Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Sáng hôm sau cái làng nói.
Tôi biết vì cái làng nói to. Tôi đứng ở cái sân, và tôi nghe cái tiếng ở cái ngõ, và cái tiếng đó nó không giống cái tiếng chợ. Nó nhỏ hơn, và nó có cái nhịp, như cái người ta đập cái gì vô cái cột.
Bà Hợi sang lúc cái nắng mới lên.
「Con. Cả cái làng biết rồi.」
「Dạ. Con biết.」
「Mà nó biết hai cái chuyện. Một là cái chuyện cái mộ. Hai là cái chuyện cái con nhỏ nhà Lư nó đánh cái trống.」
Bà đặt cái rổ xuống cái bàn, và bà ngồi xuống, và bà thở ra.
「Cái chuyện thứ nhất thì cái làng nó thương. Mà cái chuyện thứ hai thì nó không thương.」
「Dạ. Sao bà?」
「Vì cái trống đình là cái trống của cái làng. Mày đánh nó là mày kêu cái làng dậy. Mà cái làng nó dậy thì nó phải có cái chuyện. Mà cái chuyện đó nó có thật, cho nên nó không giận mày. Mà nó vẫn phải phạt mày, vì cái lệ nó vậy.」
「Dạ. Con biết. Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt.」
「Ừ. Mà cái gà thì mày lấy cái gà của tao.」
「Dạ. Con không có gà.」
「Tao biết. Cho nên tao nói mày lấy cái gà của tao. Con gà mái xám, cái con mà nó hay vô cái chuồng heo nhà mày.」
Tôi nhìn bà.
「Dạ. Bà cho con mượn?」
「Tao cho. Mà mày trả tao cái khác.」
「Dạ. Con trả cái gì?」
「Mày trả cái chuyện mày kể cho tao nghe. Cái chuyện cái mộ đó. Từ cái đầu.」
Tôi kể.
Tôi kể từ cái hòn đá ong, và cái chén, và cái tro ướt, và cái câu của ông Từ. Tôi kể tới cái đêm cái đèn bão, và cái xẻng, và cái tiểu sành.
Bà Hợi ngồi im nghe, và cái tay bà nó cầm cái vạt áo, và bà không nói một cái chữ nào.
Khi tôi kể xong thì bà nói:
「Con. Tao ở cái làng này bốn mươi năm. Mà tao không biết cái chuyện đó.」
「Dạ.」
「Vì cái làng này nó không nói cái chuyện đó. Mà nó không nói thì cái người như tao nó không biết.」
Bà đứng dậy.
「Thôi. Mày bắt cái gà đi. Mà cái chai rượu thì tao có một cái, tao để dành cho cái giỗ. Mày lấy.」
「Dạ. Con không lấy cái rượu của bà. Con đi mua.」
「Mày lấy đâu ra tiền?」
「Dạ. Con còn tám hào.」
「Một cái chai rượu là một đồng hai.」
Tôi im.
Bà Hợi cười, và cái cười đó nó không vui, mà nó cũng không phải cái cười chế.
「Con. Cái làng này nó phạt mày một cái gà với một cái chai rượu. Mà nó không phạt mày cái chuyện mày nghèo. Cho nên mày lấy cái rượu của tao, và mày trả tao cái sau.」
---
Cái giếng làng ở cái đầu cái ngõ, và cái giếng đó có cái thành xây bằng cái đá ong, và cái nước nó trong, và cái gàu nó buộc bằng cái dây thừng.
Tôi ra cái giếng lúc cái nắng nó lên tới cái lũy tre, và ở cái giếng có bốn cái người.
Họ im khi họ thấy tôi.
Rồi một cái bà nói, và bà đó nói đủ to cho tôi nghe:
「Cái con đó. Nó đánh cái trống.」
「Ừ. Mà nó đánh vì cái mộ.」
「Cái mộ thì cái mộ. Mà cái đứa con gái mà nó đứng ở cái đình lúc nửa đêm thì nó là cái đứa gì?」
Tôi kéo cái gàu lên, và tôi đổ cái nước vô cái thùng, và tôi không nói.
「Con.」
Một cái bà khác nói, và bà đó già hơn, và cái răng bà nó đen vì trầu:
「Con. Cái chuyện đó là cái chuyện của đàn ông. Con không dây vô thì hơn.」
「Dạ. Thưa bà. Cái mộ đó nằm ở cái đất của cha con.」
「Thì cái đất của cha con. Mà cái đất đó thì cái làng nó biết. Mà cái làng mà biết thì cái làng nó nói. Con chen vô thì con mang cái tiếng.」
Tôi đặt cái thùng xuống.
「Dạ. Con đã mang cái tiếng rồi.」
Cái bà đó nhìn tôi, và bà cười, và cái cười đó nó có cái gì đó nó không phải cái cười.
「Ừ. Mày mang rồi. Cho nên mày phải mang cho tới cái cùng.」
Bốn cái người đó đi, và cái thùng nước của họ nó sóng sánh.
Tôi đứng ở cái giếng một lúc, và tôi nhìn cái nước.
Bốn mươi năm trước, cái giếng này nó cũng vậy. Mà bốn mươi năm trước, cái người đứng ở cái giếng này là cái con dâu nhà họ Đỗ, và cô đó cúi cái đầu, và cô đó không nói một cái chữ.
Và cái làng này nó thương cái người đó. Nó thương vì cái người đó không nói.
Bây giờ tôi nói, và cái làng này nó không thương.
Tôi xách cái thùng lên, và tôi đi, và cái nước nó sóng sánh trên cái chân tôi.
---
Thằng Tám đợi tôi ở cái đầu ngõ.
Nó đứng giữa cái đường, và hai cái tay nó bỏ trong cái túi quần, và cái cổ nó dài, và nó nhai cái gì đó.
「Con nhỏ kia.」
Tôi dừng lại.
「Dạ.」
「Mày giỏi hen.」
「Dạ. Con không giỏi.」
「Mày đánh cái trống. Mày làm cái làng nó ra. Mày làm bà tao mất cái mặt trước cái làng.」
「Dạ. Con xin lỗi.」
Nó bước tới một bước.
「Mày xin lỗi tao?」
「Dạ. Con xin lỗi cái làng. Con không xin lỗi cái người đào cái mộ.」
Cái mặt nó đổi.
Nó chụp cái tay tôi, và nó giật cái gà trong cái tay kia của tôi, và cái gà nó kêu một cái, và cái lông nó bay.
「Cái gà này của ai?」
「Dạ. Của bà Hợi.」
「Của bà Hợi thì tao trả bà Hợi. Mà cái gà này tao lấy, vì mày nợ bà tao hai mươi đồng.」
「Dạ. Anh trả lại con.」
Nó cười, và nó cầm cái gà bằng hai cái chân, và nó xoay cái gà một cái như cái người ta xoay cái nón.
「Mày vô nhà đi. Mà mày nói với cái ông già nhà mày là cái chuyện này nó không xong bằng cái trống đâu.」
Rồi có cái tiếng.
Cái tiếng của cái cuốc nó chạm cái đá.
Cha tôi đứng ở cái cổng, và cái cuốc trong cái tay ông, và cái mũi cái cuốc nó cắm xuống cái đất, và ông không bước tới.
「Thằng Tám.」
「Dạ. Ông Lư.」
「Cái gà đó mày bỏ xuống.」
「Dạ. Con cầm cái gà này vì...」
「Tao nói mày bỏ cái gà xuống. Tao không nói cái lý. Tao nói cái tay mày.」
Cái làng im, và ở cái giếng có cái người nó ngừng kéo cái gàu.
Thằng Tám bỏ cái gà xuống.
Nó bỏ xuống cái đất, và cái gà nó chạy, và nó chạy vô cái bụi tre.
「Dạ. Ông Lư. Con bỏ rồi.」
「Ừ. Mà mày về mày nói với cái bà đó một câu: cái ngày mồng mười, tao tới cái đình. Mà tao không tới cái đình bằng cái tay không.」
Thằng Tám đi, và nó đi ngang qua tôi, và nó nói nhỏ:
「Mồng mười. Mà cái đình đó không cho đàn bà vô. Mày biết chưa?」
Nó đi.
---
Buổi chiều, cô Sáu tới.
Cô đi cái dép nhựa, và cô cầm cái túi vải, và cô đứng ở cái cổng, và cô không vô sân.
「Con. Cô nói cái này rồi cô về.」
「Dạ. Cô vô nhà.」
「Cô không vô. Cô đứng đây.」
Tôi ra cái cổng.
Cô Sáu nhìn cái mặt tôi, rồi cô nhìn cái tay tôi, và cô nói:
「Con. Cái đình đó không cho đàn bà vô. Con biết chưa?」
「Dạ. Con mới biết cái chiều nay.」
「Cái lệ đó nó cũ. Mà nó còn. Mà cái ngày mồng mười, cái đình mở cái sổ, thì cái người vô cái đình là cái lý trưởng, cái ông Hương bộ, cái mấy cái ông hương lão, và cái người có cái chuyện.」
「Dạ. Mà đàn bà thì đứng ở đâu?」
「Đứng ở cái sân. Sau cái bậc đá thứ hai. Mà cái người đứng ở cái sân thì không được nói, trừ cái lúc cái lý trưởng hỏi cái tên.」
Tôi ngồi xuống cái bậc.
「Dạ. Vậy cái lúc cái lý trưởng hỏi cái tên, thì con nói cái gì?」
「Con nói cái tên con. Rồi con im.」
「Dạ. Mà cái chuyện cái mộ thì ai nói?」
Cô Sáu im.
「Con. Cô nói cái này con đừng giận. Cái làng này nó không nghe cái con gái mười lăm tuổi. Nó nghe cái người có cái râu, hoặc cái người có cái chữ.」
「Dạ. Vậy con phải có cái người có cái chữ.」
「Con có.」
「Dạ. Ai?」
「Ông Hương bộ. Ông đó có cái sổ, và ông đó đã viết cái giấy cái đêm ở cái gò. Mà cái giấy đó thì nó là cái bằng.」
Tôi nhìn cô.
「Dạ. Cô Sáu. Cô nói cái câu đó với con, mà cô có biết cái câu đó nó làm cô mất cái gì không?」
Cô Sáu cười, và cái cười đó nó mệt.
「Cô biết. Mà cô cũng biết cái chuyện cô đưa cái tờ hôn thư cho con coi cái hôm trước. Mà cô không biết cái dòng thứ tư. Con tin cô không?」
「Dạ. Con tin.」
「Ừ. Cho nên cô nói cho con một cái chuyện nữa: cái chiều nay, bà Cả đi cái chợ trên.」
Tôi ngẩng lên.
「Dạ. Đi làm gì?」
「Đi cái nhà cái bà Phán. Mà bà đó về lúc cái chiều tối, và cái mặt bà đó nó vui.」
「Dạ. Vui?」
「Vui. Mà cái người đi cái chuyện đó mà về cái mặt vui thì cái chuyện đó nó xong rồi.」
Tôi ngồi im, và cái bụng tôi nó lạnh.
Bà Cả đi trước. Bà đi cái đường cái, và bà đi bằng cái dép da, và bà nói cái câu của bà trước khi tôi nói cái câu của tôi.
「Cô Sáu.」
「Ừ.」
「Dạ. Cô dắt con lên cái chợ trên được không?」
Cô Sáu nhìn tôi rất lâu.
「Con. Cái chợ trên nó không phải cái chợ này. Ở đó người ta mặc cái áo, và người ta nói cái giọng khác, và cái con nhỏ đi chân đất thì người ta không nghe.」
「Dạ. Con biết. Mà con có cái này.」
Tôi lấy cái biên nhận trong cái túi áo ra, và tôi đưa nó cho cô.
Cô Sáu mở nó ra, và cô nhìn, và cái mắt cô nó hẹp lại.
「Cái này là cái giấy ông Hương bộ viết cái hôm đám hỏi.」
「Dạ.」
「Mà cái dấu này là cái dấu của bà Cả.」
「Dạ.」
Cô Sáu gấp cái giấy lại, và cô đưa nó cho tôi, và cái tay cô nó run.
「Con. Cái giấy này mà đưa cho cái bà Phán coi thì cái chuyện nó khác. Mà cô không dắt con lên đó được, vì cô là cái bà mối của cái làng này, và cô mà dắt con lên đó thì cô mất cái nghề.」
「Dạ. Con hiểu.」
「Mà cô có cái này.」
Cô mở cái túi vải, và cô lấy ra một cái khăn.
「Cái khăn này là cái khăn cô mua ở cái chợ trên, cái tháng trước. Mà cái người bán cái khăn đó là cái con gái của cái bà Phán.」
「Dạ. Con gái?」
「Ừ. Nó bán cái hàng vải, ở cái đầu chợ trên. Mà nó là cái con gái út, và nó là cái đứa mà bà Phán thương nhất, vì nó giống bà đó.」
Tôi cầm cái khăn.
Nó trắng, và ở cái góc nó có cái thêu, và cái thêu đó nó là một cái bông.
「Dạ. Cô cho con cái khăn này?」
「Cô cho. Mà con đừng nói là của cô. Con nói con mua.」
「Dạ.」
Cô Sáu cầm cái túi lên, và cô đi được hai bước thì cô nói:
「Con. Cái con gái đó nó tên là cái Hạnh. Mà nó hay đứng ở cái hàng vải lúc cái giờ con nít đi học về. Mà cái giờ đó thì cái chợ nó vắng, vì cái người lớn còn ở ngoài đồng.」
---
Tối, tôi ngồi ở cái bàn, và tôi mở cái khăn ra, và tôi nhìn cái bông thêu.
Một cái bông. Năm cái cánh. Và ở giữa có một cái chấm.
Nó đơn giản, và nó thêu bằng cái chỉ xanh, và có một cái chỗ nó thêu sai, và cái kim nó đi ra ngoài cái đường.
Cái người thêu cái khăn này là cái đứa con gái. Nó thêu sai một cái chỗ, và nó không gỡ ra, và nó để đó.
Tôi nhìn cái chỗ đó rất lâu.
Rồi tôi gấp cái khăn lại, và tôi bỏ nó vô cái túi áo, và tôi nói nhỏ:
「Cái Hạnh. Cái chợ trên. Cái giờ con nít đi học về.」
Tôi thắt thêm một cái nút trên cái dây gai.
Cái nút đó không phải là cái số. Nó là cái tên thứ hai.
---
Đêm, tôi nằm trên cái chiếu rách, và tôi nghe má tôi ho ở trong cái buồng.
Cái ho đó nó dài hơn cái ho hôm trước. Nó có bốn cái tiếng, và cái tiếng thứ tư nó tắc.
Tôi nằm im, và tôi đếm cái ngày.
Cái đám hỏi là cái ngày mồng sáu. Mà cái đình mở cái sổ là cái ngày mồng mười.
Bốn cái ngày.
Trong bốn cái ngày đó, tôi phải làm ba cái chuyện: trả cái phạt ở cái sân đình, nói cái chuyện cái mộ trước cái làng, và làm cho cái bà Phán biết cái chuyện cái lò gạch.
Mà cái chuyện thứ ba thì tôi không có cái giọng. Cho nên tôi phải có cái người có cái giọng.
Tôi nghĩ tới cái cô Hạnh, và cái bông thêu sai, và cái chợ trên.
Rồi tôi nghĩ tới một cái chuyện khác, và cái chuyện đó nó làm tôi ngồi dậy trong cái tối.
Bà Cả đi cái chợ trên cái chiều nay. Mà bà đi bằng cái dép da.
Nếu bà đi cái chuyện cái lò gạch, thì bà đi để nói cái chuyện cái đất.
Mà muốn nói cái chuyện cái đất, thì bà phải nói cái chuyện cái mộ. Mà bà nói cái chuyện cái mộ thì bà nói cái gì?
Bà nói cái mộ đó là cái mộ vô chủ, và bà đã dời nó, và cái đất bây giờ nó sạch.
Mà cái chuyện đó thì nó chỉ đúng nếu cái làng này không biết. Mà cái làng này biết rồi.
Cho nên cái mặt bà vui là cái mặt của cái người đã nói dối xong.
Mà cái lời nói dối đó thì nó sẽ vỡ cái ngày mồng mười.
Tôi nằm xuống lại.
Và tôi nghĩ: cái ngày mồng mười, tôi không được vô cái đình. Mà tôi không cần vô cái đình. Tôi chỉ cần cái làng nghe cái câu của ông Hương bộ, và cái làng thấy cái mặt bà Cả khi bà nói cái câu đó.
Cái đình nó có cái sân. Mà cái sân thì ai cũng đứng được.
Tôi nhắm mắt.
Ngoài kia, cái gió nó lùa qua cái vách đất, và cái mùi chuồng heo nó vẫn vậy, và ở cái chuồng bên kia có cái con gà mái xám của bà Hợi nó vô nằm, và nó kêu một cái.
Tôi nghe cái tiếng đó, và tôi biết: cái gà đã về.
Sáng hôm sau cái làng nói.
Tôi biết vì cái làng nói to. Tôi đứng ở cái sân, và tôi nghe cái tiếng ở cái ngõ, và cái tiếng đó nó không giống cái tiếng chợ. Nó nhỏ hơn, và nó có cái nhịp, như cái người ta đập cái gì vô cái cột.
Bà Hợi sang lúc cái nắng mới lên.
「Con. Cả cái làng biết rồi.」
「Dạ. Con biết.」
「Mà nó biết hai cái chuyện. Một là cái chuyện cái mộ. Hai là cái chuyện cái con nhỏ nhà Lư nó đánh cái trống.」
Bà đặt cái rổ xuống cái bàn, và bà ngồi xuống, và bà thở ra.
「Cái chuyện thứ nhất thì cái làng nó thương. Mà cái chuyện thứ hai thì nó không thương.」
「Dạ. Sao bà?」
「Vì cái trống đình là cái trống của cái làng. Mày đánh nó là mày kêu cái làng dậy. Mà cái làng nó dậy thì nó phải có cái chuyện. Mà cái chuyện đó nó có thật, cho nên nó không giận mày. Mà nó vẫn phải phạt mày, vì cái lệ nó vậy.」
「Dạ. Con biết. Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt.」
「Ừ. Mà cái gà thì mày lấy cái gà của tao.」
「Dạ. Con không có gà.」
「Tao biết. Cho nên tao nói mày lấy cái gà của tao. Con gà mái xám, cái con mà nó hay vô cái chuồng heo nhà mày.」
Tôi nhìn bà.
「Dạ. Bà cho con mượn?」
「Tao cho. Mà mày trả tao cái khác.」
「Dạ. Con trả cái gì?」
「Mày trả cái chuyện mày kể cho tao nghe. Cái chuyện cái mộ đó. Từ cái đầu.」
Tôi kể.
Tôi kể từ cái hòn đá ong, và cái chén, và cái tro ướt, và cái câu của ông Từ. Tôi kể tới cái đêm cái đèn bão, và cái xẻng, và cái tiểu sành.
Bà Hợi ngồi im nghe, và cái tay bà nó cầm cái vạt áo, và bà không nói một cái chữ nào.
Khi tôi kể xong thì bà nói:
「Con. Tao ở cái làng này bốn mươi năm. Mà tao không biết cái chuyện đó.」
「Dạ.」
「Vì cái làng này nó không nói cái chuyện đó. Mà nó không nói thì cái người như tao nó không biết.」
Bà đứng dậy.
「Thôi. Mày bắt cái gà đi. Mà cái chai rượu thì tao có một cái, tao để dành cho cái giỗ. Mày lấy.」
「Dạ. Con không lấy cái rượu của bà. Con đi mua.」
「Mày lấy đâu ra tiền?」
「Dạ. Con còn tám hào.」
「Một cái chai rượu là một đồng hai.」
Tôi im.
Bà Hợi cười, và cái cười đó nó không vui, mà nó cũng không phải cái cười chế.
「Con. Cái làng này nó phạt mày một cái gà với một cái chai rượu. Mà nó không phạt mày cái chuyện mày nghèo. Cho nên mày lấy cái rượu của tao, và mày trả tao cái sau.」
---
Cái giếng làng ở cái đầu cái ngõ, và cái giếng đó có cái thành xây bằng cái đá ong, và cái nước nó trong, và cái gàu nó buộc bằng cái dây thừng.
Tôi ra cái giếng lúc cái nắng nó lên tới cái lũy tre, và ở cái giếng có bốn cái người.
Họ im khi họ thấy tôi.
Rồi một cái bà nói, và bà đó nói đủ to cho tôi nghe:
「Cái con đó. Nó đánh cái trống.」
「Ừ. Mà nó đánh vì cái mộ.」
「Cái mộ thì cái mộ. Mà cái đứa con gái mà nó đứng ở cái đình lúc nửa đêm thì nó là cái đứa gì?」
Tôi kéo cái gàu lên, và tôi đổ cái nước vô cái thùng, và tôi không nói.
「Con.」
Một cái bà khác nói, và bà đó già hơn, và cái răng bà nó đen vì trầu:
「Con. Cái chuyện đó là cái chuyện của đàn ông. Con không dây vô thì hơn.」
「Dạ. Thưa bà. Cái mộ đó nằm ở cái đất của cha con.」
「Thì cái đất của cha con. Mà cái đất đó thì cái làng nó biết. Mà cái làng mà biết thì cái làng nó nói. Con chen vô thì con mang cái tiếng.」
Tôi đặt cái thùng xuống.
「Dạ. Con đã mang cái tiếng rồi.」
Cái bà đó nhìn tôi, và bà cười, và cái cười đó nó có cái gì đó nó không phải cái cười.
「Ừ. Mày mang rồi. Cho nên mày phải mang cho tới cái cùng.」
Bốn cái người đó đi, và cái thùng nước của họ nó sóng sánh.
Tôi đứng ở cái giếng một lúc, và tôi nhìn cái nước.
Bốn mươi năm trước, cái giếng này nó cũng vậy. Mà bốn mươi năm trước, cái người đứng ở cái giếng này là cái con dâu nhà họ Đỗ, và cô đó cúi cái đầu, và cô đó không nói một cái chữ.
Và cái làng này nó thương cái người đó. Nó thương vì cái người đó không nói.
Bây giờ tôi nói, và cái làng này nó không thương.
Tôi xách cái thùng lên, và tôi đi, và cái nước nó sóng sánh trên cái chân tôi.
---
Thằng Tám đợi tôi ở cái đầu ngõ.
Nó đứng giữa cái đường, và hai cái tay nó bỏ trong cái túi quần, và cái cổ nó dài, và nó nhai cái gì đó.
「Con nhỏ kia.」
Tôi dừng lại.
「Dạ.」
「Mày giỏi hen.」
「Dạ. Con không giỏi.」
「Mày đánh cái trống. Mày làm cái làng nó ra. Mày làm bà tao mất cái mặt trước cái làng.」
「Dạ. Con xin lỗi.」
Nó bước tới một bước.
「Mày xin lỗi tao?」
「Dạ. Con xin lỗi cái làng. Con không xin lỗi cái người đào cái mộ.」
Cái mặt nó đổi.
Nó chụp cái tay tôi, và nó giật cái gà trong cái tay kia của tôi, và cái gà nó kêu một cái, và cái lông nó bay.
「Cái gà này của ai?」
「Dạ. Của bà Hợi.」
「Của bà Hợi thì tao trả bà Hợi. Mà cái gà này tao lấy, vì mày nợ bà tao hai mươi đồng.」
「Dạ. Anh trả lại con.」
Nó cười, và nó cầm cái gà bằng hai cái chân, và nó xoay cái gà một cái như cái người ta xoay cái nón.
「Mày vô nhà đi. Mà mày nói với cái ông già nhà mày là cái chuyện này nó không xong bằng cái trống đâu.」
Rồi có cái tiếng.
Cái tiếng của cái cuốc nó chạm cái đá.
Cha tôi đứng ở cái cổng, và cái cuốc trong cái tay ông, và cái mũi cái cuốc nó cắm xuống cái đất, và ông không bước tới.
「Thằng Tám.」
「Dạ. Ông Lư.」
「Cái gà đó mày bỏ xuống.」
「Dạ. Con cầm cái gà này vì...」
「Tao nói mày bỏ cái gà xuống. Tao không nói cái lý. Tao nói cái tay mày.」
Cái làng im, và ở cái giếng có cái người nó ngừng kéo cái gàu.
Thằng Tám bỏ cái gà xuống.
Nó bỏ xuống cái đất, và cái gà nó chạy, và nó chạy vô cái bụi tre.
「Dạ. Ông Lư. Con bỏ rồi.」
「Ừ. Mà mày về mày nói với cái bà đó một câu: cái ngày mồng mười, tao tới cái đình. Mà tao không tới cái đình bằng cái tay không.」
Thằng Tám đi, và nó đi ngang qua tôi, và nó nói nhỏ:
「Mồng mười. Mà cái đình đó không cho đàn bà vô. Mày biết chưa?」
Nó đi.
---
Buổi chiều, cô Sáu tới.
Cô đi cái dép nhựa, và cô cầm cái túi vải, và cô đứng ở cái cổng, và cô không vô sân.
「Con. Cô nói cái này rồi cô về.」
「Dạ. Cô vô nhà.」
「Cô không vô. Cô đứng đây.」
Tôi ra cái cổng.
Cô Sáu nhìn cái mặt tôi, rồi cô nhìn cái tay tôi, và cô nói:
「Con. Cái đình đó không cho đàn bà vô. Con biết chưa?」
「Dạ. Con mới biết cái chiều nay.」
「Cái lệ đó nó cũ. Mà nó còn. Mà cái ngày mồng mười, cái đình mở cái sổ, thì cái người vô cái đình là cái lý trưởng, cái ông Hương bộ, cái mấy cái ông hương lão, và cái người có cái chuyện.」
「Dạ. Mà đàn bà thì đứng ở đâu?」
「Đứng ở cái sân. Sau cái bậc đá thứ hai. Mà cái người đứng ở cái sân thì không được nói, trừ cái lúc cái lý trưởng hỏi cái tên.」
Tôi ngồi xuống cái bậc.
「Dạ. Vậy cái lúc cái lý trưởng hỏi cái tên, thì con nói cái gì?」
「Con nói cái tên con. Rồi con im.」
「Dạ. Mà cái chuyện cái mộ thì ai nói?」
Cô Sáu im.
「Con. Cô nói cái này con đừng giận. Cái làng này nó không nghe cái con gái mười lăm tuổi. Nó nghe cái người có cái râu, hoặc cái người có cái chữ.」
「Dạ. Vậy con phải có cái người có cái chữ.」
「Con có.」
「Dạ. Ai?」
「Ông Hương bộ. Ông đó có cái sổ, và ông đó đã viết cái giấy cái đêm ở cái gò. Mà cái giấy đó thì nó là cái bằng.」
Tôi nhìn cô.
「Dạ. Cô Sáu. Cô nói cái câu đó với con, mà cô có biết cái câu đó nó làm cô mất cái gì không?」
Cô Sáu cười, và cái cười đó nó mệt.
「Cô biết. Mà cô cũng biết cái chuyện cô đưa cái tờ hôn thư cho con coi cái hôm trước. Mà cô không biết cái dòng thứ tư. Con tin cô không?」
「Dạ. Con tin.」
「Ừ. Cho nên cô nói cho con một cái chuyện nữa: cái chiều nay, bà Cả đi cái chợ trên.」
Tôi ngẩng lên.
「Dạ. Đi làm gì?」
「Đi cái nhà cái bà Phán. Mà bà đó về lúc cái chiều tối, và cái mặt bà đó nó vui.」
「Dạ. Vui?」
「Vui. Mà cái người đi cái chuyện đó mà về cái mặt vui thì cái chuyện đó nó xong rồi.」
Tôi ngồi im, và cái bụng tôi nó lạnh.
Bà Cả đi trước. Bà đi cái đường cái, và bà đi bằng cái dép da, và bà nói cái câu của bà trước khi tôi nói cái câu của tôi.
「Cô Sáu.」
「Ừ.」
「Dạ. Cô dắt con lên cái chợ trên được không?」
Cô Sáu nhìn tôi rất lâu.
「Con. Cái chợ trên nó không phải cái chợ này. Ở đó người ta mặc cái áo, và người ta nói cái giọng khác, và cái con nhỏ đi chân đất thì người ta không nghe.」
「Dạ. Con biết. Mà con có cái này.」
Tôi lấy cái biên nhận trong cái túi áo ra, và tôi đưa nó cho cô.
Cô Sáu mở nó ra, và cô nhìn, và cái mắt cô nó hẹp lại.
「Cái này là cái giấy ông Hương bộ viết cái hôm đám hỏi.」
「Dạ.」
「Mà cái dấu này là cái dấu của bà Cả.」
「Dạ.」
Cô Sáu gấp cái giấy lại, và cô đưa nó cho tôi, và cái tay cô nó run.
「Con. Cái giấy này mà đưa cho cái bà Phán coi thì cái chuyện nó khác. Mà cô không dắt con lên đó được, vì cô là cái bà mối của cái làng này, và cô mà dắt con lên đó thì cô mất cái nghề.」
「Dạ. Con hiểu.」
「Mà cô có cái này.」
Cô mở cái túi vải, và cô lấy ra một cái khăn.
「Cái khăn này là cái khăn cô mua ở cái chợ trên, cái tháng trước. Mà cái người bán cái khăn đó là cái con gái của cái bà Phán.」
「Dạ. Con gái?」
「Ừ. Nó bán cái hàng vải, ở cái đầu chợ trên. Mà nó là cái con gái út, và nó là cái đứa mà bà Phán thương nhất, vì nó giống bà đó.」
Tôi cầm cái khăn.
Nó trắng, và ở cái góc nó có cái thêu, và cái thêu đó nó là một cái bông.
「Dạ. Cô cho con cái khăn này?」
「Cô cho. Mà con đừng nói là của cô. Con nói con mua.」
「Dạ.」
Cô Sáu cầm cái túi lên, và cô đi được hai bước thì cô nói:
「Con. Cái con gái đó nó tên là cái Hạnh. Mà nó hay đứng ở cái hàng vải lúc cái giờ con nít đi học về. Mà cái giờ đó thì cái chợ nó vắng, vì cái người lớn còn ở ngoài đồng.」
---
Tối, tôi ngồi ở cái bàn, và tôi mở cái khăn ra, và tôi nhìn cái bông thêu.
Một cái bông. Năm cái cánh. Và ở giữa có một cái chấm.
Nó đơn giản, và nó thêu bằng cái chỉ xanh, và có một cái chỗ nó thêu sai, và cái kim nó đi ra ngoài cái đường.
Cái người thêu cái khăn này là cái đứa con gái. Nó thêu sai một cái chỗ, và nó không gỡ ra, và nó để đó.
Tôi nhìn cái chỗ đó rất lâu.
Rồi tôi gấp cái khăn lại, và tôi bỏ nó vô cái túi áo, và tôi nói nhỏ:
「Cái Hạnh. Cái chợ trên. Cái giờ con nít đi học về.」
Tôi thắt thêm một cái nút trên cái dây gai.
Cái nút đó không phải là cái số. Nó là cái tên thứ hai.
---
Đêm, tôi nằm trên cái chiếu rách, và tôi nghe má tôi ho ở trong cái buồng.
Cái ho đó nó dài hơn cái ho hôm trước. Nó có bốn cái tiếng, và cái tiếng thứ tư nó tắc.
Tôi nằm im, và tôi đếm cái ngày.
Cái đám hỏi là cái ngày mồng sáu. Mà cái đình mở cái sổ là cái ngày mồng mười.
Bốn cái ngày.
Trong bốn cái ngày đó, tôi phải làm ba cái chuyện: trả cái phạt ở cái sân đình, nói cái chuyện cái mộ trước cái làng, và làm cho cái bà Phán biết cái chuyện cái lò gạch.
Mà cái chuyện thứ ba thì tôi không có cái giọng. Cho nên tôi phải có cái người có cái giọng.
Tôi nghĩ tới cái cô Hạnh, và cái bông thêu sai, và cái chợ trên.
Rồi tôi nghĩ tới một cái chuyện khác, và cái chuyện đó nó làm tôi ngồi dậy trong cái tối.
Bà Cả đi cái chợ trên cái chiều nay. Mà bà đi bằng cái dép da.
Nếu bà đi cái chuyện cái lò gạch, thì bà đi để nói cái chuyện cái đất.
Mà muốn nói cái chuyện cái đất, thì bà phải nói cái chuyện cái mộ. Mà bà nói cái chuyện cái mộ thì bà nói cái gì?
Bà nói cái mộ đó là cái mộ vô chủ, và bà đã dời nó, và cái đất bây giờ nó sạch.
Mà cái chuyện đó thì nó chỉ đúng nếu cái làng này không biết. Mà cái làng này biết rồi.
Cho nên cái mặt bà vui là cái mặt của cái người đã nói dối xong.
Mà cái lời nói dối đó thì nó sẽ vỡ cái ngày mồng mười.
Tôi nằm xuống lại.
Và tôi nghĩ: cái ngày mồng mười, tôi không được vô cái đình. Mà tôi không cần vô cái đình. Tôi chỉ cần cái làng nghe cái câu của ông Hương bộ, và cái làng thấy cái mặt bà Cả khi bà nói cái câu đó.
Cái đình nó có cái sân. Mà cái sân thì ai cũng đứng được.
Tôi nhắm mắt.
Ngoài kia, cái gió nó lùa qua cái vách đất, và cái mùi chuồng heo nó vẫn vậy, và ở cái chuồng bên kia có cái con gà mái xám của bà Hợi nó vô nằm, và nó kêu một cái.
Tôi nghe cái tiếng đó, và tôi biết: cái gà đã về.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút
Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay
Chương 78: Cái nhà cái cổng mở
Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối
Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên
Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt
Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò
Chương 73: Cái đường gạch
Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới
Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia
Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà
Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối
Chương 68: Cái học trò của cái lò
Chương 67: Cái vụ cái xuân
Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh
Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông
Chương 64: Cái trầu qua cái sông
Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu
Chương 62: Cái giếng của cái làng
Chương 61: Cái sông dạy cái bơi
Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai
Chương 59: Cái nhà cái cổng kín
Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Chương 57: Cái nét đầu tiên
Chương 56: Cái đá đi
Chương 55: Cái tay đục
Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện
Chương 53: Cái tai của cái chợ
Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng
Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay
Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân
Chương 49: Cái bún tôm
Chương 48: Cái mốc đá
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm