← Trang chủ Nông Phu Gia Tiều Kiều Thê

Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm

Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm

Tôi tỉnh dậy vì cái mùi.

Mùi rơm ẩm, mùi khói bếp, và mùi chuồng heo theo cái gió lùa qua vách đất. Ba cái mùi đó trộn lại thành một cái mùi mà tôi đã quên bốn mươi năm.

Tôi nằm im, và tôi không mở mắt.

Vì tôi biết cái trần nhà này. Tôi biết nó có mấy cái đòn tay, biết cái đòn thứ ba bị mối ăn một góc, biết trên cái đòn thứ hai có treo một bó ngô khô từ mùa trước, đã rụng mất ba cái bắp mà không ai buồn gỡ.

Tôi biết vì tôi đã nằm dưới cái trần đó tới năm mười tám tuổi.

Rồi tôi mở mắt.

Cái trần đúng như tôi nhớ.

Tôi ngồi dậy.

Cái chiếu cói dưới mông tôi rách một đường, chạy từ góc dưới lên tới giữa chiếu. Tôi đưa tay sờ. Đúng cái đường đó. Mùa hè năm tôi mười bốn, tôi ngủ mơ, đạp, và cái móng chân tôi rách chiếu. Má tôi nói: 「Con gái gì mà ngủ như đánh vật.」

Tôi đưa hai bàn tay ra trước mặt.

Bàn tay không có chai.

Bàn tay của một đứa con gái mười lăm tuổi, ngón ngắn, móng cắt sát, và ở giữa lòng bàn tay trái có một cái sẹo nhỏ bằng hạt đậu, màu trắng, đường sẹo cong như cái lưỡi liềm.

Tôi biết cái sẹo đó. Nó có từ năm tôi mười ba, đi gặt mướn cho nhà ông Hộ, cái liềm trượt, và má tôi lấy tro bếp đắp lên, nói: 「Đừng cho nước vô. Năm ngày là lành.」

Tôi ngồi trên cái chiếu rách, và tôi cười.

Cái cười đó không có tiếng, và nó làm cái cổ tôi đau.

---

Bốn mươi năm.

Tôi nhớ bốn mươi năm đó như người ta nhớ một cơn bệnh.

Tôi nhớ cái ngày tôi về nhà chồng, kiệu mượn, bốn người khiêng, qua cái cầu tre kêu cót két. Tôi nhớ cái sân gạch nhà họ Đỗ, cái giếng thành xây cao, và bà Cả ngồi ở cái sập, tay cầm quạt, nhìn tôi từ đầu tới chân rồi nói: 「Con này chân to. Làm được.」

Tôi nhớ ba năm sau, cha tôi chết. Người ta nói ông chết vì cái nợ. Ông không nói một câu nào với tôi trước khi chết, vì tôi ở nhà chồng, và nhà chồng tôi nói: 「Đang mùa gặt, về làm gì.」

Tôi nhớ má tôi chết sau đó một năm. Bà ho. Bà ho ba tháng, và tôi xin về, và bà Cả nói: 「Về thì về, mà cái công mấy ngày đó thì trừ vô cái lễ Tết.」

Tôi nhớ em tôi, Tiểu Bảo. Nó chết năm nó mười bốn, ở cái ngã ba sông, cái chỗ nước xoáy. Người ta vớt nó lên lúc chiều, và tôi tới lúc tối, vì lúc đó tôi đang ngồi giã cua cho nhà chồng.

Và tôi nhớ cái ngày tôi biết ra một chuyện.

Cái chuyện đó là: nhà tôi mất ba mẫu ruộng, không phải vì cha tôi nợ, mà vì ba mẫu ruộng đó đã được viết trong cái tờ hôn thư của tôi, ở dòng thứ tư, bằng cái chữ nhỏ, do chính tay tôi điểm chỉ năm tôi mười lăm tuổi, vì người ta đưa cho tôi một tờ giấy và nói 「điểm chỉ vô đây, giấy cho con về nhà chồng」.

Tôi biết cái chuyện đó năm tôi bốn mươi hai tuổi.

Tôi biết lúc tôi đang quỳ ở cái sân gạch đó, chùi cái chân bàn, và bà Cả đã chết, và Đỗ Liêm đã làm ông huyện, và cái tờ hôn thư nằm trong cái hộp gỗ của ông ta, và tôi mở ra vì tôi đi tìm cái khăn.

Rồi tôi sống thêm mười ba năm nữa.

Mười ba năm đó tôi sống như một con chó già trong cái nhà đó. Tôi biết nói cái gì thì được ăn, biết cúi đầu lúc nào.

Rồi tôi chết.

Tôi chết trong cái buồng sau, cái buồng để cái cối xay. Tôi nằm trên cái chõng tre, và trời mưa, và tôi nghe tiếng mưa trên mái ngói, và tôi nghĩ: 「Kiếp này ta sống uổng quá.」

Rồi tôi mở mắt, và tôi thấy bó ngô khô treo ở cái đòn tay thứ hai.

---

Ngoài bếp có tiếng cái nồi.

Tôi biết cái tiếng đó. Đó là cái nồi gang má tôi dùng nấu cám heo mỗi sáng, và nó nứt ở cái quai, cho nên mỗi lần bắc xuống phải nghiêng về phía đó, nếu không thì nước chảy ra ngoài.

Tôi nghe tiếng cái nồi được bắc xuống, và tiếng cái quai nó kêu 「kịch」 một cái.

Rồi tiếng má tôi.

「Dậy chưa con? Nước nóng đó.」

Tôi ngồi im.

Giọng đó. Cái giọng đó nó không ho.

Tôi nhớ cái giọng đó ho. Tôi nhớ nó ho tới mức cái ngực nó rung, và nó phải ngồi xuống cái ghế thấp, và nó lấy cái khăn che miệng, và cái khăn đó có máu.

Bây giờ nó không ho.

「Con.」

「Dạ.」

Cái tiếng 「dạ」 của tôi nó lạ. Nó trong, và nó cao, và nó không có cái rè của người già.

Tôi đứng dậy, và cái đầu tôi choáng một cái, và tôi phải vịn cái vách.

Cái vách đất. Cái vách trát bằng đất với rơm, và có một cái lỗ bằng nắm tay ở chỗ cái cột, và cái lỗ đó là do con heo năm ngoái nó ủi.

Tôi đi ra.

---

Cái bếp ở phía đông, và cái nắng buổi sớm nó chiếu vô qua cái cửa, và nó làm cái khói nó vàng lên.

Má tôi ngồi ở cái ghế thấp. Bà đang gắp cái bánh ra khỏi cái chõ.

Bà gầy. Bà gầy nhưng bà không gầy như cái lần cuối tôi thấy bà. Bà có cái má, và cái má đó còn hồng.

「Ngồi đi. Bánh mới.」

Tôi ngồi xuống cái ghế đối diện.

Bà đặt cái bánh lên cái mâm, và bà đẩy về phía tôi, và bà nhìn tôi.

「Sao con nhìn má vậy?」

「Dạ. Không.」

「Con ngủ không được hả?」

Tôi cầm cái bánh.

Nó nóng, và nó làm cái tay tôi đau, và cái đau đó nó thật.

「Dạ. Con ngủ được.」

Bà cười, và bà quay lại cái bếp.

「Đêm nay mà ngủ không được thì sáng mai cái mặt nó bơ phờ. Mà mai có người tới.」

Cái bánh trong tay tôi nguội đi một chút.

「Dạ. Mai ai tới?」

Bà quay lại.

「Con hỏi cái gì?」

「Dạ. Con hỏi mai ai tới.」

Má tôi nhìn tôi, cái nhìn của một người đang tự hỏi có phải con mình nó đang giỡn.

「Mai nhà họ Đỗ tới. Cô Sáu nói tuần trước rồi. Con quên hả?」

Tôi ngồi im, và tôi cắn một miếng bánh.

Bánh nếp, có đậu xanh ở giữa, và nó ngọt.

---

Mai.

Mai là cái ngày đó.

Tôi nhớ cái ngày đó hơn tôi nhớ cái ngày cưới. Vì cái ngày cưới thì tôi mệt, còn cái ngày đó thì tôi vui.

Sáng hôm đó tôi dậy sớm, giặt cái áo nâu, phơi nó, đứng chờ nó khô. Rồi tôi mặc nó, ngồi ở cái bàn giữa nhà, không dám ngẩng lên, nghe người ta nói chuyện trên đầu tôi.

Đỗ Liêm năm đó mười chín tuổi. Ông ta học ở trường huyện, mặc cái áo the, nói giọng nhỏ, và cười.

Ông ta không nhìn tôi. Ông ta chỉ nhìn cái mâm.

Mà tôi thì nghĩ đó là cái e thẹn của người có học.

Tôi nhớ cái tờ giấy.

Cái tờ giấy đỏ, có chữ, và người ta đưa nó cho cha tôi, và cha tôi đọc, và cha tôi nói: 「Chữ tốt.」 Rồi người ta đưa cho tôi, và người ta nói: 「Con điểm chỉ vô đây.」 Và tôi điểm chỉ.

Tôi điểm chỉ bằng cái ngón tay cái, và người ta cầm cái tay tôi, và người ta ấn nó xuống cái chỗ đó.

Cái chỗ đó ở dòng thứ tư.

Bốn mươi năm sau tôi mới biết dòng thứ tư đó nó ghi cái gì.

---

「Con ăn đi.」

「Dạ.」

Tôi ăn hết cái bánh.

Rồi tôi đứng dậy, và tôi đi ra cái sân.

Cái sân nhỏ. Nó không giống cái sân gạch nhà họ Đỗ. Nó là đất, giữa sân có cái lu nước mưa, bên cạnh cái lu có cây khế, và năm nay cây khế ra hoa tím, hoa rụng xuống cái lu.

Cha tôi ngồi ở cái chái bên kia, sửa cái ách trâu. Cái ách gỗ nứt ở chỗ buộc dây, và ông đang lấy dây gai quấn lại.

Tiểu Bảo đứng ở cái chuồng heo, cầm một cái roi tre, đuổi con heo ra khỏi cái chỗ ẩm.

「Chị!」

「Ừ.」

「Con heo nó lại nằm chỗ ướt nữa nè.」

「Thì mày đuổi nó ra.」

「Con đuổi hoài mà nó vô hoài.」

Tôi nhìn nó.

Nó mười tuổi. Nó gầy, và cái đầu nó to, và nó mặc cái quần đùi, và cái chân nó dính bùn tới đầu gối.

Bốn năm nữa nó chết ở cái ngã ba sông.

Tôi đi tới, và tôi ngồi xổm xuống, và tôi cầm cái tay nó.

「Tiểu Bảo.」

「Dạ.」

「Mày có biết bơi không?」

Nó nhìn tôi, và nó cười, và nó nói:

「Chị hỏi gì kỳ vậy. Con heo biết bơi không?」

「Tao hỏi mày.」

「Dạ. Không. Mà cả cái làng này có ai biết bơi đâu. Con nít tắm ở cái chỗ nước cạn mà.」

Tôi cầm cái tay nó chặt hơn.

「Từ mai, tao dạy mày.」

「Dạy cái gì?」

「Dạy bơi.」

Nó cười to.

「Chị biết bơi hả?」

Tôi không trả lời.

Tôi biết bơi, vì bốn mươi năm ở nhà họ Đỗ tôi phải lội xuống cái ao sau nhà vớt bèo cho heo, mỗi ngày, và cái ao đó sâu.

Mà tôi học bơi sau cái ngày nó chết.

---

Buổi trưa, cô Sáu tới.

Cô Sáu là bà mối của cái làng này. Cô đi cái dép nhựa, và trong cái túi vải của cô có một miếng trầu, một cái gương nhỏ, và một xấp giấy đỏ.

「Con Kiều Nguyệt đâu?」

「Dạ. Con đây.」

Cô ngồi xuống cái ghế đá, và cô mở cái túi.

「Mai bên đó tới lúc mười giờ. Cô dặn trước. Nhà phải quét, cái mâm phải lau, và con phải mặc cái áo nâu mới.」

「Dạ.」

Cô đưa tôi một tờ giấy đỏ.

「Cái này bên đó đưa trước. Con coi đi. Cái này gọi là tờ hôn thư, mà mình coi trước để mai khỏi lộn.」

Tôi cầm tờ giấy.

Nó đỏ, và nó có chữ, và cái chữ đó là chữ nho, và ở dưới có một dòng chữ nhỏ viết bằng cái kiểu chữ khác.

Tôi không đọc được.

Bốn mươi năm trước tôi không đọc được.

Bây giờ tôi cũng không đọc được, vì tôi chỉ mới trở về cái đêm hôm qua.

Mà bốn mươi năm ở nhà họ Đỗ, tôi học được một chuyện: tôi học được cách người ta viết con số.

Tôi đưa tờ giấy ra cái nắng, và tôi nhìn cái dòng chữ nhỏ ở dưới cùng.

Có những cái nét mà tôi biết.

Đó là cái nét của chữ 「ruộng」. Đó là cái nét của chữ 「mẫu」. Và đó là con số 「ba」.

Ba mẫu ruộng.

Tôi ngẩng lên.

「Cô Sáu.」

「Ừ.」

「Cái dòng cuối này nó ghi cái gì?」

Cô Sáu nhìn, và cô nheo mắt, và cô nói:

「Cô không biết chữ. Cô chỉ biết cái dấu. Mà cái dấu đó là dấu của bên đó.」

「Dạ. Mà cô có biết cái dòng đó nói về cái gì không?」

Cô Sáu im một lúc.

Rồi cô nói, nhỏ hơn:

「Cô nghe bà Cả nói. Bà nói cái đó là cái của hồi môn.」

「Dạ. Của hồi môn của ai?」

「Của con.」

Tôi ngồi xuống cái ghế đá, bên cạnh cô, và tôi cầm tờ giấy đỏ bằng hai tay.

Nó nhẹ. Nó nhẹ hơn một cái lá.

Mà bốn mươi năm trước nó đã cân được ba mẫu ruộng của cha tôi.

---

Chiều, tôi ra cái bụi tre sau nhà.

Có một cái hũ sành nằm dưới cái gốc tre thứ tư, đậy bằng một cái nắp gáo dừa.

Tôi đào nó lên. Trong đó có một cái hộp gỗ nhỏ, và trong cái hộp có một cái vòng bạc.

Cái vòng của má tôi. Cái vòng bà ngoại cho bà hồi bà về nhà chồng. Nó trơn, và nó mòn ở một bên, vì bà đeo nó hai mươi năm.

Bốn mươi năm trước, ba ngày sau cái đám hỏi, má tôi bán cái vòng đó cho người ở chợ, được một quan hai tiền, mua ba thang thuốc, uống hết, và bà vẫn ho.

Sau đó bà bán cái mâm đồng. Rồi bà bán cái chăn.

Rồi bà chết.

Tôi cầm cái vòng, và tôi bỏ nó vô cái túi áo.

Rồi tôi leo lên cái chái bếp, gỡ ba cái ngói ở hàng thứ hai, để cái hộp gỗ vô đó, và gắn ngói lại.

Bà sẽ không tìm được.

Mà không ai tìm được, vì không ai leo lên cái chái đó ngoài tôi.

---

Tối, tôi ngồi ở cái bàn.

Cái đèn dầu, và cái tim đèn nó khét, và cái lửa nó vàng.

Cha tôi ngồi đối diện, và ông đang têm trầu, và ông nói:

「Mai con ăn nói cho đàng hoàng.」

「Dạ.」

「Bên đó có học. Mình nghèo, mà mình phải có cái lễ.」

「Dạ.」

Má tôi ngồi ở cái chõng, và bà đang vá cái áo cho Tiểu Bảo.

Tôi nhìn hai người họ.

Cha tôi bốn mươi tám tuổi. Ông còn sống mười bảy năm nữa.

Má tôi bốn mươi tư. Bà còn sống hai năm nữa.

Mà hai năm đó, bà sẽ ho.

「Cha.」

「Ừ.」

「Cái ba mẫu ruộng ở cái gò sau đình. Nó là ruộng của mình hả cha?」

Cha tôi ngừng tay.

「Sao con hỏi?」

「Dạ. Con hỏi.」

「Ừ. Ruộng của mình. Ông nội con khai hoang. Có tên trong sổ đinh.」

「Dạ. Vậy sao trong cái tờ giấy bên đó đưa, có chữ 『ruộng ba mẫu』?」

Cái kim trong tay má tôi dừng lại.

Cha tôi đặt cái ống trầu xuống.

「Con đọc được hả?」

「Dạ. Không. Con coi cái nét. Con biết cái nét của chữ 『ruộng』.」

Cha tôi im rất lâu.

Rồi ông nói:

「Cái đó là cái của hồi môn. Người ta ghi vô cho nó đẹp cái tờ giấy.」

「Dạ. Mà của hồi môn thì nó đi theo con. Mà đi theo con thì nó thành của nhà họ Đỗ.」

「Thì nó cũng là của con.」

「Dạ. Của con, mà con đâu có quyền bán. Mà nếu con không có quyền bán, thì cái chữ 『của con』 nó khác cái chữ 『của mình』 ở chỗ nào?」

Cha tôi đứng dậy.

「Con nói cái gì khó hiểu quá.」

Ông đi ra sân.

Má tôi nhìn tôi, và bà nói nhỏ:

「Con. Đừng nói cái chuyện đó trước mặt cha.」

「Dạ. Sao má?」

「Vì cha con ổng thương cái mặt mình hơn cái ruộng.」Bà nói. 「Mà mai có người tới, thì cái mặt đó nó phải sáng.」

Tôi cầm cái kim trong tay bà, và tôi xâu cái chỉ lại cho bà, vì bà xâu hoài không vô.

「Má.」

「Ừ.」

「Má có tin con không?」

Bà nhìn tôi.

「Con hỏi cái gì lạ vậy?」

「Dạ. Má cứ nói có hay không.」

Bà im.

Rồi bà nói:

「Tin.」

「Dạ. Vậy mai má đừng nói gì hết. Má ngồi đó, má nghe, mà má đừng nói gì.」

---

Đêm, tôi nằm trên cái chiếu rách.

Cái bó ngô khô vẫn treo ở cái đòn tay thứ hai.

Tôi nhìn nó, và tôi nghĩ tới cái câu tôi sẽ nói ngày mai.

Nó ngắn. Nó có bốn chữ.

Mà bốn chữ đó sẽ làm cái làng này nói về tôi ba tháng.

Tôi nhắm mắt.

Ngoài kia, cái gió lùa qua vách đất, cái mùi chuồng heo vẫn vậy, và con heo kêu một tiếng trong giấc ngủ.

Tôi nghe cái tiếng đó, và tôi biết: tôi đang ở đây.

Rồi tôi ngủ.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay Chương 78: Cái nhà cái cổng mở Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò Chương 73: Cái đường gạch Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối Chương 68: Cái học trò của cái lò Chương 67: Cái vụ cái xuân Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông Chương 64: Cái trầu qua cái sông Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu Chương 62: Cái giếng của cái làng Chương 61: Cái sông dạy cái bơi Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai Chương 59: Cái nhà cái cổng kín Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia Chương 57: Cái nét đầu tiên Chương 56: Cái đá đi Chương 55: Cái tay đục Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện Chương 53: Cái tai của cái chợ Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân Chương 49: Cái bún tôm Chương 48: Cái mốc đá Chương 47: Cái ba cái tên Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới Chương 45: Cái ngày thứ tám Chương 44: Cái bờ cái rừng Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ Chương 34: Cái bàn tay có cái chai Chương 33: Cái hòn đá ong Chương 32: Cái mái đình Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả Chương 29: Cái khuôn ngói Chương 28: Cái người đi cái xe đạp Chương 27: Cái lò bầu Chương 26: Cái khuôn gỗ Chương 25: Ba mươi hai đồng Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng Chương 20: Cái bến đò Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải Chương 17: Cái dấu của cái tay trái Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay Chương 15: Cái thằng Mẫn Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng Chương 13: Cái phiên đắp bờ Chương 12: Cái đập bổi Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ Chương 5: Cái chợ phiên Chương 4: Cái mộ không bia Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm