Chương 26: Tờ di chúc
Chương 26: Tờ di chúc
Sáng hôm sau, cô và Dũng lên phường.
Cái phòng tiếp dân ở tầng một, có cái bàn dài, và anh công an khu vực ngồi đó.
Anh ta tên Hòa, chừng ba mươi lăm, và anh ta nghe hết, và anh ta ghi.
"Ba cái app." Anh ta nói. "Tên gì?"
Dũng đọc. Anh Hòa ghi.
"Có hợp đồng không?"
"Dạ có. Trên app."
"Chụp lại hết. In ra. Đem lên đây."
"Em chụp rồi." Nhã Linh nói, và cô đặt xấp giấy in lên bàn.
Anh Hòa lật, và anh ta dừng ở một tờ.
"Cái này lãi bao nhiêu?"
"App một: một trăm hai mươi bảy phần năm." Nhã Linh nói. "App hai: một trăm ba mươi lăm. App ba: một trăm ba mươi sáu."
Anh Hòa đặt tờ giấy xuống.
"Mấy cái này vượt trần lãi suất." Anh ta nói.
"Dạ."
"Nhưng mà chị ơi." Anh ta nói, và giọng anh ta hạ xuống. "Cái khó là mấy cái app này nó không có trụ sở ở đây. Nó ở nước ngoài, hoặc nó đăng ký ở tỉnh khác. Mình muốn xử thì phải có hồ sơ, mà lập hồ sơ thì..."
"Thì mất thời gian."
"Dạ."
"Nhưng mà cái người tới nhà tôi xịt sơn, người đó ở đây." Nhã Linh nói. "Người đó là người Việt, có xe, có biển số, và công an phường mình biết mặt."
Anh Hòa gật.
"Cái đó thì xử được." Anh ta nói. "Mà chị muốn gì?"
"Tôi muốn ba chuyện." Cô nói. "Một: ghi nhận là tôi có báo. Hai: cho tôi cái biên bản để tôi gửi cho công ty. Ba: nói với tôi cái gì tôi được làm và cái gì tôi không được làm, để tôi không làm sai."
Anh Hòa nhìn cô, và anh ta cười, lần đầu.
"Chị hỏi câu thứ ba hay nhất." Anh ta nói. "Người ta tới đây toàn hỏi 'bao giờ giải quyết'."
Anh ta kéo cái ghế lại gần.
"Tôi nói cho chị nghe. Chị trả gốc, được. Chị trả qua tài khoản, không đưa tiền mặt. Chị ghi rõ nội dung chuyển khoản: 'trả gốc hợp đồng số...'. Chị giữ hết tin nhắn, kể cả tin nhắn chửi. Chị không ký cái gì hết. Và nếu nó tới nhà, chị gọi 113, đừng ra."
"Dạ."
"Mà cái quan trọng nhất: đừng để nó biết chị sợ." Anh ta nói. "Mấy cái này nó sống bằng cái sợ. Chị càng sợ, nó càng tới."
Nhã Linh gật.
Rồi cô hỏi:
"Anh Hòa. Cái thằng Dũng này, nó có bị gì không?"
Anh ta nhìn Dũng, và Dũng nhìn xuống.
"Về hình sự thì không." Anh ta nói. "Về dân sự thì nó nợ. Mà nợ thì phải trả."
"Dạ."
"Chị là gì của nó?"
"Tôi là chị."
"Chị ruột?"
"Không." Nhã Linh nói. "Dì kế tôi là mẹ nó. Tôi với nó không cùng máu."
Anh Hòa nhìn cô, rồi anh ta nhìn Dũng, rồi anh ta nói:
"Vậy mà chị dắt nó lên đây."
"Vì nó đang làm ở xưởng nhà tôi." Cô nói. "Mà người làm ở xưởng nhà tôi thì không được để cái app nó tới cửa."
---
Về nhà, mười giờ, bà Sáu ngồi ở bàn, và trước mặt bà là cái túi vải đen.
"Ngồi xuống." Bà nói. "Kêu thằng Luân vô."
Nhã Linh gọi.
Gia Luân vào, áo còn bụi, và ông ta ngồi.
Bà Sáu đặt hai tay lên bàn.
"Tao muốn làm di chúc."
Cái bếp im.
"Má." Gia Luân nói. "Má nói cái đó làm gì."
"Vì tao vừa đặt stent." Bà nói. "Vì tao bảy mươi. Vì cái đêm hôm kia, có năm người tới cái cổng này, và tao nằm trong buồng, và tao nghĩ: nếu đêm đó tao chết, thì cái nhà này thành cái gì?"
Bà nhìn con trai.
"Con nói đi."
Gia Luân im.
"Con không nói." Bà nói. "Vậy tao nói: nếu tao chết mà không có giấy, thì cái nhà này thành của chú mày. Vì chú mày là em ruột của ba mày, và trong cái họ này, chú mày là người đàn ông lớn tuổi nhất còn sống. Mà cái họ này thì ai cũng nói: đất của ông nội thì con trai giữ."
"Con là con trai." Gia Luân nói.
"Con là con trai, mà con không có giấy." Bà nói. "Mà thằng Cường thì có miệng."
Gia Luân cúi đầu.
"Vậy má muốn gì?"
"Tao muốn một tờ giấy." Bà nói. "Có chữ ký, có người làm chứng, có ngày. Để khi tao chết, không ai nói được gì."
Bà quay sang Nhã Linh.
"Mày viết."
"Dạ?"
"Mày biết viết giấy." Bà nói. "Mày viết cho tao một tờ di chúc. Tao đọc, tao sửa, tao ký."
Nhã Linh ngồi im.
"Bà Sáu."
"Ừ."
"Cái đó phải công chứng." Cô nói. "Hoặc ít nhất phải có hai người làm chứng không phải người thừa kế. Nếu không thì sau này dễ bị cãi."
"Vậy thì mời hai người."
"Ai?"
"Bà Bảy." Bà Sáu nói. "Và thằng Bảy Tòng."
---
Chiều, cô viết.
Cô viết bằng tay, trên giấy A4, và cô viết chậm, và cô đọc từng câu cho bà nghe.
"Điều 1. Tôi là Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1956, chủ sở hữu hợp pháp thửa đất số..., diện tích trên giấy chứng nhận là 14m x 22m, tại..."
"Khoan." Bà Sáu nói. "Cái 14 đó."
"Dạ."
"Ghi thêm: 'thực tế sử dụng 12m, do năm 1998 đã chuyển nhượng 2m cho hộ liền kề, chưa làm thủ tục sang tên'."
Nhã Linh ngẩng lên.
"Bà muốn ghi cái đó vô di chúc?"
"Ừ." Bà nói. "Để sau này không ai nói tao giấu."
Cô viết.
"Điều 2. Tôi để lại toàn bộ nhà, đất và cơ sở sản xuất cho con trai tôi là Gia Luân."
Bà gật.
"Điều 3. Cơ sở sản xuất — tức xưởng gỗ — giao cho người trực tiếp giữ sổ và điều hành. Người đó là Nguyễn Nhã Linh."
Nhã Linh dừng bút.
"Bà ơi."
"Viết đi."
"Con không nhận."
"Tao chưa cho mày cái gì." Bà nói. "Tao giao mày giữ cái sổ. Cái sổ không phải tài sản. Cái sổ là cái nghề."
"Vẫn là một điều khoản trong di chúc."
"Ừ." Bà nói. "Và mày sẽ cãi với tao về nó. Nhưng tao nói cái này: cái xưởng này, thằng Luân nó làm được. Nó đóng tủ giỏi hơn tao. Nhưng nó không giữ được sổ. Mà không giữ sổ thì ba năm là mất xưởng."
Bà nhìn con trai.
"Con có giận không?"
Gia Luân ngồi im, rồi ông ta nói:
"Không." Ông ta nói. "Con biết con không giữ được sổ."
Bà Sáu gật.
"Vậy viết tiếp."
---
Bốn giờ, bà Bảy và ông Bảy Tòng tới.
Bà Bảy mặc cái áo mới, và bà ta mang theo một cái hộp bánh. Ông Bảy Tòng mặc áo sơ mi, và ông ta chải tóc.
Họ ngồi ở bàn, và Nhã Linh đọc to tờ di chúc.
Bà Bảy nghe, và bà ta gật gù, và tới điều 3 thì bà ta nói:
"Ối, cái này lạ nha. Chị Sáu giao xưởng cho con dâu."
"Con dâu tao." Bà Sáu nói. "Mà cũng là người giữ sổ."
"Ừ thì em nói vậy thôi." Bà Bảy nói. "Mà chị coi chừng, cái này sau này con cháu nó cãi."
"Sẽ cãi." Bà Sáu nói. "Cho nên mới có hai người làm chứng."
Đọc xong, bà Sáu ký. Rồi bà Bảy ký. Rồi ông Bảy Tòng ký, và ông ta ký chậm, và ông ta nói:
"Tôi không biết chữ nhiều. Nhưng tôi nghe rồi. Tôi ký."
Nhã Linh chụp bốn tấm ảnh, và cô photo ba bản: một cho bà Sáu, một cho Gia Luân, một cho cô.
Rồi cô nói:
"Ngày mai mình ra phường chứng thực chữ ký. Cái đó quan trọng hơn cái tờ này."
Bà Sáu gật.
---
Tối, khách về, và bà Sáu gọi cô vào buồng.
Bà mở cái tủ sắt, và bà lấy ra một cái chìa khóa.
"Đây."
"Cái gì?"
"Chìa thứ hai." Bà nói. "Cái tủ đó có hai ổ. Một ổ tao giữ. Ổ kia tao mới cho thợ làm thêm, tháng trước."
Nhã Linh cầm cái chìa.
"Trong tủ có gì?"
"Giấy tờ nhà." Bà nói. "Sổ đỏ. Cái tờ 1998. Bản vẽ 1994. Và cái hộp đựng di chúc."
"Bà cho con chìa?"
"Tao cho mày chìa." Bà nói. "Mà này. Cái tủ đó, hai chìa phải mở cùng lúc. Một mình mày không mở được. Một mình tao cũng không mở được."
Bà ngồi xuống giường.
"Tao làm vậy vì tao không tin ai hết." Bà nói. "Kể cả mày."
"Dạ."
"Mà mày là người tao ít không tin nhất." Bà nói. "Đó là cái tốt nhất tao nói được."
Nhã Linh cầm cái chìa, và cô nhìn nó, và cô nghĩ: cái chìa này nhỏ hơn cái chìa cổng, và nó nặng hơn nhiều.
"Bà Sáu."
"Ừ."
"Cái điều 3 đó. Con vẫn không nhận."
"Ừ." Bà nói. "Mày cứ nói vậy đi. Cho tới ngày mày phải nhận."
---
Tám giờ, Cò ngồi ở hiên, và cô bé gọi:
"Chị."
"Ừ."
"Chị ngồi đây chút."
Nhã Linh ra, ngồi xuống bậc.
"Chuyện gì?"
"Em nghe hết rồi." Cò nói. "Cái di chúc. Em đứng ở ngoài, em nghe."
"Ừ."
"Bà giao cái xưởng cho chị."
"Bà giao cho người giữ sổ."
"Thì là chị." Cò nói, và cô bé nhìn chị. "Vậy là chị có tên trong cái nhà này."
Nhã Linh im.
"Chị." Cò nói, và giọng cô bé nhỏ lại. "Chị có tên trong cái nhà này rồi."
"Ừ."
"Vậy là mình hết bị đuổi hả chị?"
Nhã Linh quay lại nhìn em.
Cô nhớ cái ngày ở cái hẻm số bảy, cái góc ngăn bằng tấm các-tông, cái câu dì kế nói: "Nhà chật." Cô nhớ cái xe ôm chở Cò tới đây với cái thùng nhựa và cây đàn gãy dây.
"Không ai đuổi mình nữa." Cô nói.
Cò gật, và cô bé cúi xuống, và cô bé nói, giọng bình thường, và vì bình thường nên nó nặng:
"Em không cần cái nhà. Em cần cái chỗ mà người ta không nói 'đi đi'."
Nhã Linh đưa tay ra, và cô đặt lên vai em, và cô để đó.
Hai chị em ngồi ở bậc thềm, và ngoài kia cái quạt nước nhà bên chạy đều, và cái cổng còn vết sơn mờ.
"Chị."
"Ừ."
"Cái chữ trên cổng đó. Bà nói để lại một chút."
"Ừ."
"Em cạo rồi." Cò nói. "Em cạo sạch. Em không muốn ai đi ngang đọc nó."
Nhã Linh nhìn cái cổng.
"Vậy thì mình nhớ trong đầu." Cô nói.
---
Đêm, cô ngồi ở bàn, và cô mở sổ.
"Ngày 10/12.
- Lên phường với Dũng. Anh Hòa. Biên bản đã lập.
- Bà Sáu làm di chúc. 4 điều. 2 người làm chứng (bà Bảy, Bảy Tòng).
- Điều 3: giao xưởng cho người giữ sổ = tôi. Tôi đã phản đối. Bà không đổi.
- Bà cho tôi chìa thứ hai của tủ sắt. Tủ 2 ổ, phải mở cùng lúc.
→ Mai: ra phường chứng thực chữ ký.
→ Nguy cơ: bà Bảy kể. Mà bà Bảy kể thì chú Cường biết trong hai ngày."
Cô đóng sổ.
Rồi cô ngồi nhìn cái chìa khóa trên bàn.
Và cô nghĩ tới cái đêm đầu tiên, khi bà Sáu đưa cô cái chìa cổng bằng hai ngón tay, như đưa tiền lẻ cho người bán rau, và nói: "Nhà này mày ở được. Đừng có phá."
Bốn tháng.
Bây giờ bà đưa cô cái chìa thứ hai, và bà nói: "Mày là người tao ít không tin nhất."
Cô cầm cái chìa, và cô buộc nó vào cái dây thun đỏ, cạnh cái chìa cổng.
Rồi cô treo nó vào trong túi áo, và cô nằm xuống.
Và lần đầu tiên trong bốn tháng, cô nghĩ tới chuyện ở lại lâu hơn hai năm.
Cô không nghĩ tới con số. Cô nghĩ tới cái chìa.
Sáng hôm sau, cô và Dũng lên phường.
Cái phòng tiếp dân ở tầng một, có cái bàn dài, và anh công an khu vực ngồi đó.
Anh ta tên Hòa, chừng ba mươi lăm, và anh ta nghe hết, và anh ta ghi.
"Ba cái app." Anh ta nói. "Tên gì?"
Dũng đọc. Anh Hòa ghi.
"Có hợp đồng không?"
"Dạ có. Trên app."
"Chụp lại hết. In ra. Đem lên đây."
"Em chụp rồi." Nhã Linh nói, và cô đặt xấp giấy in lên bàn.
Anh Hòa lật, và anh ta dừng ở một tờ.
"Cái này lãi bao nhiêu?"
"App một: một trăm hai mươi bảy phần năm." Nhã Linh nói. "App hai: một trăm ba mươi lăm. App ba: một trăm ba mươi sáu."
Anh Hòa đặt tờ giấy xuống.
"Mấy cái này vượt trần lãi suất." Anh ta nói.
"Dạ."
"Nhưng mà chị ơi." Anh ta nói, và giọng anh ta hạ xuống. "Cái khó là mấy cái app này nó không có trụ sở ở đây. Nó ở nước ngoài, hoặc nó đăng ký ở tỉnh khác. Mình muốn xử thì phải có hồ sơ, mà lập hồ sơ thì..."
"Thì mất thời gian."
"Dạ."
"Nhưng mà cái người tới nhà tôi xịt sơn, người đó ở đây." Nhã Linh nói. "Người đó là người Việt, có xe, có biển số, và công an phường mình biết mặt."
Anh Hòa gật.
"Cái đó thì xử được." Anh ta nói. "Mà chị muốn gì?"
"Tôi muốn ba chuyện." Cô nói. "Một: ghi nhận là tôi có báo. Hai: cho tôi cái biên bản để tôi gửi cho công ty. Ba: nói với tôi cái gì tôi được làm và cái gì tôi không được làm, để tôi không làm sai."
Anh Hòa nhìn cô, và anh ta cười, lần đầu.
"Chị hỏi câu thứ ba hay nhất." Anh ta nói. "Người ta tới đây toàn hỏi 'bao giờ giải quyết'."
Anh ta kéo cái ghế lại gần.
"Tôi nói cho chị nghe. Chị trả gốc, được. Chị trả qua tài khoản, không đưa tiền mặt. Chị ghi rõ nội dung chuyển khoản: 'trả gốc hợp đồng số...'. Chị giữ hết tin nhắn, kể cả tin nhắn chửi. Chị không ký cái gì hết. Và nếu nó tới nhà, chị gọi 113, đừng ra."
"Dạ."
"Mà cái quan trọng nhất: đừng để nó biết chị sợ." Anh ta nói. "Mấy cái này nó sống bằng cái sợ. Chị càng sợ, nó càng tới."
Nhã Linh gật.
Rồi cô hỏi:
"Anh Hòa. Cái thằng Dũng này, nó có bị gì không?"
Anh ta nhìn Dũng, và Dũng nhìn xuống.
"Về hình sự thì không." Anh ta nói. "Về dân sự thì nó nợ. Mà nợ thì phải trả."
"Dạ."
"Chị là gì của nó?"
"Tôi là chị."
"Chị ruột?"
"Không." Nhã Linh nói. "Dì kế tôi là mẹ nó. Tôi với nó không cùng máu."
Anh Hòa nhìn cô, rồi anh ta nhìn Dũng, rồi anh ta nói:
"Vậy mà chị dắt nó lên đây."
"Vì nó đang làm ở xưởng nhà tôi." Cô nói. "Mà người làm ở xưởng nhà tôi thì không được để cái app nó tới cửa."
---
Về nhà, mười giờ, bà Sáu ngồi ở bàn, và trước mặt bà là cái túi vải đen.
"Ngồi xuống." Bà nói. "Kêu thằng Luân vô."
Nhã Linh gọi.
Gia Luân vào, áo còn bụi, và ông ta ngồi.
Bà Sáu đặt hai tay lên bàn.
"Tao muốn làm di chúc."
Cái bếp im.
"Má." Gia Luân nói. "Má nói cái đó làm gì."
"Vì tao vừa đặt stent." Bà nói. "Vì tao bảy mươi. Vì cái đêm hôm kia, có năm người tới cái cổng này, và tao nằm trong buồng, và tao nghĩ: nếu đêm đó tao chết, thì cái nhà này thành cái gì?"
Bà nhìn con trai.
"Con nói đi."
Gia Luân im.
"Con không nói." Bà nói. "Vậy tao nói: nếu tao chết mà không có giấy, thì cái nhà này thành của chú mày. Vì chú mày là em ruột của ba mày, và trong cái họ này, chú mày là người đàn ông lớn tuổi nhất còn sống. Mà cái họ này thì ai cũng nói: đất của ông nội thì con trai giữ."
"Con là con trai." Gia Luân nói.
"Con là con trai, mà con không có giấy." Bà nói. "Mà thằng Cường thì có miệng."
Gia Luân cúi đầu.
"Vậy má muốn gì?"
"Tao muốn một tờ giấy." Bà nói. "Có chữ ký, có người làm chứng, có ngày. Để khi tao chết, không ai nói được gì."
Bà quay sang Nhã Linh.
"Mày viết."
"Dạ?"
"Mày biết viết giấy." Bà nói. "Mày viết cho tao một tờ di chúc. Tao đọc, tao sửa, tao ký."
Nhã Linh ngồi im.
"Bà Sáu."
"Ừ."
"Cái đó phải công chứng." Cô nói. "Hoặc ít nhất phải có hai người làm chứng không phải người thừa kế. Nếu không thì sau này dễ bị cãi."
"Vậy thì mời hai người."
"Ai?"
"Bà Bảy." Bà Sáu nói. "Và thằng Bảy Tòng."
---
Chiều, cô viết.
Cô viết bằng tay, trên giấy A4, và cô viết chậm, và cô đọc từng câu cho bà nghe.
"Điều 1. Tôi là Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1956, chủ sở hữu hợp pháp thửa đất số..., diện tích trên giấy chứng nhận là 14m x 22m, tại..."
"Khoan." Bà Sáu nói. "Cái 14 đó."
"Dạ."
"Ghi thêm: 'thực tế sử dụng 12m, do năm 1998 đã chuyển nhượng 2m cho hộ liền kề, chưa làm thủ tục sang tên'."
Nhã Linh ngẩng lên.
"Bà muốn ghi cái đó vô di chúc?"
"Ừ." Bà nói. "Để sau này không ai nói tao giấu."
Cô viết.
"Điều 2. Tôi để lại toàn bộ nhà, đất và cơ sở sản xuất cho con trai tôi là Gia Luân."
Bà gật.
"Điều 3. Cơ sở sản xuất — tức xưởng gỗ — giao cho người trực tiếp giữ sổ và điều hành. Người đó là Nguyễn Nhã Linh."
Nhã Linh dừng bút.
"Bà ơi."
"Viết đi."
"Con không nhận."
"Tao chưa cho mày cái gì." Bà nói. "Tao giao mày giữ cái sổ. Cái sổ không phải tài sản. Cái sổ là cái nghề."
"Vẫn là một điều khoản trong di chúc."
"Ừ." Bà nói. "Và mày sẽ cãi với tao về nó. Nhưng tao nói cái này: cái xưởng này, thằng Luân nó làm được. Nó đóng tủ giỏi hơn tao. Nhưng nó không giữ được sổ. Mà không giữ sổ thì ba năm là mất xưởng."
Bà nhìn con trai.
"Con có giận không?"
Gia Luân ngồi im, rồi ông ta nói:
"Không." Ông ta nói. "Con biết con không giữ được sổ."
Bà Sáu gật.
"Vậy viết tiếp."
---
Bốn giờ, bà Bảy và ông Bảy Tòng tới.
Bà Bảy mặc cái áo mới, và bà ta mang theo một cái hộp bánh. Ông Bảy Tòng mặc áo sơ mi, và ông ta chải tóc.
Họ ngồi ở bàn, và Nhã Linh đọc to tờ di chúc.
Bà Bảy nghe, và bà ta gật gù, và tới điều 3 thì bà ta nói:
"Ối, cái này lạ nha. Chị Sáu giao xưởng cho con dâu."
"Con dâu tao." Bà Sáu nói. "Mà cũng là người giữ sổ."
"Ừ thì em nói vậy thôi." Bà Bảy nói. "Mà chị coi chừng, cái này sau này con cháu nó cãi."
"Sẽ cãi." Bà Sáu nói. "Cho nên mới có hai người làm chứng."
Đọc xong, bà Sáu ký. Rồi bà Bảy ký. Rồi ông Bảy Tòng ký, và ông ta ký chậm, và ông ta nói:
"Tôi không biết chữ nhiều. Nhưng tôi nghe rồi. Tôi ký."
Nhã Linh chụp bốn tấm ảnh, và cô photo ba bản: một cho bà Sáu, một cho Gia Luân, một cho cô.
Rồi cô nói:
"Ngày mai mình ra phường chứng thực chữ ký. Cái đó quan trọng hơn cái tờ này."
Bà Sáu gật.
---
Tối, khách về, và bà Sáu gọi cô vào buồng.
Bà mở cái tủ sắt, và bà lấy ra một cái chìa khóa.
"Đây."
"Cái gì?"
"Chìa thứ hai." Bà nói. "Cái tủ đó có hai ổ. Một ổ tao giữ. Ổ kia tao mới cho thợ làm thêm, tháng trước."
Nhã Linh cầm cái chìa.
"Trong tủ có gì?"
"Giấy tờ nhà." Bà nói. "Sổ đỏ. Cái tờ 1998. Bản vẽ 1994. Và cái hộp đựng di chúc."
"Bà cho con chìa?"
"Tao cho mày chìa." Bà nói. "Mà này. Cái tủ đó, hai chìa phải mở cùng lúc. Một mình mày không mở được. Một mình tao cũng không mở được."
Bà ngồi xuống giường.
"Tao làm vậy vì tao không tin ai hết." Bà nói. "Kể cả mày."
"Dạ."
"Mà mày là người tao ít không tin nhất." Bà nói. "Đó là cái tốt nhất tao nói được."
Nhã Linh cầm cái chìa, và cô nhìn nó, và cô nghĩ: cái chìa này nhỏ hơn cái chìa cổng, và nó nặng hơn nhiều.
"Bà Sáu."
"Ừ."
"Cái điều 3 đó. Con vẫn không nhận."
"Ừ." Bà nói. "Mày cứ nói vậy đi. Cho tới ngày mày phải nhận."
---
Tám giờ, Cò ngồi ở hiên, và cô bé gọi:
"Chị."
"Ừ."
"Chị ngồi đây chút."
Nhã Linh ra, ngồi xuống bậc.
"Chuyện gì?"
"Em nghe hết rồi." Cò nói. "Cái di chúc. Em đứng ở ngoài, em nghe."
"Ừ."
"Bà giao cái xưởng cho chị."
"Bà giao cho người giữ sổ."
"Thì là chị." Cò nói, và cô bé nhìn chị. "Vậy là chị có tên trong cái nhà này."
Nhã Linh im.
"Chị." Cò nói, và giọng cô bé nhỏ lại. "Chị có tên trong cái nhà này rồi."
"Ừ."
"Vậy là mình hết bị đuổi hả chị?"
Nhã Linh quay lại nhìn em.
Cô nhớ cái ngày ở cái hẻm số bảy, cái góc ngăn bằng tấm các-tông, cái câu dì kế nói: "Nhà chật." Cô nhớ cái xe ôm chở Cò tới đây với cái thùng nhựa và cây đàn gãy dây.
"Không ai đuổi mình nữa." Cô nói.
Cò gật, và cô bé cúi xuống, và cô bé nói, giọng bình thường, và vì bình thường nên nó nặng:
"Em không cần cái nhà. Em cần cái chỗ mà người ta không nói 'đi đi'."
Nhã Linh đưa tay ra, và cô đặt lên vai em, và cô để đó.
Hai chị em ngồi ở bậc thềm, và ngoài kia cái quạt nước nhà bên chạy đều, và cái cổng còn vết sơn mờ.
"Chị."
"Ừ."
"Cái chữ trên cổng đó. Bà nói để lại một chút."
"Ừ."
"Em cạo rồi." Cò nói. "Em cạo sạch. Em không muốn ai đi ngang đọc nó."
Nhã Linh nhìn cái cổng.
"Vậy thì mình nhớ trong đầu." Cô nói.
---
Đêm, cô ngồi ở bàn, và cô mở sổ.
"Ngày 10/12.
- Lên phường với Dũng. Anh Hòa. Biên bản đã lập.
- Bà Sáu làm di chúc. 4 điều. 2 người làm chứng (bà Bảy, Bảy Tòng).
- Điều 3: giao xưởng cho người giữ sổ = tôi. Tôi đã phản đối. Bà không đổi.
- Bà cho tôi chìa thứ hai của tủ sắt. Tủ 2 ổ, phải mở cùng lúc.
→ Mai: ra phường chứng thực chữ ký.
→ Nguy cơ: bà Bảy kể. Mà bà Bảy kể thì chú Cường biết trong hai ngày."
Cô đóng sổ.
Rồi cô ngồi nhìn cái chìa khóa trên bàn.
Và cô nghĩ tới cái đêm đầu tiên, khi bà Sáu đưa cô cái chìa cổng bằng hai ngón tay, như đưa tiền lẻ cho người bán rau, và nói: "Nhà này mày ở được. Đừng có phá."
Bốn tháng.
Bây giờ bà đưa cô cái chìa thứ hai, và bà nói: "Mày là người tao ít không tin nhất."
Cô cầm cái chìa, và cô buộc nó vào cái dây thun đỏ, cạnh cái chìa cổng.
Rồi cô treo nó vào trong túi áo, và cô nằm xuống.
Và lần đầu tiên trong bốn tháng, cô nghĩ tới chuyện ở lại lâu hơn hai năm.
Cô không nghĩ tới con số. Cô nghĩ tới cái chìa.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tên
Chương 79: Phòng xử án số hai
Chương 78: Mười chín ngày
Chương 77: Cái tường
Chương 76: Bảy cái tên
Chương 75: Quyết định khởi tố
Chương 74: Người mua không biết người bán
Chương 73: Ba ngày
Chương 72: Cái hẻm chín mươi sáu
Chương 71: Đơn tố giác
Chương 70: Buổi hòa giải
Chương 69: Cái giường số bảy
Chương 68: Phụ lục số hai
Chương 67: Tờ giấy dán ở cửa
Chương 66: Ba mươi ba triệu chín
Chương 65: Tờ giấy của anh ta
Chương 64: Anh chỉ biết ký
Chương 63: Trong hồ sơ
Chương 62: Cái thư của quận
Chương 61: Ba mươi ngày
Chương 60: Bà Sáu nói một câu
Chương 59: Kết luận giám định
Chương 58: Ba ngày
Chương 57: Cái đơn của ông Lâm
Chương 56: Người ký thay
Chương 55: Lấy mẫu
Chương 54: Cái sổ an toàn
Chương 53: Quan hệ lao động thực tế
Chương 52: Chín cái dấu tay
Chương 51: Vòng hoa của công ty
Chương 50: Ba mươi triệu
Chương 49: Một giờ bốn mươi
Chương 48: Mười tấn cát
Chương 47: Cái bảng hiệu công trình
Chương 46: Sáu cái ghế
Chương 45: Bữa cơm có thêm một cái ghế
Chương 44: Cái cửa sổ thông gió
Chương 43: Cái khóa mới
Chương 42: Người đàn ông ở đội 3
Chương 41: Một phần bảy
Chương 40: Hành lang tầng ba
Chương 39: Tờ giấy trong ruột gối
Chương 38: Năm mươi triệu
Chương 37: Người không biết chữ
Chương 36: Bộ phận một cửa
Chương 35: Người giữ sổ
Chương 34: Ba trăm triệu
Chương 33: Hai mét đất của bà Chín
Chương 32: Ba chữ "vô hiệu"
Chương 31: Trang thứ ba
Chương 30: Ba cái khóa
Chương 29: Người thợ khóa
Chương 28: Tờ niêm yết
Chương 27: Giấy mời
Chương 26: Tờ di chúc
Chương 25: Mười một giờ rưỡi
Chương 24: Hai mét
Chương 23: Tổng đài 1800
Chương 22: Bàn tay phải
Chương 21: Ngày thứ ba
Chương 20: Cái phiếu giải ngân
Chương 19: Lá thư của công ty tài chính
Chương 18: Cái điện thoại nứt màn hình
Chương 17: Thư bảo đảm
Chương 16: Cái hộp bánh quy
Chương 15: Tờ phụ lục
Chương 14: Tờ giấy một trang
Chương 13: Mái tôn lúc một giờ sáng
Chương 12: Mâm giỗ
Chương 11: Phòng tầng ba
Chương 10: Phòng chờ có cái quạt trần
Chương 9: Tám người đứng ở sân
Chương 8: Năm tấm gỗ sến
Chương 7: Thước dây để quên
Chương 6: Một giờ bốn mươi phút sáng
Chương 5: Học phí ba triệu hai
Chương 4: Chợ vật liệu lúc năm giờ sáng
Chương 3: Quyển sổ bìa vải
Chương 2: Cái luật của cái nhà
Chương 1: Đêm tân hôn chồng chưa về