Chương 25: Cái khăn tay thêu chữ "Hinh"
Chương 25: Cái khăn tay thêu chữ "Hinh"
Sáng hôm sau, trời chưa sáng, Lục Dao đã ra cái cầu.
Cái phủ ấy ngủ muộn, vì đêm qua không ai ngủ. Và cái việc ấy có một cái lợi: cái sân trước giờ Thìn thì không có người, và cái hành lang phía bắc thì không có người, và cái cầu ấy thì không có người.
Lục Dao đi chân đất.
Nàng đi tới cái cầu, và nàng đứng ở chỗ cái lan can mà nàng đã đứng tối qua, và nàng nhìn xuống.
Cái nước ấy bây giờ không ấm nữa. Cái nước ấy lạnh, và nó có một cái váng mỏng, và cái váng ấy là cái váng của một cái hồ sắp đóng băng.
Vì đêm qua người ta đã đóng cái cống.
Lục Dao nhìn cái váng ấy, và nàng nghĩ: một cái đêm. Một cái đêm là đủ để cái hồ ấy trở lại thành cái hồ.
Rồi nàng cúi xuống, và nàng bắt đầu tìm.
Cái khăn tay ấy, nếu nó ở đây, thì nó sẽ ở một trong ba cái chỗ: ở trên cầu, ở dưới cái ghế đá đầu cầu, hoặc ở trong cái bụi rậm ở mép nước, vì một cái khăn nhẹ thì gió đưa nó đi, và gió đêm qua thổi từ phía tây.
Nàng tìm ở trên cầu. Không có.
Nàng tìm ở dưới cái ghế đá. Không có.
Nàng đi xuống mép nước, và nàng tìm trong cái bụi rậm, và nàng tìm bằng tay, vì trời còn tối, và nàng không dám thắp đèn.
Nàng tìm một khắc.
Rồi nàng đứng dậy, và nàng phủi cái bùn ở tay, và nàng nói rất nhỏ:
"Đã có người lấy nó."
Cái việc ấy không làm nàng ngạc nhiên. Nó làm nàng thấy một cái gì khác: cái người lấy nó đã lấy nó rất nhanh. Đêm qua, sau khi lão phu nhân đi, có bốn mươi người ở đây. Mà trong bốn mươi người ấy, có một người đã ở lại.
Lục Dao về phòng, và nàng gọi Xuân Vu.
Xuân Vu đang nằm, và cái đầu nó còn băng, và nó ngồi dậy, và nó nói:
"Tiểu thư."
"Xuân Vu. Cái khăn ấy. Ngươi nói nó nhỏ, nó trắng. Ngươi có thấy nó có cái gì ở trên không?"
"Có ạ." Nó nói. "Con thấy nó có một cái chữ ạ."
"Chữ gì?"
"Con không biết chữ ạ. Nhưng mà con thấy cái hình của nó. Cái chữ ấy ở góc, và nó có một cái nét ngang ở trên, và ở dưới thì nó có hai cái nét. Rồi ở góc kia, cái góc đối diện ấy, có một cái bông hoa."
"Một cái bông hoa."
"Dạ. Cái bông hoa ấy nhỏ, và nó có bốn cái cánh, và cái nhụy của nó thêu bằng chỉ vàng ạ."
Lục Dao ngồi im.
Cái chữ ấy là chữ Hinh. Cái nét ngang ở trên, hai cái nét ở dưới.
Mà cái bông hoa bốn cánh có nhụy vàng ấy là cái hoa hải đường.
Nàng biết cái hoa ấy. Nàng biết nó vì nó là cái hoa mà nhị phòng dùng. Cái khay của nhị phòng, cái khăn trải bàn của nhị phòng, cái rèm của cái viện phía đông: tất cả đều có cái hoa ấy, bốn cánh, nhụy vàng.
Đó là cái dấu của nhị phòng.
Mà một cái khăn tay có cái dấu của nhị phòng và có cái tên của nàng ấy thì không phải là một cái khăn tay của một người.
Nó là một cái khăn tay của một cái phòng.
Lục Dao đứng dậy, và nàng đi tới cái tủ, và nàng lấy ra một cái túi, và nàng nói:
"Thu Từ. Đi với ta."
Hai người đi tới cái phòng thêu.
Cái phòng thêu ấy ở phía tây nam, và nó là một cái nhà dài có sáu cái bàn, và ở đấy có bảy người đàn bà, và người già nhất là bà Đoàn, sáu mươi hai tuổi, và bà ấy thêu cho cái phủ này bốn mươi năm.
Lục Dao vào, và bà Đoàn đứng dậy, và bà ấy nói:
"Tam tiểu thư."
"Bà Đoàn. Ta có một cái việc."
Bà ấy chờ.
"Ta muốn đặt một cái khăn tay. Ta muốn thêu hoa hải đường, và ta muốn cái nhụy thêu bằng chỉ vàng."
Cái phòng im.
Ba người đàn bà ngẩng lên, và hai người cúi xuống, và cái việc hai người cúi xuống ấy làm Lục Dao biết nàng vừa nói đúng một cái gì.
Bà Đoàn nói, và giọng bà ấy rất cẩn thận:
"Tam tiểu thư. Cái hoa hải đường ấy thì cái phủ này không thêu ạ."
"Vì sao?"
"Vì nó là cái hoa của nhị phòng." Bà ấy nói. "Bốn mươi năm trước, cái hoa ấy là cái hoa của cả cái phủ. Nhưng mà từ khi bà cụ mất, thì cái hoa ấy chỉ còn ở nhị phòng. Mà nhị phòng thì có cái phòng thêu riêng, ở trong cái viện phía đông, và cái phòng ấy có bốn người, và bốn người ấy không nhận việc ngoài."
Lục Dao gật đầu.
"Năm nay nhị phòng đặt bao nhiêu cái khăn tay?"
Bà Đoàn im.
"Tam tiểu thư hỏi cái ấy thì tôi không biết ạ."
"Bà không biết, hay bà không nói?"
Cái phòng im.
Rồi bà Đoàn nói, và bà ấy nói rất nhỏ:
"Năm nay nhị phòng đặt mười hai cái ạ. Và cái người đặt là nhị tiểu thư, không phải nhị phu nhân. Và cái việc ấy tôi biết vì cái chỉ vàng ấy là chỉ vàng của cái kho của phủ, và cái chỉ vàng ấy phải có người ký."
"Bà có cái sổ ký ấy không?"
"Có ạ. Mọi cái việc lấy chỉ trong cái phủ này thì phải ký. Đó là cái luật của bà cụ."
Lục Dao ngồi xuống cái ghế đẩu.
"Bà Đoàn. Cái sổ ấy, bà cho ta xem."
Bà ấy đi tới cái tủ, và bà ấy mở, và bà ấy lấy ra một cái sổ, và bà ấy đặt nó lên bàn.
Lục Dao mở, và nàng tìm cái trang của tháng Chín.
Có một cái dòng, và cái dòng ấy viết:
"Mười hai cái khăn tay, hoa hải đường, nhụy chỉ vàng. Người nhận: Ngụy thị. Chỉ: ba đồng vàng."
Rồi ở bên cạnh, có một cái chữ ký nhỏ, và cái chữ ký ấy là chữ ký của cái người đã duyệt.
Lục Dao nhìn cái chữ ký ấy.
Nó không phải chữ của nhị phu nhân. Nó không phải chữ của nhị thúc.
Nó là chữ của người quản sự.
Người quản sự của cái phủ này là một người đàn ông tên là Trịnh Đắc Lợi, và ông ấy đã làm cái việc ấy hai mươi năm, và ông ấy là em họ của bà Trịnh, cái bà đã cài cái trâm gãy vào tóc nàng ở cái kiếp kia.
Lục Dao đóng sổ.
"Bà Đoàn," nàng nói. "Mười hai cái khăn ấy, bà có biết chúng đi đâu không?"
"Không ạ. Nhị phòng nhận rồi thì nhị phòng dùng."
"Bà có biết cái khăn ấy thêu cái chữ gì không?"
Bà Đoàn nhìn nàng.
"Tam tiểu thư," bà ấy nói, và giọng bà ấy rất lạ. "Cái khăn ấy không thêu chữ. Nó thêu một cái hình."
Lục Dao ngẩng lên.
"Hình gì?"
"Nó thêu cái hoa hải đường ở một góc, và ở góc kia thì nó thêu một cái hình mà tôi không hiểu." Bà ấy nói. "Cái hình ấy là ba cái nét. Một cái nét ngang ở trên, hai cái nét ở dưới. Tôi hỏi cái người mang cái khăn ấy tới, và người ấy nói: cái ấy là cái tên của tiểu thư nhà tôi."
Lục Dao ngồi im.
Ba cái nét. Một cái nét ngang, hai cái nét ở dưới.
Đó không phải là chữ Hinh. Đó là cái hình mà một người không biết chữ vẽ lại chữ Hinh sau khi nhìn nó một lần.
Mà một người thêu thì không vẽ lại. Một người thêu thì chép từ một cái mẫu.
Trừ khi cái mẫu ấy được đưa cho người ấy bởi một người không biết chữ, và người ấy phải vẽ lại, và người ấy vẽ sai ba cái nét.
Lục Dao đứng dậy.
"Bà Đoàn," nàng nói. "Cái người mang cái khăn ấy tới, người ấy là ai?"
"Tôi không biết tên ạ. Người ấy mặc áo xanh, và người ấy không phải người trong phủ. Người ấy tới bằng cổng sau, và người ấy đưa một cái túi, và trong cái túi ấy có cái mẫu."
"Bà có cái mẫu ấy không?"
"Không ạ. Cái mẫu ấy thì tôi trả lại, vì cái luật là thế."
Lục Dao gật đầu, và nàng cúi, và nàng nói:
"Bà Đoàn. Cái việc này thì bà đừng nói với ai."
Bà ấy nhìn nàng rất lâu.
"Tam tiểu thư," bà ấy nói, "tôi đã ở cái phủ này bốn mươi năm. Tôi đã thêu cho ba đời người. Mà cái việc tôi học được trong bốn mươi năm ấy là: cái kim thì không nói. Cho nên tôi không nói. Nhưng mà tôi xin nói với tiểu thư một câu: cái khăn ấy, cái khăn có ba cái nét ấy, tôi đã thêu mười hai cái. Mà mười hai cái ấy thì tôi thêu trong ba ngày. Mà cái người đặt không lấy chúng về."
Lục Dao đứng im.
"Không lấy về?"
"Không ạ. Mười hai cái khăn ấy vẫn ở đây." Bà Đoàn nói. "Chúng ở trong cái hòm ấy, cái hòm ở dưới cái bàn của tôi, và cái người ấy nói: để đấy, tháng sau ta lấy."
Lục Dao đi tới cái hòm ấy, và nàng mở, và trong cái hòm ấy có một cái bọc vải, và trong cái bọc ấy có mười hai cái khăn tay trắng, và mỗi cái khăn ấy có một cái hoa hải đường ở một góc và ba cái nét ở góc kia.
Nàng cầm một cái lên, và nàng nhìn.
Cái khăn ấy mới, và nó chưa giặt, và nó còn cái mùi của cái vải mới, và nó không có một cái vết nào.
Nàng cầm cái thứ hai. Nó cũng thế.
Cái thứ ba, cái thứ tư, cái thứ năm: cũng thế.
Lục Dao đặt chúng xuống.
"Mười hai cái khăn mới," nàng nói, "và một cái khăn đã dùng, và cái khăn đã dùng ấy ở trên cầu đêm qua."
Bà Đoàn nhìn nàng, và cái mặt bà ấy trắng.
"Tam tiểu thư nói cái gì?"
"Ta nói: cái khăn mà ngươi thêu cho nhị tiểu thư, cái khăn có ba cái nét ấy, không phải là cái khăn mà người ta dùng để thêu tên mình." Lục Dao nói. "Nó là cái khăn mà người ta dùng để lại ở một cái chỗ."
Rồi nàng cúi, và nàng đi ra.
Nàng đi qua cái sân, và cái nắng ấy đã lên, và cái nắng ấy vàng, và nó làm nàng chảy nước mắt, và nàng không biết đó là vì nắng.
Nàng nghĩ: mười hai cái khăn. Mười hai cái tự thú.
Một người đặt mười hai cái khăn có tên mình, và không lấy chúng về, và để chúng ở một cái hòm trong cái phòng thêu, cái chỗ mà bất kỳ ai cũng có thể mở.
Đó không phải là một cái sơ hở. Đó là một cái chuẩn bị.
Ngụy Tuyết Hinh đang chuẩn bị một cái việc mà cái việc ấy cần mười hai cái bằng chứng chống lại nàng ấy.
Mà cái việc ấy là gì?
Lục Dao đi tới cái hành lang phía đông, và nàng dừng.
Có một cái ý nghĩ tới, và cái ý nghĩ ấy rất lạnh, và nó rất đơn giản:
Một người chuẩn bị bằng chứng chống lại mình là một người đang chuẩn bị chết.
Mà một người chuẩn bị chết thì người ấy đang chuẩn bị cho một cái việc mà cái việc ấy sẽ làm cho người ấy chết, và người ấy muốn cái chết ấy có một cái tên.
Lục Dao đứng ở hành lang, và nàng nghe thấy tiếng bước chân ở phía sau.
Nàng quay lại.
Đó là Bích, con hầu nhỏ của lão phu nhân.
Nó đứng cách nàng ba bước, và nó cúi, và nó nói:
"Tam tiểu thư. Lão phu nhân gọi ạ."
Lục Dao nhìn nó.
Nó mười hai tuổi, và nó gầy, và cái cổ tay nó rất nhỏ, và nó đang cầm một cái gì ở trong tay, và cái tay ấy nắm rất chặt.
"Bích," Lục Dao nói. "Cái tay kia của ngươi cầm cái gì?"
Bích im.
Rồi nó mở tay ra.
Trong cái tay ấy có một cái khăn tay trắng, và trên cái khăn ấy có một cái hoa hải đường ở một góc, và ở góc kia có ba cái nét.
Và trên cái khăn ấy có một cái vết bùn, và cái vết bùn ấy khô, và nó là cái bùn đỏ của cái bờ hồ.
Lục Dao nhìn cái khăn ấy, và nàng ngẩng lên, và nàng nhìn Bích.
"Ngươi nhặt nó ở đâu?"
"Ở trên cầu ạ." Bích nói, và cái giọng nó rất nhỏ. "Đêm qua. Khi bà nội sai con đi lấy cái áo cho tam tiểu thư. Con đi qua cái cầu, và con thấy nó ở dưới cái ghế đá, và con nhặt nó, và con giấu nó ở trong áo, và con không nói với ai."
"Vì sao ngươi nhặt nó?"
Bích im rất lâu.
Rồi nó nói, và cái câu ấy là cái câu mà Lục Dao sẽ nhớ:
"Vì con thấy nhị tiểu thư cầm nó ở tay trái, và con nghĩ: một cái người mà cầm một cái khăn có tên mình ở trong một cái đêm như thế thì người ấy không phải là người đã làm cái việc ấy. Người ấy là người muốn người ta nghĩ là người ấy đã làm cái việc ấy."
Lục Dao ngồi xuống.
Nàng ngồi xuống ngay ở cái hành lang ấy, và nàng nhìn một đứa trẻ mười hai tuổi, và nàng nghĩ: cái phủ này có bốn trăm người, và người hiểu cái việc ấy nhất là một đứa trẻ mười hai tuổi.
"Bích," nàng nói. "Ngươi có biết cái việc ngươi vừa nói là cái việc gì không?"
"Con biết ạ."
"Vậy thì ngươi có biết cái việc ấy sẽ làm ngươi chết không?"
Bích nhìn nàng, và cái mặt nó rất bình, và cái bình ấy làm Lục Dao lạnh.
"Tam tiểu thư," nó nói. "Con đã ở cái phủ này từ khi con bốn tuổi. Con đã thấy bốn cái người bị bán. Con đã thấy hai cái người chết. Mà con thì không có ai. Cho nên cái việc con chết thì không phải là một cái việc lớn."
Rồi nó đưa cái khăn ra.
"Tam tiểu thư cầm cái này ạ. Con đã giữ nó một đêm, và con không ngủ."
Lục Dao cầm cái khăn.
Cái khăn ấy lạnh, và nó ẩm, và nó có cái mùi của cái hồ.
"Bích," nàng nói. "Từ hôm nay, ngươi đi theo ta."
Bích ngẩng lên.
"Tam tiểu thư—"
"Ta sẽ xin bà nội. Mà bà nội sẽ cho, vì bà ấy sẽ nghĩ cái việc ấy là một cái phần thưởng cho ngươi, và bà ấy sẽ nghĩ ngươi là cái mắt của bà ấy ở trong phòng ta."
Bích nhìn nàng rất lâu.
Rồi nó nói: "Mà con sẽ là cái mắt của ai ạ?"
Lục Dao cười.
"Ngươi sẽ là cái mắt của ngươi." Nàng nói. "Mà một người có cái mắt của mình thì người ấy không bị bán."
Rồi nàng đứng dậy, và nàng gấp cái khăn ấy, và nàng nhét nó vào trong tay áo, và nàng đi tới cái viện của lão phu nhân.
Và trên đường đi, nàng nghĩ tới một cái việc, và cái việc ấy là cái việc mà nàng phải quyết định trước khi nàng bước qua cái cửa ấy:
Cái khăn ấy là một cái bằng chứng.
Nó nói: Ngụy Tuyết Hinh đã ở đấy.
Mà nếu nàng đưa nó cho lão phu nhân, thì lão phu nhân sẽ dùng nó. Bà ấy sẽ dùng nó để mặc cả với Ngụy Hoành, và cái giá của cái mặc cả ấy sẽ là một cái gì, và cái gì ấy sẽ không phải là Ngụy Tuyết Hinh.
Nó sẽ là mẹ nàng.
Vì Ngụy Hoành đã nói cái câu ấy: "Cái người đổi cái thang ấy sẽ đổi cái cách khác."
Lục Dao dừng ở cửa.
Rồi nàng cúi đầu, và nàng nói rất nhỏ, và cái câu ấy là cái câu đầu tiên nàng nói với chính mình trong cái ngày ấy:
"Vậy thì ta phải nói dối."
Nàng mở cửa.
Sáng hôm sau, trời chưa sáng, Lục Dao đã ra cái cầu.
Cái phủ ấy ngủ muộn, vì đêm qua không ai ngủ. Và cái việc ấy có một cái lợi: cái sân trước giờ Thìn thì không có người, và cái hành lang phía bắc thì không có người, và cái cầu ấy thì không có người.
Lục Dao đi chân đất.
Nàng đi tới cái cầu, và nàng đứng ở chỗ cái lan can mà nàng đã đứng tối qua, và nàng nhìn xuống.
Cái nước ấy bây giờ không ấm nữa. Cái nước ấy lạnh, và nó có một cái váng mỏng, và cái váng ấy là cái váng của một cái hồ sắp đóng băng.
Vì đêm qua người ta đã đóng cái cống.
Lục Dao nhìn cái váng ấy, và nàng nghĩ: một cái đêm. Một cái đêm là đủ để cái hồ ấy trở lại thành cái hồ.
Rồi nàng cúi xuống, và nàng bắt đầu tìm.
Cái khăn tay ấy, nếu nó ở đây, thì nó sẽ ở một trong ba cái chỗ: ở trên cầu, ở dưới cái ghế đá đầu cầu, hoặc ở trong cái bụi rậm ở mép nước, vì một cái khăn nhẹ thì gió đưa nó đi, và gió đêm qua thổi từ phía tây.
Nàng tìm ở trên cầu. Không có.
Nàng tìm ở dưới cái ghế đá. Không có.
Nàng đi xuống mép nước, và nàng tìm trong cái bụi rậm, và nàng tìm bằng tay, vì trời còn tối, và nàng không dám thắp đèn.
Nàng tìm một khắc.
Rồi nàng đứng dậy, và nàng phủi cái bùn ở tay, và nàng nói rất nhỏ:
"Đã có người lấy nó."
Cái việc ấy không làm nàng ngạc nhiên. Nó làm nàng thấy một cái gì khác: cái người lấy nó đã lấy nó rất nhanh. Đêm qua, sau khi lão phu nhân đi, có bốn mươi người ở đây. Mà trong bốn mươi người ấy, có một người đã ở lại.
Lục Dao về phòng, và nàng gọi Xuân Vu.
Xuân Vu đang nằm, và cái đầu nó còn băng, và nó ngồi dậy, và nó nói:
"Tiểu thư."
"Xuân Vu. Cái khăn ấy. Ngươi nói nó nhỏ, nó trắng. Ngươi có thấy nó có cái gì ở trên không?"
"Có ạ." Nó nói. "Con thấy nó có một cái chữ ạ."
"Chữ gì?"
"Con không biết chữ ạ. Nhưng mà con thấy cái hình của nó. Cái chữ ấy ở góc, và nó có một cái nét ngang ở trên, và ở dưới thì nó có hai cái nét. Rồi ở góc kia, cái góc đối diện ấy, có một cái bông hoa."
"Một cái bông hoa."
"Dạ. Cái bông hoa ấy nhỏ, và nó có bốn cái cánh, và cái nhụy của nó thêu bằng chỉ vàng ạ."
Lục Dao ngồi im.
Cái chữ ấy là chữ Hinh. Cái nét ngang ở trên, hai cái nét ở dưới.
Mà cái bông hoa bốn cánh có nhụy vàng ấy là cái hoa hải đường.
Nàng biết cái hoa ấy. Nàng biết nó vì nó là cái hoa mà nhị phòng dùng. Cái khay của nhị phòng, cái khăn trải bàn của nhị phòng, cái rèm của cái viện phía đông: tất cả đều có cái hoa ấy, bốn cánh, nhụy vàng.
Đó là cái dấu của nhị phòng.
Mà một cái khăn tay có cái dấu của nhị phòng và có cái tên của nàng ấy thì không phải là một cái khăn tay của một người.
Nó là một cái khăn tay của một cái phòng.
Lục Dao đứng dậy, và nàng đi tới cái tủ, và nàng lấy ra một cái túi, và nàng nói:
"Thu Từ. Đi với ta."
Hai người đi tới cái phòng thêu.
Cái phòng thêu ấy ở phía tây nam, và nó là một cái nhà dài có sáu cái bàn, và ở đấy có bảy người đàn bà, và người già nhất là bà Đoàn, sáu mươi hai tuổi, và bà ấy thêu cho cái phủ này bốn mươi năm.
Lục Dao vào, và bà Đoàn đứng dậy, và bà ấy nói:
"Tam tiểu thư."
"Bà Đoàn. Ta có một cái việc."
Bà ấy chờ.
"Ta muốn đặt một cái khăn tay. Ta muốn thêu hoa hải đường, và ta muốn cái nhụy thêu bằng chỉ vàng."
Cái phòng im.
Ba người đàn bà ngẩng lên, và hai người cúi xuống, và cái việc hai người cúi xuống ấy làm Lục Dao biết nàng vừa nói đúng một cái gì.
Bà Đoàn nói, và giọng bà ấy rất cẩn thận:
"Tam tiểu thư. Cái hoa hải đường ấy thì cái phủ này không thêu ạ."
"Vì sao?"
"Vì nó là cái hoa của nhị phòng." Bà ấy nói. "Bốn mươi năm trước, cái hoa ấy là cái hoa của cả cái phủ. Nhưng mà từ khi bà cụ mất, thì cái hoa ấy chỉ còn ở nhị phòng. Mà nhị phòng thì có cái phòng thêu riêng, ở trong cái viện phía đông, và cái phòng ấy có bốn người, và bốn người ấy không nhận việc ngoài."
Lục Dao gật đầu.
"Năm nay nhị phòng đặt bao nhiêu cái khăn tay?"
Bà Đoàn im.
"Tam tiểu thư hỏi cái ấy thì tôi không biết ạ."
"Bà không biết, hay bà không nói?"
Cái phòng im.
Rồi bà Đoàn nói, và bà ấy nói rất nhỏ:
"Năm nay nhị phòng đặt mười hai cái ạ. Và cái người đặt là nhị tiểu thư, không phải nhị phu nhân. Và cái việc ấy tôi biết vì cái chỉ vàng ấy là chỉ vàng của cái kho của phủ, và cái chỉ vàng ấy phải có người ký."
"Bà có cái sổ ký ấy không?"
"Có ạ. Mọi cái việc lấy chỉ trong cái phủ này thì phải ký. Đó là cái luật của bà cụ."
Lục Dao ngồi xuống cái ghế đẩu.
"Bà Đoàn. Cái sổ ấy, bà cho ta xem."
Bà ấy đi tới cái tủ, và bà ấy mở, và bà ấy lấy ra một cái sổ, và bà ấy đặt nó lên bàn.
Lục Dao mở, và nàng tìm cái trang của tháng Chín.
Có một cái dòng, và cái dòng ấy viết:
"Mười hai cái khăn tay, hoa hải đường, nhụy chỉ vàng. Người nhận: Ngụy thị. Chỉ: ba đồng vàng."
Rồi ở bên cạnh, có một cái chữ ký nhỏ, và cái chữ ký ấy là chữ ký của cái người đã duyệt.
Lục Dao nhìn cái chữ ký ấy.
Nó không phải chữ của nhị phu nhân. Nó không phải chữ của nhị thúc.
Nó là chữ của người quản sự.
Người quản sự của cái phủ này là một người đàn ông tên là Trịnh Đắc Lợi, và ông ấy đã làm cái việc ấy hai mươi năm, và ông ấy là em họ của bà Trịnh, cái bà đã cài cái trâm gãy vào tóc nàng ở cái kiếp kia.
Lục Dao đóng sổ.
"Bà Đoàn," nàng nói. "Mười hai cái khăn ấy, bà có biết chúng đi đâu không?"
"Không ạ. Nhị phòng nhận rồi thì nhị phòng dùng."
"Bà có biết cái khăn ấy thêu cái chữ gì không?"
Bà Đoàn nhìn nàng.
"Tam tiểu thư," bà ấy nói, và giọng bà ấy rất lạ. "Cái khăn ấy không thêu chữ. Nó thêu một cái hình."
Lục Dao ngẩng lên.
"Hình gì?"
"Nó thêu cái hoa hải đường ở một góc, và ở góc kia thì nó thêu một cái hình mà tôi không hiểu." Bà ấy nói. "Cái hình ấy là ba cái nét. Một cái nét ngang ở trên, hai cái nét ở dưới. Tôi hỏi cái người mang cái khăn ấy tới, và người ấy nói: cái ấy là cái tên của tiểu thư nhà tôi."
Lục Dao ngồi im.
Ba cái nét. Một cái nét ngang, hai cái nét ở dưới.
Đó không phải là chữ Hinh. Đó là cái hình mà một người không biết chữ vẽ lại chữ Hinh sau khi nhìn nó một lần.
Mà một người thêu thì không vẽ lại. Một người thêu thì chép từ một cái mẫu.
Trừ khi cái mẫu ấy được đưa cho người ấy bởi một người không biết chữ, và người ấy phải vẽ lại, và người ấy vẽ sai ba cái nét.
Lục Dao đứng dậy.
"Bà Đoàn," nàng nói. "Cái người mang cái khăn ấy tới, người ấy là ai?"
"Tôi không biết tên ạ. Người ấy mặc áo xanh, và người ấy không phải người trong phủ. Người ấy tới bằng cổng sau, và người ấy đưa một cái túi, và trong cái túi ấy có cái mẫu."
"Bà có cái mẫu ấy không?"
"Không ạ. Cái mẫu ấy thì tôi trả lại, vì cái luật là thế."
Lục Dao gật đầu, và nàng cúi, và nàng nói:
"Bà Đoàn. Cái việc này thì bà đừng nói với ai."
Bà ấy nhìn nàng rất lâu.
"Tam tiểu thư," bà ấy nói, "tôi đã ở cái phủ này bốn mươi năm. Tôi đã thêu cho ba đời người. Mà cái việc tôi học được trong bốn mươi năm ấy là: cái kim thì không nói. Cho nên tôi không nói. Nhưng mà tôi xin nói với tiểu thư một câu: cái khăn ấy, cái khăn có ba cái nét ấy, tôi đã thêu mười hai cái. Mà mười hai cái ấy thì tôi thêu trong ba ngày. Mà cái người đặt không lấy chúng về."
Lục Dao đứng im.
"Không lấy về?"
"Không ạ. Mười hai cái khăn ấy vẫn ở đây." Bà Đoàn nói. "Chúng ở trong cái hòm ấy, cái hòm ở dưới cái bàn của tôi, và cái người ấy nói: để đấy, tháng sau ta lấy."
Lục Dao đi tới cái hòm ấy, và nàng mở, và trong cái hòm ấy có một cái bọc vải, và trong cái bọc ấy có mười hai cái khăn tay trắng, và mỗi cái khăn ấy có một cái hoa hải đường ở một góc và ba cái nét ở góc kia.
Nàng cầm một cái lên, và nàng nhìn.
Cái khăn ấy mới, và nó chưa giặt, và nó còn cái mùi của cái vải mới, và nó không có một cái vết nào.
Nàng cầm cái thứ hai. Nó cũng thế.
Cái thứ ba, cái thứ tư, cái thứ năm: cũng thế.
Lục Dao đặt chúng xuống.
"Mười hai cái khăn mới," nàng nói, "và một cái khăn đã dùng, và cái khăn đã dùng ấy ở trên cầu đêm qua."
Bà Đoàn nhìn nàng, và cái mặt bà ấy trắng.
"Tam tiểu thư nói cái gì?"
"Ta nói: cái khăn mà ngươi thêu cho nhị tiểu thư, cái khăn có ba cái nét ấy, không phải là cái khăn mà người ta dùng để thêu tên mình." Lục Dao nói. "Nó là cái khăn mà người ta dùng để lại ở một cái chỗ."
Rồi nàng cúi, và nàng đi ra.
Nàng đi qua cái sân, và cái nắng ấy đã lên, và cái nắng ấy vàng, và nó làm nàng chảy nước mắt, và nàng không biết đó là vì nắng.
Nàng nghĩ: mười hai cái khăn. Mười hai cái tự thú.
Một người đặt mười hai cái khăn có tên mình, và không lấy chúng về, và để chúng ở một cái hòm trong cái phòng thêu, cái chỗ mà bất kỳ ai cũng có thể mở.
Đó không phải là một cái sơ hở. Đó là một cái chuẩn bị.
Ngụy Tuyết Hinh đang chuẩn bị một cái việc mà cái việc ấy cần mười hai cái bằng chứng chống lại nàng ấy.
Mà cái việc ấy là gì?
Lục Dao đi tới cái hành lang phía đông, và nàng dừng.
Có một cái ý nghĩ tới, và cái ý nghĩ ấy rất lạnh, và nó rất đơn giản:
Một người chuẩn bị bằng chứng chống lại mình là một người đang chuẩn bị chết.
Mà một người chuẩn bị chết thì người ấy đang chuẩn bị cho một cái việc mà cái việc ấy sẽ làm cho người ấy chết, và người ấy muốn cái chết ấy có một cái tên.
Lục Dao đứng ở hành lang, và nàng nghe thấy tiếng bước chân ở phía sau.
Nàng quay lại.
Đó là Bích, con hầu nhỏ của lão phu nhân.
Nó đứng cách nàng ba bước, và nó cúi, và nó nói:
"Tam tiểu thư. Lão phu nhân gọi ạ."
Lục Dao nhìn nó.
Nó mười hai tuổi, và nó gầy, và cái cổ tay nó rất nhỏ, và nó đang cầm một cái gì ở trong tay, và cái tay ấy nắm rất chặt.
"Bích," Lục Dao nói. "Cái tay kia của ngươi cầm cái gì?"
Bích im.
Rồi nó mở tay ra.
Trong cái tay ấy có một cái khăn tay trắng, và trên cái khăn ấy có một cái hoa hải đường ở một góc, và ở góc kia có ba cái nét.
Và trên cái khăn ấy có một cái vết bùn, và cái vết bùn ấy khô, và nó là cái bùn đỏ của cái bờ hồ.
Lục Dao nhìn cái khăn ấy, và nàng ngẩng lên, và nàng nhìn Bích.
"Ngươi nhặt nó ở đâu?"
"Ở trên cầu ạ." Bích nói, và cái giọng nó rất nhỏ. "Đêm qua. Khi bà nội sai con đi lấy cái áo cho tam tiểu thư. Con đi qua cái cầu, và con thấy nó ở dưới cái ghế đá, và con nhặt nó, và con giấu nó ở trong áo, và con không nói với ai."
"Vì sao ngươi nhặt nó?"
Bích im rất lâu.
Rồi nó nói, và cái câu ấy là cái câu mà Lục Dao sẽ nhớ:
"Vì con thấy nhị tiểu thư cầm nó ở tay trái, và con nghĩ: một cái người mà cầm một cái khăn có tên mình ở trong một cái đêm như thế thì người ấy không phải là người đã làm cái việc ấy. Người ấy là người muốn người ta nghĩ là người ấy đã làm cái việc ấy."
Lục Dao ngồi xuống.
Nàng ngồi xuống ngay ở cái hành lang ấy, và nàng nhìn một đứa trẻ mười hai tuổi, và nàng nghĩ: cái phủ này có bốn trăm người, và người hiểu cái việc ấy nhất là một đứa trẻ mười hai tuổi.
"Bích," nàng nói. "Ngươi có biết cái việc ngươi vừa nói là cái việc gì không?"
"Con biết ạ."
"Vậy thì ngươi có biết cái việc ấy sẽ làm ngươi chết không?"
Bích nhìn nàng, và cái mặt nó rất bình, và cái bình ấy làm Lục Dao lạnh.
"Tam tiểu thư," nó nói. "Con đã ở cái phủ này từ khi con bốn tuổi. Con đã thấy bốn cái người bị bán. Con đã thấy hai cái người chết. Mà con thì không có ai. Cho nên cái việc con chết thì không phải là một cái việc lớn."
Rồi nó đưa cái khăn ra.
"Tam tiểu thư cầm cái này ạ. Con đã giữ nó một đêm, và con không ngủ."
Lục Dao cầm cái khăn.
Cái khăn ấy lạnh, và nó ẩm, và nó có cái mùi của cái hồ.
"Bích," nàng nói. "Từ hôm nay, ngươi đi theo ta."
Bích ngẩng lên.
"Tam tiểu thư—"
"Ta sẽ xin bà nội. Mà bà nội sẽ cho, vì bà ấy sẽ nghĩ cái việc ấy là một cái phần thưởng cho ngươi, và bà ấy sẽ nghĩ ngươi là cái mắt của bà ấy ở trong phòng ta."
Bích nhìn nàng rất lâu.
Rồi nó nói: "Mà con sẽ là cái mắt của ai ạ?"
Lục Dao cười.
"Ngươi sẽ là cái mắt của ngươi." Nàng nói. "Mà một người có cái mắt của mình thì người ấy không bị bán."
Rồi nàng đứng dậy, và nàng gấp cái khăn ấy, và nàng nhét nó vào trong tay áo, và nàng đi tới cái viện của lão phu nhân.
Và trên đường đi, nàng nghĩ tới một cái việc, và cái việc ấy là cái việc mà nàng phải quyết định trước khi nàng bước qua cái cửa ấy:
Cái khăn ấy là một cái bằng chứng.
Nó nói: Ngụy Tuyết Hinh đã ở đấy.
Mà nếu nàng đưa nó cho lão phu nhân, thì lão phu nhân sẽ dùng nó. Bà ấy sẽ dùng nó để mặc cả với Ngụy Hoành, và cái giá của cái mặc cả ấy sẽ là một cái gì, và cái gì ấy sẽ không phải là Ngụy Tuyết Hinh.
Nó sẽ là mẹ nàng.
Vì Ngụy Hoành đã nói cái câu ấy: "Cái người đổi cái thang ấy sẽ đổi cái cách khác."
Lục Dao dừng ở cửa.
Rồi nàng cúi đầu, và nàng nói rất nhỏ, và cái câu ấy là cái câu đầu tiên nàng nói với chính mình trong cái ngày ấy:
"Vậy thì ta phải nói dối."
Nàng mở cửa.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Mùa xuân ở hồ nước cũ
Chương 79: Ninh Vương phủ bị niêm phong
Chương 78: Đứa trẻ sinh vào giờ mưa
Chương 77: Tiêu Dận không nạp thiếp
Chương 76: Mùa đông thứ ba, ta có thai
Chương 75: Một chén rượu đặt sai chỗ
Chương 74
Chương 73
Chương 72: Ta hỏi hắn về mẹ hắn
Chương 71: Có một người đứng ngoài cửa suốt đêm
Chương 70: Cái hồ được lấp
Chương 69: Bản án viết bằng mực đỏ
Chương 68: Ngụy Tuyết Hinh quỳ ở cổng Trấn Bắc Hầu phủ
Chương 67: Quy Ninh Hầu phủ xin từ hôn
Chương 66: Ngụy Hoành bị bắt ở cổng thành
Chương 65: Cha ra khỏi chiếu ngục vào mùa thu
Chương 64: Cái rương dưới gầm giường
Chương 63: Cái chết của mẹ không phải bệnh
Chương 62: Tần ma ma nói ra chuyện mười năm trước
Chương 61: Người làm chứng thứ chín đổi lời
Chương 60: Cái thư mười bảy cái dòng
Chương 59: Đứa trẻ không phải của Cố Thừa Châu
Chương 58: Ngụy Tuyết Hinh mang thai
Chương 57: Ba mươi bảy xe lương được đếm lại
Chương 56: Cái cân ở trước điện
Chương 55: Ta đứng ở cửa điện, không quỳ
Chương 54: Ninh Vương phủ mở cửa
Chương 53: Bức thư thứ hai có cùng nét chữ
Chương 52: Một câu nói của Cố Thừa Châu trong mưa
Chương 51: Người đưa cơm ở chiếu ngục số ba
Chương 50: Lục Đình Quang tới thăm ngục
Chương 49: Đêm thứ bảy, mẹ uống hết bát thuốc
Chương 48: Một cái tên trong sổ của Ngụy Hoành
Chương 47: Ta tới Bắc Trấn Ty lần thứ hai
Chương 46: Cái ấn được tháo khỏi ngăn kéo
Chương 45: Lão phu nhân quỳ ở từ đường
Chương 44: Cha bị đưa vào chiếu ngục
Chương 43: Lục Chiêu gửi về một cái hộp gỗ
Chương 42: Ba ngày trước khi cha bị bắt
Chương 41: Phong thư có con dấu của cha
Chương 40: Lần đầu ta gọi hắn là "tướng công"
Chương 39: Bữa tiệc mừng của nhị phòng
Chương 38: Ngụy Tuyết Hinh vào cửa Quy Ninh Hầu phủ
Chương 37: Sáng hôm sau, hắn để lại một cái hộp
Chương 36: Đêm tân hôn có ba câu hỏi
Chương 35: Ngày thành thân không có kiệu hoa đỏ
Chương 34: Nhị phòng đổi khóa kho
Chương 33: Cố Thừa Châu đứng ở hành lang rất lâu
Chương 32: Hôn ước bị trả lại giữa tiệc
Chương 31: Điều kiện của Diêm La
Chương 30: Ta đưa hắn một trang giấy
Chương 29: Bắc Trấn Ty không nhận lễ
Chương 28: Một câu hỏi về ba mươi bảy xe lương
Chương 27: Tiêu Dận tới dự lễ thọ của lão phu nhân
Chương 26: Lần đầu ta nói dối lão phu nhân
Chương 25: Cái khăn tay thêu chữ "Hinh"
Chương 24: Cứu hay không cứu
Chương 23: Người rơi xuống là ai
Chương 22: Hồ nước chưa đóng băng năm nay
Chương 21: Cố Thừa Châu nói một câu về hôn ước
Chương 20: Bạch tiên sinh bắt mạch ba lần
Chương 19: Ngụy Hoành tới thăm "bệnh" của mẹ
Chương 18: Một trang giấy có hai con dấu
Chương 17: Đêm mưa ở kho số bảy
Chương 16: Cái chìa khóa trong ống tay áo
Chương 15: Lục Đình Quang mời ta uống trà
Chương 14: Ba mươi bảy xe lương không có trong sổ
Chương 13: Vị quan sai áo xanh đứng ở cổng sau
Chương 12: Bức thư gửi tới Bắc Trấn Ty
Chương 11: Đêm đầu tiên ta không ngủ
Chương 10: Lão phu nhân hỏi một câu về cái khay
Chương 9: Ngụy Tuyết Hinh quỳ ở giữa sân
Chương 8: Lễ cập kê và chiếc trâm gãy
Chương 7: Cái tên được ghi vào sổ phòng thuốc
Chương 6: Thang thuốc của mẹ có ba vị lạ
Chương 5: Bà vú già và cái khay thứ hai
Chương 4: Bánh hoa quế có mùi hạnh nhân đắng
Chương 3: Ba ngày trước lễ cập kê
Chương 2: Mở mắt trong mùa hạ năm mười sáu
Chương 1: Cái chết ở hồ nước đóng băng