cho nên con hỏi thúc một câu nữa, và câu này là câu của một đứa trẻ con: thúc ơi, cái sân có hai cái cổng ở phía đông, cái sân của hiệu cầm đồ họ Ngụy, cái sân ấy có phải là của thúc không ạ?"
Lục Đình Quang đứng dậy.
Ông ấy đứng dậy rất chậm, và ông ấy đi tới cái cửa sổ, và ông ấy nhìn cái hồ, và ông ấy nói:
"Con về đi."
"Thúc—"
"Con về." Ông ấy nói, và ông ấy không quay lại. "Và con nói với cha con một câu: cái trà này ta pha cho con, không phải để con uống. Là để xem con có biết cái vị ấy không."
Lục Dao đứng dậy, và nàng cúi, và nàng đi ra tới cửa, và nàng dừng, và nàng nói:
"Con biết ạ. Cho nên con mới uống cái chén khác."
Rồi nàng đi.
Nàng đi qua cái hồ, và nàng đi qua cái hành lang có bốn cái cột, và ở cái cột thứ ba có một cái giá treo áo.
Trên cái giá ấy có một cái áo ngoài.
Cái áo ngoài của nhị thúc, cái áo ông ấy cởi ra khi pha trà, vì pha trà thì phải cởi áo ngoài, và cái áo ấy treo ở đấy, và không ai để ý cái áo ấy, vì nó là cái áo của một người ở trong cái nhà của mình.
Lục Dao đi qua cái giá ấy, và nàng không chậm lại.
Nhưng cái tay nàng, cái tay trái, cái tay mà không ai nhìn, đã chạm vào cái ống tay áo ấy, và nó đã làm xong cái việc của nó trước khi nàng đi qua cái cột thứ tư.
Ở trong ống tay áo ấy có một cái chìa khóa.
Và cái chìa khóa ấy dài hơn cái chìa khóa của lão phu nhân, và cái răng của nó còn mới, và nó có ba cái răng, và cái răng thứ ba có một cái mấu.
Lục Dao đi ra khỏi cái viện, và nàng đi qua cái sân, và nàng đi vào phòng, và nàng đóng cửa, và nàng ngồi xuống, và nàng mở bàn tay trái.
Trong lòng bàn tay nàng có một cái cục sáp ong, nhỏ bằng hạt đỗ, và trên cái cục sáp ấy có một cái dấu.
Cái dấu của ba cái răng, và cái mấu ở cái răng thứ ba.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Mùa xuân ở hồ nước cũ
Chương 79: Ninh Vương phủ bị niêm phong
Chương 78: Đứa trẻ sinh vào giờ mưa
Chương 77: Tiêu Dận không nạp thiếp
Chương 76: Mùa đông thứ ba, ta có thai
Chương 75: Một chén rượu đặt sai chỗ
Chương 74
Chương 73
Chương 72: Ta hỏi hắn về mẹ hắn
Chương 71: Có một người đứng ngoài cửa suốt đêm
Chương 70: Cái hồ được lấp
Chương 69: Bản án viết bằng mực đỏ
Chương 68: Ngụy Tuyết Hinh quỳ ở cổng Trấn Bắc Hầu phủ
Chương 67: Quy Ninh Hầu phủ xin từ hôn
Chương 66: Ngụy Hoành bị bắt ở cổng thành
Chương 65: Cha ra khỏi chiếu ngục vào mùa thu
Chương 64: Cái rương dưới gầm giường
Chương 63: Cái chết của mẹ không phải bệnh
Chương 62: Tần ma ma nói ra chuyện mười năm trước
Chương 61: Người làm chứng thứ chín đổi lời
Chương 60: Cái thư mười bảy cái dòng
Chương 59: Đứa trẻ không phải của Cố Thừa Châu
Chương 58: Ngụy Tuyết Hinh mang thai
Chương 57: Ba mươi bảy xe lương được đếm lại
Chương 56: Cái cân ở trước điện
Chương 55: Ta đứng ở cửa điện, không quỳ
Chương 54: Ninh Vương phủ mở cửa
Chương 53: Bức thư thứ hai có cùng nét chữ
Chương 52: Một câu nói của Cố Thừa Châu trong mưa
Chương 51: Người đưa cơm ở chiếu ngục số ba
Chương 50: Lục Đình Quang tới thăm ngục
Chương 49: Đêm thứ bảy, mẹ uống hết bát thuốc
Chương 48: Một cái tên trong sổ của Ngụy Hoành
Chương 47: Ta tới Bắc Trấn Ty lần thứ hai
Chương 46: Cái ấn được tháo khỏi ngăn kéo
Chương 45: Lão phu nhân quỳ ở từ đường
Chương 44: Cha bị đưa vào chiếu ngục
Chương 43: Lục Chiêu gửi về một cái hộp gỗ
Chương 42: Ba ngày trước khi cha bị bắt
Chương 41: Phong thư có con dấu của cha
Chương 40: Lần đầu ta gọi hắn là "tướng công"
Chương 39: Bữa tiệc mừng của nhị phòng
Chương 38: Ngụy Tuyết Hinh vào cửa Quy Ninh Hầu phủ
Chương 37: Sáng hôm sau, hắn để lại một cái hộp
Chương 36: Đêm tân hôn có ba câu hỏi
Chương 35: Ngày thành thân không có kiệu hoa đỏ
Chương 34: Nhị phòng đổi khóa kho
Chương 33: Cố Thừa Châu đứng ở hành lang rất lâu
Chương 32: Hôn ước bị trả lại giữa tiệc
Chương 31: Điều kiện của Diêm La
Chương 30: Ta đưa hắn một trang giấy
Chương 29: Bắc Trấn Ty không nhận lễ
Chương 28: Một câu hỏi về ba mươi bảy xe lương
Chương 27: Tiêu Dận tới dự lễ thọ của lão phu nhân
Chương 26: Lần đầu ta nói dối lão phu nhân
Chương 25: Cái khăn tay thêu chữ "Hinh"
Chương 24: Cứu hay không cứu
Chương 23: Người rơi xuống là ai
Chương 22: Hồ nước chưa đóng băng năm nay
Chương 21: Cố Thừa Châu nói một câu về hôn ước
Chương 20: Bạch tiên sinh bắt mạch ba lần
Chương 19: Ngụy Hoành tới thăm "bệnh" của mẹ
Chương 18: Một trang giấy có hai con dấu
Chương 17: Đêm mưa ở kho số bảy
Chương 16: Cái chìa khóa trong ống tay áo
Chương 15: Lục Đình Quang mời ta uống trà
Chương 14: Ba mươi bảy xe lương không có trong sổ
Chương 13: Vị quan sai áo xanh đứng ở cổng sau
Chương 12: Bức thư gửi tới Bắc Trấn Ty
Chương 11: Đêm đầu tiên ta không ngủ
Chương 10: Lão phu nhân hỏi một câu về cái khay
Chương 9: Ngụy Tuyết Hinh quỳ ở giữa sân
Chương 8: Lễ cập kê và chiếc trâm gãy
Chương 7: Cái tên được ghi vào sổ phòng thuốc
Chương 6: Thang thuốc của mẹ có ba vị lạ
Chương 5: Bà vú già và cái khay thứ hai
Chương 4: Bánh hoa quế có mùi hạnh nhân đắng
Chương 3: Ba ngày trước lễ cập kê
Chương 2: Mở mắt trong mùa hạ năm mười sáu
Chương 1: Cái chết ở hồ nước đóng băng