← Trang chủ Nông Phu Gia Tiều Kiều Thê

Chương 4: Cái mộ không bia

Chương 4: Cái mộ không bia

Sáng hôm sau tôi dậy lúc con gà còn ngủ.

Tôi lấy cái nón mê, và tôi lấy cái dây gai, và tôi quấn cái dây vô cái cổ tay, và tôi đi ra cái cửa.

Cha tôi ngồi ở cái chõng, và ông chưa ngủ, và cái mắt ông nó đỏ.

「Mày đi đâu?」

「Dạ. Con lên cái gò.」

「Lên đó làm gì?」

「Dạ. Con coi cái ruộng.」

Cha tôi im.

Rồi ông nói:

「Đi thì đi. Mà đi cái đường sau, đừng đi ngang cái đình.」

「Dạ. Sao cha?」

「Vì cái đình là cái chỗ người ta nói. Mà bây giờ người ta nói về mày.」

Tôi gật đầu, và tôi đi.

Cái đường sau nó hẹp, và nó đi qua cái bờ mương, và hai bên là cái ruộng còn gốc rạ. Ở dưới cái bùn có cái cá rô nó thở, và cái bọt nó nổi lên rồi vỡ.

Trời chưa sáng hẳn. Cái sương nó nằm trên cái cỏ, và cái chân tôi ướt tới cái đầu gối.

Bốn mươi năm trước, cái đường này nó cũng vậy.

Tôi đi qua cái đám ruộng của bà Hợi, rồi cái đám của ông Đồ, rồi tới cái chân gò.

Cái gò nó không cao. Nó chỉ là cái đất nhô lên, và trên đó là cỏ tranh, và cái lá nó cứa.

Tôi đứng ở cái chân gò, và tôi nhìn.

Ba mẫu.

Cái mẫu thứ nhất nó ở cái phía đông, và nó phẳng, và cái đất nó đen, và người ta cấy được.

Cái mẫu thứ hai nó ở cái giữa, và nó hơi nghiêng, cho nên cái đất nó chua, và năm nào cũng phải bón tro.

Cái mẫu thứ ba nó ở cái đầu gò, và nó khô.

Tôi đi tới cái mẫu thứ ba, và tôi ngồi xuống, và tôi bốc một cái nắm đất.

Cái đất đó nó không phải đất. Nó là cái sỏi ong, và nó có cái màu vàng, và khi tôi bóp thì nó vỡ ra thành cái bụi.

Cha tôi nói đúng: cái mẫu này nó khô. Mà nó khô thì cấy không được, và cái thứ cấy được ở đây là cái khoai, cái sắn.

Mà bà Cả muốn cái mẫu này.

Tôi ngồi đó, và tôi nghĩ: bà Cả không phải là cái người điên. Bà muốn cái mẫu đất xấu nhất trong ba mẫu. Cho nên bà không tính tới cái chuyện làm ruộng.

Tôi đứng dậy.

Tôi lấy cái dây gai, và tôi thắt một cái nút ở cái đầu dây, và tôi bắt đầu đi.

Cái bước chân của tôi hồi mười lăm tuổi nó ngắn. Tôi đếm được tám mươi bốn cái bước từ cái bờ đông qua cái bờ tây. Bốn mươi năm sau tôi đếm lại, và được bảy mươi hai.

Cái thửa nó không đổi. Cái bước nó đổi.

Tôi thắt cái nút thứ tám mươi bốn, rồi tôi đi từ cái bờ nam lên cái bờ bắc, và tôi đếm được sáu mươi mốt cái bước.

Rồi tôi đi vô cái mẫu thứ ba, và tôi thấy cái mộ.

---

Cái mộ nó không có bia.

Nó là một cái đất nó thấp hơn cái mặt đất chung quanh, và trên đó có cỏ, và cái cỏ nó mọc thành một cái vòng, vì cái chỗ giữa nó rắn.

Ở cái đầu cái mộ có một cái hòn đá ong, to bằng cái đầu người. Cái gò này không có đá ong. Cho nên người ta đã khiêng nó từ đâu tới.

Và ở trước cái hòn đá có một cái chén.

Cái chén sành, men trắng, và nó mẻ một cái miệng, và trong cái chén có cái tro, và cái tro đó nó ướt.

Tôi ngồi xuống.

Cái tro ướt là cái tro mới, vì cái sương đêm nó làm cái tro ướt. Mà cái tro để ba cái ngày thì nó thành cái bùn.

Cái tro này nó chưa thành bùn. Nó mới.

Và ở cái chỗ cái chén, có ba cái chân nhang.

Ba cái. Một cái dài, hai cái ngắn, và cái dài nó cắm ở giữa, và nó cháy được một nửa.

Tôi ngồi đó, và tôi không dám chạm vô cái chén.

Bốn mươi năm trước, tôi đi qua cái gò này mấy lần, mà chưa bao giờ thấy cái mộ. Vì hồi đó tôi đi cái đường cái.

Mà cái năm tôi về nhà họ Đỗ được bốn năm, thì cái gò này nó không còn cái mộ nữa.

Tôi nhớ cái hôm đó. Trời tháng chạp, và bà Cả cho ba cái người vô cái gò, và họ đào từ cái sáng tới cái chiều.

Và bà Cả nói một câu, và câu đó bà nói ở cái sân, và tôi đứng ở cái bếp, và tôi nghe:

「Thì cũng là cái đất của mình. Mà đất của mình thì mình san.」

Bốn mươi năm sau, cái chỗ đó là cái sân phơi thóc. Mỗi cái mùa tôi phơi thóc ở đó, và tôi không biết cái chuyện tôi đang đứng trên cái gì.

Tôi ngồi trước cái mộ, và tôi nói nhỏ:

「Con không biết ông là ai. Con xin lỗi vì cái chuyện bốn mươi năm trước con không biết.」

Rồi tôi vái ba cái.

Cái gió nó thổi qua cái cỏ tranh, và cái tiếng đó nó giống cái tiếng người ta thở dài ở đằng xa.

---

「Con nhỏ kia.」

Tôi quay lại.

Ông Từ đứng ở cái bờ đông.

Ông Từ là cái ông giữ cái đình. Ông không có vợ, và ông ở cái chái sau cái đình, và ông quét cái sân đình mỗi cái sáng.

Ông già rồi. Cái lưng ông nó còng, và cái tay ông nó cầm cái chổi rơm, và ông đi chân đất.

「Dạ. Ông Từ.」

「Mày lên đây làm gì?」

「Dạ. Con coi cái ruộng.」

「Cái ruộng của ai?」

「Dạ. Của cha con.」

Ông Từ nhìn tôi một lúc, rồi ông nhìn cái chén, rồi ông nói:

「Mày coi cái ruộng, mà mày ngồi trước cái mộ.」

「Dạ.」

「Mày có đốt cái gì không?」

「Dạ. Không. Con chỉ vái.」

Ông Từ đi tới, và ông đặt cái chổi xuống, và ông ngồi xổm xuống cạnh cái hòn đá ong.

「Cái chén này mới.」

「Dạ. Con cũng thấy vậy.」

「Mày thấy cái gì nữa?」

「Dạ. Cái tro nó ướt, mà nó chưa thành bùn. Với ba cái chân nhang, cái dài nó cháy được một nửa.」

Ông Từ gật đầu.

「Mày con nhà Lư, mà mày coi cái chén kỹ hơn cái người trong họ Đỗ.」

「Dạ. Ông nói cái gì?」

「Tao nói cái chuyện tao nói. Mày đừng có hỏi lại.」

Ông đứng dậy, và ông cầm cái chổi, và ông nói:

「Cái mộ này nó không có bia, vì cái người nằm ở đây không được có bia.」

「Dạ. Sao vậy ông?」

「Vì người ta chôn nó không phải bằng cái lễ của cái làng này. Người ta chôn nó bằng cái tay của hai cái người, và cái đêm.」

Tôi ngồi im.

「Ông Từ. Cái người đó là ai?」

「Tao không biết.」

「Dạ. Ông nói ông không biết, mà ông biết cái chuyện người ta chôn nó bằng cái tay của hai cái người.」

Ông Từ nhìn tôi.

Và cái nhìn đó nó không phải cái nhìn của người già nhìn con nít. Nó là cái nhìn của người đang cân cái chuyện nên nói hay không.

「Con. Mày có biết cái chuyện cái làng này nó sợ cái gì không?」

「Dạ. Không.」

「Nó sợ cái chuyện nó đã làm. Mà cái chuyện nó đã làm thì nó không nhớ. Nó chỉ nhớ cái mùi.」

Rồi ông đi.

Ông đi được ba bước thì ông dừng lại, và ông nói, mà ông không quay lại:

「Cái người cúng cái chén này, nó cúng cái giờ nó nghĩ không ai thấy. Mà mày đừng có đứng ở đây cái giờ đó.」

「Dạ. Cái giờ đó là cái giờ nào?」

「Cái giờ con nít nó còn ngủ.」

---

Tôi ngồi thêm một lúc.

Rồi tôi đứng dậy, và tôi làm một cái chuyện tôi biết nó dại: tôi lấy cái dây gai, và tôi đo từ cái hòn đá ong tới cái bờ đông.

Mười một cái bước.

Rồi tôi đo từ cái hòn đá tới cái bờ bắc, và tôi thắt cái nút thứ bảy.

Rồi tôi đi vòng cái mộ một cái, và tôi đếm cái vòng đó được hai mươi hai cái bước.

Tôi không có giấy. Mà có giấy thì tôi cũng không viết được.

Cho nên tôi thắt nút. Mỗi cái nút là một cái số, và tôi giữ cái dây trong cái túi áo. Ở nhà họ Đỗ tôi học được một cái chuyện: cái gì trong cái đầu thì người ta lấy được, cái gì trên cái dây thì không.

Trước khi đi, tôi nhìn cái mẫu đất khô một lần nữa.

Cái bờ đông của cái mẫu thứ ba nó mới: cái cỏ trên đó nó non, và cái đất ở chân bờ nó chưa rêu. Mà nó đắp về phía đất nhà bà Cả.

---

Cái nắng lên tới cái đầu gò thì tôi tới cái đình.

Tôi không định đi ngang cái đình. Mà cái đường sau nó vòng, và nó ra ngay cái sân đình, và tôi không có cái đường nào khác.

Cái sân đình nó có cái cây đa, và cái rễ nó trồi lên, và cái bóng nó mát.

Và ở cái cột thứ hai, có cái cân móc.

Tôi đứng lại.

Cái cân móc treo ở cái đinh, và cái móc nó gỉ, và ở cái đầu nhỏ của cái đòn có một cái miếng.

Tôi đi tới, và tôi nhìn cái miếng đó.

Nó là chì. Mà không phải chì đúc. Nó là chì hàn, và người ta đã lấy cái dũa mà dũa cho nó phẳng.

Bà Hợi nói đúng.

Tôi không chạm vô cái cân. Tôi chỉ nhìn, và tôi nhớ cái hình của nó: một cái miếng chì bằng cái móng tay cái, ở cái đầu nhỏ của cái đòn.

Mà cái đầu nhỏ là cái đầu có cái quả cân.

Cái quả cân nó nhẹ hơn thì cái cân nó đọc nặng hơn.

Tôi đứng đó, và cái tính trong cái đầu nó làm cái lưng tôi lạnh.

Cái cân này nó đọc nặng hơn cái cân thật. Mà nó đọc nặng hơn thì cái người đem thóc tới đong thuế nó phải đong thêm.

Mà cái người cầm cái cân là cái người thu thuế.

「Con nhỏ kia.」

Tôi quay lại.

Ông Từ đứng ở cái cửa đình, và ông không cầm cái chổi nữa. Ông cầm một cái ấm nước.

「Mày còn đứng đó làm gì?」

「Dạ. Con coi cái cân.」

「Cái cân thì có cái gì mà coi?」

「Dạ. Con coi cái miếng chì.」

Ông Từ đặt cái ấm xuống cái bậc.

「Mày.」

Ông nói một cái chữ đó, rồi ông im, và ông nhìn tôi, và cái mặt ông nó không đổi.

「Mày vô đây. Tao cho mày cái nước.」

Tôi vô cái đình.

Cái đình nó tối, và nó mát, và cái mùi của nó là cái mùi gỗ cũ với cái mùi nhang.

Ông Từ rót cái nước ra cái chén, và ông đẩy cái chén về phía tôi.

「Uống đi. Mà nghe tao nói một câu.」

「Dạ.」

「Cái cân đó không phải của cái đình này. Nó là cái cân của cái ông lý trưởng trước. Ông đó chết rồi, cho nên cái cân nó ở lại đây.」

「Dạ.」

「Mày hiểu cái chuyện tao nói không?」

「Dạ. Con hiểu cái cân nó không phải của cái đình, mà cái đình thì phải chịu cái tiếng của nó.」

Ông Từ nhìn tôi, và lần này thì ông cười.

「Con nhỏ này. Mày mười lăm tuổi mà mày nói cái câu đó.」

「Dạ. Con nghe người ta nói.」

「Ai nói?」

Tôi không trả lời.

「Thôi. Mày về đi. Mà cái chén ở cái mộ, mày đừng có đụng vô.」

「Dạ. Sao ông?」

「Vì cái người cúng nó biết cái chén nó để ở đâu. Nó mà thấy cái chén xê dịch thì nó không tới nữa. Mà nó không tới nữa thì cái chuyện này không có người mở ra.」

Tôi đứng dậy, và tôi khoanh tay, và tôi nói:

「Dạ. Ông Từ. Con xin hỏi ông một câu. Mà ông không muốn trả lời thì ông đừng trả lời.」

「Nói.」

「Dạ. Cái người cúng cái mộ đó, nó có phải là cái người trong họ Đỗ không?」

Ông Từ cầm cái ấm lên, và ông rót cái nước vô cái chén của ông, và cái nước nó tràn ra cái mâm.

「Về đi con.」

---

Tôi về.

Cái nắng nó lên tới cái mái nhà thì tôi tới cái cổng.

Và ở cái cổng có cái người.

Đỗ Liêm.

Nó đứng đó, và nó mặc cái áo the, và nó cầm cái nón, và cái nón đó nó không đội, và nó cầm bằng hai tay.

「Cô Kiều Nguyệt.」

「Dạ.」

「Tôi đợi cô từ cái sáng.」

「Dạ. Anh đợi con làm gì?」

Nó nhìn cái chân tôi, và cái ống quần tôi ướt, và cái cỏ tranh nó dính ở cái ống quần.

「Cô lên cái gò.」

「Dạ.」

「Cô thấy cái gì?」

Tôi nhìn nó.

Và tôi nhớ cái chuyện kiếp trước: cái người này, bốn mươi năm, không nói với tôi một câu nào ra hồn người.

Mà bây giờ nó đứng ở cái cổng nhà tôi, và nó cầm cái nón bằng hai tay, và cái tay nó run.

「Dạ. Con thấy cái mộ.」

「Cô có nói với ai không?」

「Dạ. Con nói với ông Từ.」

Cái mặt nó biến.

「Cô nói cái gì với ông Từ?」

「Dạ. Con nói con coi cái cân ở cái đình.」

「Cái cân?」

「Dạ.」

Nó im, và cái vai nó nó hạ xuống, và tôi thấy nó thở ra.

「Cô không nói cái mộ?」

「Dạ. Con chưa nói.」

「Vậy cô đừng nói.」

「Dạ. Sao con phải đừng nói?」

Nó nhìn tôi, và cái mắt nó có cái gì đó nó giống cái mắt con chó bị đánh.

「Vì cái mộ đó là cái mộ của mẹ tôi.」

Cái sân im.

Cái gió nó thổi cái lá khế xuống cái lu, và cái lá nó nổi, và nó xoay một cái, và nó chìm.

「Dạ.」

「Mẹ tôi chết cái năm tôi được ba tuổi. Mà bà Cả không phải là mẹ tôi. Bà Cả là cái người tôi gọi bằng má từ cái năm đó.」

Tôi đứng im.

「Cô đừng nói với ai cái chuyện cái mộ. Vì sang năm, bà Cả muốn dời cái mộ đó xuống cái đất của nhà tôi. Mà dời mộ thì phải có cái người trong họ ký. Mà tôi là cái người đó.」

「Dạ. Anh không muốn dời?」

Nó không trả lời.

Nó cầm cái nón, và nó xoay cái nón một cái, và nó nói:

「Cô hỏi cái câu đó với cái giọng của cái người không sợ ai.」

「Dạ. Con không sợ anh.」

「Tôi biết. Mà cô nên sợ bà Cả.」

Rồi nó đi.

Nó đi được mấy bước thì nó quay lại, và nó nói, và cái giọng nó nhỏ:

「Cô Kiều Nguyệt. Cái chuyện cô nói trước cái mâm hôm qua. Cô nói đúng. Mà cô nói đúng thì cô chết.」

「Dạ. Con biết.」

「Cô biết mà cô vẫn nói?」

「Dạ. Con nói rồi.」

Nó nhìn tôi một lúc lâu.

Rồi nó đi, và cái dáng nó đi nó không giống cái dáng của cái người học ở trường huyện. Nó đi như cái người gánh cái gì nặng.

Tôi đứng ở cái cổng, và tôi nhìn cái nón nó khuất sau cái lũy tre.

Và tôi nghĩ: cái chuyện này nó không phải là cái chuyện của hai mươi đồng.

Cái chuyện này nó là cái chuyện của một cái mộ, và của một cái người con trai không dám nhận mẹ mình.

Tôi vô nhà, và tôi treo cái nón lên cái đinh, và tôi lấy cái dây gai trong cái túi áo ra.

Cái dây có ba cái nút: tám mươi bốn, sáu mươi mốt, và mười một.

Mà bây giờ tôi cần thêm một cái nút nữa. Cái nút của cái chuyện tôi vừa nghe.

Tôi thắt nó ở cái đầu dây, và tôi không đếm, vì cái nút đó không phải là cái số.

Nó là cái tên.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay Chương 78: Cái nhà cái cổng mở Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò Chương 73: Cái đường gạch Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối Chương 68: Cái học trò của cái lò Chương 67: Cái vụ cái xuân Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông Chương 64: Cái trầu qua cái sông Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu Chương 62: Cái giếng của cái làng Chương 61: Cái sông dạy cái bơi Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai Chương 59: Cái nhà cái cổng kín Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia Chương 57: Cái nét đầu tiên Chương 56: Cái đá đi Chương 55: Cái tay đục Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện Chương 53: Cái tai của cái chợ Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân Chương 49: Cái bún tôm Chương 48: Cái mốc đá Chương 47: Cái ba cái tên Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới Chương 45: Cái ngày thứ tám Chương 44: Cái bờ cái rừng Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ Chương 34: Cái bàn tay có cái chai Chương 33: Cái hòn đá ong Chương 32: Cái mái đình Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả Chương 29: Cái khuôn ngói Chương 28: Cái người đi cái xe đạp Chương 27: Cái lò bầu Chương 26: Cái khuôn gỗ Chương 25: Ba mươi hai đồng Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng Chương 20: Cái bến đò Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải Chương 17: Cái dấu của cái tay trái Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay Chương 15: Cái thằng Mẫn Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng Chương 13: Cái phiên đắp bờ Chương 12: Cái đập bổi Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ Chương 5: Cái chợ phiên Chương 4: Cái mộ không bia Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm