Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Cái sáng mồng mười, cha tôi mặc cái quần lụa đen.
Ông mặc nó từ cái sáng, và ông ngồi ở cái chõng, và ông không têm trầu, và cái ống trầu nó để trên cái bàn.
「Cha. Cái đình mở cái sổ lúc cái giờ nào?」
「Cái giờ Thìn. Mà mình phải tới trước, vì cái người tới sau thì đứng ở cái sân ngoài.」
「Dạ.」
「Mà cái gà với cái rượu thì mày cầm. Cha cầm cái cuốc.」
「Dạ. Cha cầm cái cuốc làm gì?」
「Vì cái cuốc là cái đồ của nhà nông. Mà cái đình thì nó không cấm cái đồ của nhà nông.」
Tôi nhìn ông.
Bốn mươi năm trước, cái người này không nói cái câu đó với tôi. Ông chỉ nói cái câu 『về đi con』, và tôi đi.
Bây giờ ông nói cái câu về cái cuốc, và tôi hiểu: ông đã tính cái chuyện này trong cái đầu ông, đêm qua, một mình, với cái ống trầu.
---
Cái sân đình đông trước cái giờ Thìn.
Cái đình nó ở cái đầu làng, và cái sân nó rộng, và ở giữa cái sân có cái cây đa, và cái bóng của nó nó phủ cái nửa cái sân.
Cái bậc đá thứ hai là cái ranh. Tôi biết cái chuyện đó vì cô Sáu nói, mà tôi cũng biết vì cái làng nó đứng đúng cái chỗ đó: đàn ông ở cái bên trong, đàn bà ở cái bên ngoài, và ở giữa là cái bậc đá.
Bà Hợi đứng cạnh tôi, và cô Sáu đứng sau lưng tôi, và má tôi ở nhà, vì bà nói 『tao mà ra đó thì tao ho, mà tao ho thì cái làng nó nói』.
Tiểu Bảo đứng ở cái gốc đa, và nó cầm cái tay áo tôi, và nó không nói.
Cái gà trong cái tay tôi nó giãy, và cái chai rượu trong cái nách tôi nó lạnh.
Ông Từ quét cái sân, và ông quét cái chỗ trước cái bậc, và ông quét chậm, và cái chổi của ông nó kêu trên cái sân gạch một cái tiếng đều.
Rồi cái lý trưởng Bùi ra.
Ông ta đi từ cái cửa đình, và ông ta mặc cái áo dài, và cái tay ông ta cầm cái quạt, và ông ta đứng ở cái chiếu giữa, và ông ta nói:
「Cái làng. Hôm nay cái đình mở cái sổ, và có ba cái chuyện. Một là cái chuyện cái phạt cái con Lư thị Kiều Nguyệt đánh cái trống. Hai là cái chuyện cái mộ ở cái thửa bảy. Ba là cái chuyện cái thửa bảy nó có ba cái tên trong cái sổ.」
Ông ta mở cái quạt ra.
「Cái chuyện thứ nhất. Cái con Lư thị Kiều Nguyệt.」
Tôi đi tới cái bậc đá thứ hai.
Tôi đặt cái gà xuống cái bậc, và cái chai rượu, và tôi đứng thẳng.
「Dạ. Con đây.」
「Cái làng phạt mày một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt. Mày có cái gì nói không?」
「Dạ. Con có.」
Cái sân im.
「Con xin lỗi cái làng vì con đánh cái trống. Con đánh cái trống là con phạm cái lệ, và con chịu cái phạt. Mà con không xin lỗi vì con kêu cái làng dậy. Vì cái chuyện con kêu cái làng dậy coi là cái chuyện có thật, và cái làng đã thấy nó bằng cái mắt cái làng.」
Cái sân không im nữa.
Có cái tiếng ở cái bên ngoài, và cái tiếng đó nó không phải cái tiếng giận. Rồi có cái tiếng vỗ cái tay, và nó lác đác, và rồi nó thành một cái tiếng đều.
Cái lý trưởng Bùi quạt một cái, và cái quạt của ông ta không làm cái tiếng đó im.
「Im. Cái làng im. Đây là cái đình, không phải cái chợ.」
Cái tiếng đó im, mà nó im chậm, như cái người ta im khi người ta không phục.
「Cái gà và cái rượu thì cái làng nhận. Mà cái mặt thì mày trả cái cách này: mày đứng ở cái bậc đó cho tới cái lúc cái đình xong cái chuyện. Mà mày không được nói cái câu nào nữa, trừ cái lúc tao hỏi cái tên mày.」
「Dạ. Con chịu.」
Tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai.
Bây giờ tôi đứng, và cái nắng nó chiếu lên cái mặt tôi, và tôi biết cái làng này đang nhìn cái lưng tôi.
---
「Cái chuyện thứ hai. Cái mộ ở cái thửa bảy.」
Ông Hương bộ bước ra, và ông mở cái ống quyển, và ông đặt cái quyển sổ lên cái chiếu.
「Cái làng. Tôi đọc cái giấy tôi viết cái đêm ở cái gò.」
Ông đọc.
Ông đọc cái chuyện cái hố, cái tiểu sành, cái người đào, cái câu của ông Đồ 『bà Cả trả tôi hai cái hào』, và cái tiếng cười của cái làng khi ông đọc tới đó.
Rồi ông đọc cái câu của Đỗ Liêm, và ông đọc cái tên 『Nguyễn Thị Năm』.
Cái sân im, và cái im này nó khác.
「Cái chuyện này thì cái đình phải hỏi cái bà Cả họ Đỗ một câu. Bà Cả.」
Bà Cả đi ra.
Bà mặc cái áo the, và bà cầm cái quạt, và bà đứng ở cái chiếu bên trái, và bà không đứng ở cái chiếu giữa.
「Dạ.」
「Cái đêm đó bà có đào cái mộ không?」
「Dạ. Có.」
Cái sân nó xôn.
「Mà tôi đào là tôi dời, không phải tôi phá. Cái mộ đó nó nằm ở cái chỗ cái nước nó chảy vô, và cái đất nó sụp, và cái tiểu nó đã nứt từ cái trước. Tôi dời nó về cái đất của nhà tôi, và tôi làm cái lễ, và tôi chôn nó ở cái chỗ tử tế.」
Một cái ông hương lão nói:
「Mà sao bà không nói với cái người trong họ?」
「Vì cái người trong họ nó không chịu. Mà cái mộ thì nó sắp sụp. Cho nên tôi làm cái chuyện tôi phải làm.」
Cái sân im.
Và tôi đứng ở cái bậc đá, và tôi biết: cái câu đó nó khéo. Nó khéo như cái câu ở cái gò. Nó có cái lý, và cái lý đó nó là cái lý của cái người ta lo cho cái mồ.
Rồi Đỗ Liêm nói.
Nó đứng ở cái chiếu bên phải, và nó không cầm cái gì, và cái tay nó buông xuôi.
「Dạ. Cái làng. Tôi là cái con của cái bà Nguyễn Thị Năm. Mà cái chuyện bà Cả nói thì nó đúng một cái nửa.」
「Cái nửa nào?」
「Cái nửa đúng là cái mộ đó nó sắp sụp. Mà cái nửa không đúng là cái chỗ cái mộ mới. Bà Cả không dời cái mộ về cái đất của nhà tôi. Bà chưa dời. Cái đêm đó bà đào cái mộ lên, mà cái tiểu thì bà để ở cái chái sau cái nhà bà, dưới cái cối xay.」
Cái sân im, và cái im này nó dài.
「Mà cái chỗ mà bà định chôn thì nó là cái chỗ cái thửa bảy, cái chỗ cái mẫu đất khô, cái chỗ mà cái ông ở cái huyện đã coi hai cái lần.」
Ông lý trưởng Bùi nói:
「Cái ông ở cái huyện nào?」
Đỗ Liêm không trả lời.
Nó quay lại, và nó nhìn bà Cả, và nó nói:
「Má. Cái tiểu đó bây giờ ở đâu?」
Bà Cả không trả lời.
「Má. Cái làng đang hỏi má.」
Bà Cả gấp cái quạt.
「Cái tiểu đó ở cái chái sau. Mà nó ở đó vì tôi chưa làm cái lễ. Mà cái lễ thì tôi làm cái ngày cái thửa đó nó sang cái tên.」
Cái câu đó nó ra, và cái làng nó nghe, và cái làng nó hiểu.
Cái thửa đó nó sang cái tên thì cái mộ mới được chôn. Nghĩa là cái mộ nó là cái đồ đặt cọc cho cái chuyện sang cái tên.
Một cái ông hương lão nói:
「Bà Cả. Cái mộ của cái người ta mà bà để dưới cái cối xay.」
「Dạ. Nó là cái tiểu, không phải cái người.」
「Dạ. Nó là cái tiểu. Mà cái tiểu đó là cái mẹ của cái thằng này.」
Cái làng nó xôn lên, và lần này cái tiếng đó nó không lác đác.
---
「Im.」
Cái lý trưởng Bùi quạt, và ông ta quạt mạnh, và cái quạt nó kêu.
「Cái làng. Cái chuyện cái mộ thì nó là cái chuyện trong cái họ. Cái đình không xử cái chuyện trong cái họ.」
Ông Hương bộ nói:
「Dạ. Mà cái sổ thì nó phải ghi cái mộ.」
「Thì ghi.」
「Dạ. Muốn ghi cái mộ thì phải có cái giấy khai của cái người trong cái họ. Mà bây giờ cái người đó đứng ở cái chiếu bên phải, và nó đã nói cái tên cái mẹ nó trước cái làng. Cho nên cái giấy khai này thì tôi viết được, và tôi viết bây giờ.」
Ông ta ngồi xuống cái chiếu, và ông ta mở cái nghiên, và cái mực nó đen.
「Cái làng. Tôi viết: 『Cái thửa bảy ở cái gò có một cái mộ. Cái mộ đó là cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm, cái vợ trước của ông Đỗ Cả. Cái người trong họ là cái ông Đỗ Liêm, và cái ông đó nhận cái mộ, và cái ông đó không đồng ý dời cái mộ.』」
「Dạ. Tôi không đồng ý dời.」
「Rồi cái giấy này nó phải có cái dấu của cái đình. Mà cái dấu của cái đình thì cái lý trưởng đóng.」
Ông lý trưởng Bùi đứng im.
Rồi ông ta nói, và cái giọng ông ta nó lạnh:
「Cái giấy đó thì tao đóng cái dấu. Mà tao đóng nó thì cái thửa bảy nó thành cái đất có cái mộ. Mà cái đất có cái mộ thì nó không sang cái tên được, trừ cái lúc cái mộ nó dời. Mà cái mộ nó dời thì phải có cái chữ ký của cái ông Đỗ Liêm.」
Ông ta quay lại nhìn Đỗ Liêm.
「Cậu. Cậu nghe rồi đó. Cái chữ ký của cậu nó là cái chìa khóa. Mà cậu không ký thì cái thửa đó nó đứng im, và cái bà Cả thì cái tiểu của cái mẹ cậu nó ở dưới cái cối xay.」
Đỗ Liêm không nói.
「Mà cậu ký thì cái mộ của cái mẹ cậu nó được chôn tử tế, và cái thửa đó nó sang cái tên, và cái bà Cả thì cái chuyện của bà đó nó xong.」
Cái sân im.
Và tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai, và tôi biết cái chuyện gì đang xảy ra: cái lý trưởng Bùi đang đặt cái chữ ký của Đỗ Liêm lên cái bàn cân, và ở cái bên kia cái bàn cân là cái tiểu của cái mẹ nó.
Đó là cái cách cái làng này nó làm việc. Nó không đánh. Nó đặt cái chuyện tử tế lên cái bàn cân.
「Dạ. Cái làng.」
Cái lý trưởng nói, và ông ta nói to hơn:
「Cái chuyện thứ ba. Cái thửa bảy nó có ba cái tên trong cái sổ. Mà cái tên thứ ba là cái Lư Văn Mẫn, ở cái xóm dưới. Mà cái ông đó hôm nay không có ở đây, cho nên cái chuyện cái thửa bảy nó chưa xong.」
Bà Cả nói:
「Dạ. Nó có ở đây.」
Cái sân im.
「Dạ. Cái thằng Mẫn nó có ở đây, và nó ở cái nhà tôi từ cái hôm qua. Mà nó đã ký cái giấy khai cái phần của nó.」
Bà mở cái quạt ra, và bà lấy trong cái túi áo ra một tờ giấy, và bà đưa nó cho cái lý trưởng.
「Dạ. Cái giấy này ông Hương bộ viết cái hôm qua, ở cái nhà tôi, và nó có cái dấu điểm chỉ của cái thằng Mẫn.」
Ông Hương bộ cầm tờ giấy, và ông nhìn nó, và cái mặt ông nó không đổi.
「Dạ. Cái dấu này là cái dấu của cái ngón tay cái. Mà tôi không viết cái giấy này.」
Cái sân im.
「Dạ. Tôi không viết cái giấy này. Mà cái chữ trên cái giấy này thì nó là cái chữ của tôi.」
Bà Cả nói:
「Dạ. Ông Hương bộ. Cái chữ của ông thì cái làng này biết. Mà cái chữ đó thì nó ở trên cái giấy này. Cho nên cái giấy này nó là cái giấy thật.」
Ông Hương bộ đặt tờ giấy lên cái chiếu, và ông nói, và cái giọng ông nó chậm:
「Dạ. Cái làng. Cái chữ này thì nó giống cái chữ của tôi. Mà cái giấy này thì nó không phải cái giấy của tôi viết. Vì cái chỗ cái dấu điểm chỉ, cái dấu đó nó lăn, và cái người lăn nó lăn bằng cái tay trái.」
「Thì sao?」
「Dạ. Vì cái thằng Mẫn nó không có cái tay trái. Nó mất cái bàn tay trái cái năm nó mười tuổi, vì cái máy xay.」
Bà Cả không nói.
Và tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai, và tôi nhìn cái lưng bà, và cái lưng đó nó vẫn thẳng.
---
Cái đình xong cái chuyện lúc cái nắng nó đứng bóng.
Cái làng nó ra về, và cái tiếng nó nói ở cái sân nó to hơn cái tiếng nó nói ở cái chợ.
Cha tôi cầm cái cuốc, và ông đi trước tôi, và ông không nói.
Đỗ Liêm đi ở cái bên kia cái sân, và không ai đi với nó.
Còn bà Cả thì ở lại trong cái đình, với cái lý trưởng, và cái tờ giấy có cái dấu điểm chỉ của cái bàn tay trái.
Tôi đứng ở cái bậc đá cho tới cái lúc cái sân nó vắng, và rồi tôi đi.
Và khi tôi đi ngang cái cây đa thì ông Từ nói, mà ông nói với cái chổi của ông:
「Con. Cái dấu điểm chỉ đó thì nó không phải cái dấu của cái thằng Mẫn. Mà cái bà Cả thì bà biết cái chuyện cái tay trái từ cái lâu rồi.」
Tôi dừng lại.
「Dạ. Vậy sao bà làm cái chuyện đó?」
「Vì bà không cần cái giấy đó đúng. Bà cần cái giấy đó có.」
「Dạ. Để làm gì?」
「Để cái chuyện nó chậm lại. Mà cái chuyện mà chậm thì cái người có tiền nó thắng.」
Ông quét một cái, và cái lá đa nó bay lên.
「Mà nó chậm tới cái mùa gặt. Mà cái mùa gặt thì cái nhà mày có cái lúa. Mà cái lúa thì nó trả được cái nợ. Cho nên cái bà đó không cần cái thửa bảy. Bà cần cái mùa gặt của cái nhà mày.」
Tôi đứng im.
「Dạ. Ông Từ. Sao ông nói với con cái chuyện đó?」
Ông Từ ngẩng lên, và cái mặt ông nó không có cái cười.
「Vì cái đêm đó mày đánh cái trống, và mày làm cái làng này dậy, và cái làng này dậy thì nó thấy cái chuyện nó không muốn thấy. Mà cái chuyện đó thì nó có ích cho cái làng. Cho nên tao nói.」
Ông cầm cái chổi, và ông đi vô cái đình.
---
Tối, tôi ngồi ở cái bàn, và tôi mở cái dây gai.
Tôi thắt thêm hai cái nút: một cái cho cái tờ giấy có cái bàn tay trái, và một cái cho cái mùa gặt.
Rồi tôi ngồi đó, và tôi nghe cái tiếng má tôi ho, và cái tiếng đó nó ngắn hơn cái đêm trước.
Và tôi nghĩ: cái chuyện này nó không còn là cái chuyện của cái mộ nữa. Nó là cái chuyện của cái mùa gặt. Nếu cái nhà này còn cái lúa thì cái nhà này còn cái đất.
Mà cái lúa thì nó ở ngoài đồng, và nó còn ba tháng nữa, và cái mùa này cái trời nó không mưa.
Tôi đứng dậy, và tôi đi ra cái sân, và tôi nhìn cái trời.
Cái trời nó không có cái sao. Nó có cái mây, và cái mây đó nó đi nhanh, và cái gió nó lạnh.
Và tôi biết cái chuyện thứ tư mà cái làng này chưa nói tới: nếu cái trời không mưa thì cái lúa nó chết. Mà cái lúa mà chết thì cái nhà này mất cái đất mà không cần tới cái bà Cả.
Tôi đứng đó rất lâu.
Rồi tôi nói nhỏ, và tôi nói với cái trời:
「Vậy thì con phải lo cái nước trước cái giấy.」
Cái sáng mồng mười, cha tôi mặc cái quần lụa đen.
Ông mặc nó từ cái sáng, và ông ngồi ở cái chõng, và ông không têm trầu, và cái ống trầu nó để trên cái bàn.
「Cha. Cái đình mở cái sổ lúc cái giờ nào?」
「Cái giờ Thìn. Mà mình phải tới trước, vì cái người tới sau thì đứng ở cái sân ngoài.」
「Dạ.」
「Mà cái gà với cái rượu thì mày cầm. Cha cầm cái cuốc.」
「Dạ. Cha cầm cái cuốc làm gì?」
「Vì cái cuốc là cái đồ của nhà nông. Mà cái đình thì nó không cấm cái đồ của nhà nông.」
Tôi nhìn ông.
Bốn mươi năm trước, cái người này không nói cái câu đó với tôi. Ông chỉ nói cái câu 『về đi con』, và tôi đi.
Bây giờ ông nói cái câu về cái cuốc, và tôi hiểu: ông đã tính cái chuyện này trong cái đầu ông, đêm qua, một mình, với cái ống trầu.
---
Cái sân đình đông trước cái giờ Thìn.
Cái đình nó ở cái đầu làng, và cái sân nó rộng, và ở giữa cái sân có cái cây đa, và cái bóng của nó nó phủ cái nửa cái sân.
Cái bậc đá thứ hai là cái ranh. Tôi biết cái chuyện đó vì cô Sáu nói, mà tôi cũng biết vì cái làng nó đứng đúng cái chỗ đó: đàn ông ở cái bên trong, đàn bà ở cái bên ngoài, và ở giữa là cái bậc đá.
Bà Hợi đứng cạnh tôi, và cô Sáu đứng sau lưng tôi, và má tôi ở nhà, vì bà nói 『tao mà ra đó thì tao ho, mà tao ho thì cái làng nó nói』.
Tiểu Bảo đứng ở cái gốc đa, và nó cầm cái tay áo tôi, và nó không nói.
Cái gà trong cái tay tôi nó giãy, và cái chai rượu trong cái nách tôi nó lạnh.
Ông Từ quét cái sân, và ông quét cái chỗ trước cái bậc, và ông quét chậm, và cái chổi của ông nó kêu trên cái sân gạch một cái tiếng đều.
Rồi cái lý trưởng Bùi ra.
Ông ta đi từ cái cửa đình, và ông ta mặc cái áo dài, và cái tay ông ta cầm cái quạt, và ông ta đứng ở cái chiếu giữa, và ông ta nói:
「Cái làng. Hôm nay cái đình mở cái sổ, và có ba cái chuyện. Một là cái chuyện cái phạt cái con Lư thị Kiều Nguyệt đánh cái trống. Hai là cái chuyện cái mộ ở cái thửa bảy. Ba là cái chuyện cái thửa bảy nó có ba cái tên trong cái sổ.」
Ông ta mở cái quạt ra.
「Cái chuyện thứ nhất. Cái con Lư thị Kiều Nguyệt.」
Tôi đi tới cái bậc đá thứ hai.
Tôi đặt cái gà xuống cái bậc, và cái chai rượu, và tôi đứng thẳng.
「Dạ. Con đây.」
「Cái làng phạt mày một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt. Mày có cái gì nói không?」
「Dạ. Con có.」
Cái sân im.
「Con xin lỗi cái làng vì con đánh cái trống. Con đánh cái trống là con phạm cái lệ, và con chịu cái phạt. Mà con không xin lỗi vì con kêu cái làng dậy. Vì cái chuyện con kêu cái làng dậy coi là cái chuyện có thật, và cái làng đã thấy nó bằng cái mắt cái làng.」
Cái sân không im nữa.
Có cái tiếng ở cái bên ngoài, và cái tiếng đó nó không phải cái tiếng giận. Rồi có cái tiếng vỗ cái tay, và nó lác đác, và rồi nó thành một cái tiếng đều.
Cái lý trưởng Bùi quạt một cái, và cái quạt của ông ta không làm cái tiếng đó im.
「Im. Cái làng im. Đây là cái đình, không phải cái chợ.」
Cái tiếng đó im, mà nó im chậm, như cái người ta im khi người ta không phục.
「Cái gà và cái rượu thì cái làng nhận. Mà cái mặt thì mày trả cái cách này: mày đứng ở cái bậc đó cho tới cái lúc cái đình xong cái chuyện. Mà mày không được nói cái câu nào nữa, trừ cái lúc tao hỏi cái tên mày.」
「Dạ. Con chịu.」
Tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai.
Bây giờ tôi đứng, và cái nắng nó chiếu lên cái mặt tôi, và tôi biết cái làng này đang nhìn cái lưng tôi.
---
「Cái chuyện thứ hai. Cái mộ ở cái thửa bảy.」
Ông Hương bộ bước ra, và ông mở cái ống quyển, và ông đặt cái quyển sổ lên cái chiếu.
「Cái làng. Tôi đọc cái giấy tôi viết cái đêm ở cái gò.」
Ông đọc.
Ông đọc cái chuyện cái hố, cái tiểu sành, cái người đào, cái câu của ông Đồ 『bà Cả trả tôi hai cái hào』, và cái tiếng cười của cái làng khi ông đọc tới đó.
Rồi ông đọc cái câu của Đỗ Liêm, và ông đọc cái tên 『Nguyễn Thị Năm』.
Cái sân im, và cái im này nó khác.
「Cái chuyện này thì cái đình phải hỏi cái bà Cả họ Đỗ một câu. Bà Cả.」
Bà Cả đi ra.
Bà mặc cái áo the, và bà cầm cái quạt, và bà đứng ở cái chiếu bên trái, và bà không đứng ở cái chiếu giữa.
「Dạ.」
「Cái đêm đó bà có đào cái mộ không?」
「Dạ. Có.」
Cái sân nó xôn.
「Mà tôi đào là tôi dời, không phải tôi phá. Cái mộ đó nó nằm ở cái chỗ cái nước nó chảy vô, và cái đất nó sụp, và cái tiểu nó đã nứt từ cái trước. Tôi dời nó về cái đất của nhà tôi, và tôi làm cái lễ, và tôi chôn nó ở cái chỗ tử tế.」
Một cái ông hương lão nói:
「Mà sao bà không nói với cái người trong họ?」
「Vì cái người trong họ nó không chịu. Mà cái mộ thì nó sắp sụp. Cho nên tôi làm cái chuyện tôi phải làm.」
Cái sân im.
Và tôi đứng ở cái bậc đá, và tôi biết: cái câu đó nó khéo. Nó khéo như cái câu ở cái gò. Nó có cái lý, và cái lý đó nó là cái lý của cái người ta lo cho cái mồ.
Rồi Đỗ Liêm nói.
Nó đứng ở cái chiếu bên phải, và nó không cầm cái gì, và cái tay nó buông xuôi.
「Dạ. Cái làng. Tôi là cái con của cái bà Nguyễn Thị Năm. Mà cái chuyện bà Cả nói thì nó đúng một cái nửa.」
「Cái nửa nào?」
「Cái nửa đúng là cái mộ đó nó sắp sụp. Mà cái nửa không đúng là cái chỗ cái mộ mới. Bà Cả không dời cái mộ về cái đất của nhà tôi. Bà chưa dời. Cái đêm đó bà đào cái mộ lên, mà cái tiểu thì bà để ở cái chái sau cái nhà bà, dưới cái cối xay.」
Cái sân im, và cái im này nó dài.
「Mà cái chỗ mà bà định chôn thì nó là cái chỗ cái thửa bảy, cái chỗ cái mẫu đất khô, cái chỗ mà cái ông ở cái huyện đã coi hai cái lần.」
Ông lý trưởng Bùi nói:
「Cái ông ở cái huyện nào?」
Đỗ Liêm không trả lời.
Nó quay lại, và nó nhìn bà Cả, và nó nói:
「Má. Cái tiểu đó bây giờ ở đâu?」
Bà Cả không trả lời.
「Má. Cái làng đang hỏi má.」
Bà Cả gấp cái quạt.
「Cái tiểu đó ở cái chái sau. Mà nó ở đó vì tôi chưa làm cái lễ. Mà cái lễ thì tôi làm cái ngày cái thửa đó nó sang cái tên.」
Cái câu đó nó ra, và cái làng nó nghe, và cái làng nó hiểu.
Cái thửa đó nó sang cái tên thì cái mộ mới được chôn. Nghĩa là cái mộ nó là cái đồ đặt cọc cho cái chuyện sang cái tên.
Một cái ông hương lão nói:
「Bà Cả. Cái mộ của cái người ta mà bà để dưới cái cối xay.」
「Dạ. Nó là cái tiểu, không phải cái người.」
「Dạ. Nó là cái tiểu. Mà cái tiểu đó là cái mẹ của cái thằng này.」
Cái làng nó xôn lên, và lần này cái tiếng đó nó không lác đác.
---
「Im.」
Cái lý trưởng Bùi quạt, và ông ta quạt mạnh, và cái quạt nó kêu.
「Cái làng. Cái chuyện cái mộ thì nó là cái chuyện trong cái họ. Cái đình không xử cái chuyện trong cái họ.」
Ông Hương bộ nói:
「Dạ. Mà cái sổ thì nó phải ghi cái mộ.」
「Thì ghi.」
「Dạ. Muốn ghi cái mộ thì phải có cái giấy khai của cái người trong cái họ. Mà bây giờ cái người đó đứng ở cái chiếu bên phải, và nó đã nói cái tên cái mẹ nó trước cái làng. Cho nên cái giấy khai này thì tôi viết được, và tôi viết bây giờ.」
Ông ta ngồi xuống cái chiếu, và ông ta mở cái nghiên, và cái mực nó đen.
「Cái làng. Tôi viết: 『Cái thửa bảy ở cái gò có một cái mộ. Cái mộ đó là cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm, cái vợ trước của ông Đỗ Cả. Cái người trong họ là cái ông Đỗ Liêm, và cái ông đó nhận cái mộ, và cái ông đó không đồng ý dời cái mộ.』」
「Dạ. Tôi không đồng ý dời.」
「Rồi cái giấy này nó phải có cái dấu của cái đình. Mà cái dấu của cái đình thì cái lý trưởng đóng.」
Ông lý trưởng Bùi đứng im.
Rồi ông ta nói, và cái giọng ông ta nó lạnh:
「Cái giấy đó thì tao đóng cái dấu. Mà tao đóng nó thì cái thửa bảy nó thành cái đất có cái mộ. Mà cái đất có cái mộ thì nó không sang cái tên được, trừ cái lúc cái mộ nó dời. Mà cái mộ nó dời thì phải có cái chữ ký của cái ông Đỗ Liêm.」
Ông ta quay lại nhìn Đỗ Liêm.
「Cậu. Cậu nghe rồi đó. Cái chữ ký của cậu nó là cái chìa khóa. Mà cậu không ký thì cái thửa đó nó đứng im, và cái bà Cả thì cái tiểu của cái mẹ cậu nó ở dưới cái cối xay.」
Đỗ Liêm không nói.
「Mà cậu ký thì cái mộ của cái mẹ cậu nó được chôn tử tế, và cái thửa đó nó sang cái tên, và cái bà Cả thì cái chuyện của bà đó nó xong.」
Cái sân im.
Và tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai, và tôi biết cái chuyện gì đang xảy ra: cái lý trưởng Bùi đang đặt cái chữ ký của Đỗ Liêm lên cái bàn cân, và ở cái bên kia cái bàn cân là cái tiểu của cái mẹ nó.
Đó là cái cách cái làng này nó làm việc. Nó không đánh. Nó đặt cái chuyện tử tế lên cái bàn cân.
「Dạ. Cái làng.」
Cái lý trưởng nói, và ông ta nói to hơn:
「Cái chuyện thứ ba. Cái thửa bảy nó có ba cái tên trong cái sổ. Mà cái tên thứ ba là cái Lư Văn Mẫn, ở cái xóm dưới. Mà cái ông đó hôm nay không có ở đây, cho nên cái chuyện cái thửa bảy nó chưa xong.」
Bà Cả nói:
「Dạ. Nó có ở đây.」
Cái sân im.
「Dạ. Cái thằng Mẫn nó có ở đây, và nó ở cái nhà tôi từ cái hôm qua. Mà nó đã ký cái giấy khai cái phần của nó.」
Bà mở cái quạt ra, và bà lấy trong cái túi áo ra một tờ giấy, và bà đưa nó cho cái lý trưởng.
「Dạ. Cái giấy này ông Hương bộ viết cái hôm qua, ở cái nhà tôi, và nó có cái dấu điểm chỉ của cái thằng Mẫn.」
Ông Hương bộ cầm tờ giấy, và ông nhìn nó, và cái mặt ông nó không đổi.
「Dạ. Cái dấu này là cái dấu của cái ngón tay cái. Mà tôi không viết cái giấy này.」
Cái sân im.
「Dạ. Tôi không viết cái giấy này. Mà cái chữ trên cái giấy này thì nó là cái chữ của tôi.」
Bà Cả nói:
「Dạ. Ông Hương bộ. Cái chữ của ông thì cái làng này biết. Mà cái chữ đó thì nó ở trên cái giấy này. Cho nên cái giấy này nó là cái giấy thật.」
Ông Hương bộ đặt tờ giấy lên cái chiếu, và ông nói, và cái giọng ông nó chậm:
「Dạ. Cái làng. Cái chữ này thì nó giống cái chữ của tôi. Mà cái giấy này thì nó không phải cái giấy của tôi viết. Vì cái chỗ cái dấu điểm chỉ, cái dấu đó nó lăn, và cái người lăn nó lăn bằng cái tay trái.」
「Thì sao?」
「Dạ. Vì cái thằng Mẫn nó không có cái tay trái. Nó mất cái bàn tay trái cái năm nó mười tuổi, vì cái máy xay.」
Bà Cả không nói.
Và tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai, và tôi nhìn cái lưng bà, và cái lưng đó nó vẫn thẳng.
---
Cái đình xong cái chuyện lúc cái nắng nó đứng bóng.
Cái làng nó ra về, và cái tiếng nó nói ở cái sân nó to hơn cái tiếng nó nói ở cái chợ.
Cha tôi cầm cái cuốc, và ông đi trước tôi, và ông không nói.
Đỗ Liêm đi ở cái bên kia cái sân, và không ai đi với nó.
Còn bà Cả thì ở lại trong cái đình, với cái lý trưởng, và cái tờ giấy có cái dấu điểm chỉ của cái bàn tay trái.
Tôi đứng ở cái bậc đá cho tới cái lúc cái sân nó vắng, và rồi tôi đi.
Và khi tôi đi ngang cái cây đa thì ông Từ nói, mà ông nói với cái chổi của ông:
「Con. Cái dấu điểm chỉ đó thì nó không phải cái dấu của cái thằng Mẫn. Mà cái bà Cả thì bà biết cái chuyện cái tay trái từ cái lâu rồi.」
Tôi dừng lại.
「Dạ. Vậy sao bà làm cái chuyện đó?」
「Vì bà không cần cái giấy đó đúng. Bà cần cái giấy đó có.」
「Dạ. Để làm gì?」
「Để cái chuyện nó chậm lại. Mà cái chuyện mà chậm thì cái người có tiền nó thắng.」
Ông quét một cái, và cái lá đa nó bay lên.
「Mà nó chậm tới cái mùa gặt. Mà cái mùa gặt thì cái nhà mày có cái lúa. Mà cái lúa thì nó trả được cái nợ. Cho nên cái bà đó không cần cái thửa bảy. Bà cần cái mùa gặt của cái nhà mày.」
Tôi đứng im.
「Dạ. Ông Từ. Sao ông nói với con cái chuyện đó?」
Ông Từ ngẩng lên, và cái mặt ông nó không có cái cười.
「Vì cái đêm đó mày đánh cái trống, và mày làm cái làng này dậy, và cái làng này dậy thì nó thấy cái chuyện nó không muốn thấy. Mà cái chuyện đó thì nó có ích cho cái làng. Cho nên tao nói.」
Ông cầm cái chổi, và ông đi vô cái đình.
---
Tối, tôi ngồi ở cái bàn, và tôi mở cái dây gai.
Tôi thắt thêm hai cái nút: một cái cho cái tờ giấy có cái bàn tay trái, và một cái cho cái mùa gặt.
Rồi tôi ngồi đó, và tôi nghe cái tiếng má tôi ho, và cái tiếng đó nó ngắn hơn cái đêm trước.
Và tôi nghĩ: cái chuyện này nó không còn là cái chuyện của cái mộ nữa. Nó là cái chuyện của cái mùa gặt. Nếu cái nhà này còn cái lúa thì cái nhà này còn cái đất.
Mà cái lúa thì nó ở ngoài đồng, và nó còn ba tháng nữa, và cái mùa này cái trời nó không mưa.
Tôi đứng dậy, và tôi đi ra cái sân, và tôi nhìn cái trời.
Cái trời nó không có cái sao. Nó có cái mây, và cái mây đó nó đi nhanh, và cái gió nó lạnh.
Và tôi biết cái chuyện thứ tư mà cái làng này chưa nói tới: nếu cái trời không mưa thì cái lúa nó chết. Mà cái lúa mà chết thì cái nhà này mất cái đất mà không cần tới cái bà Cả.
Tôi đứng đó rất lâu.
Rồi tôi nói nhỏ, và tôi nói với cái trời:
「Vậy thì con phải lo cái nước trước cái giấy.」
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút
Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay
Chương 78: Cái nhà cái cổng mở
Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối
Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên
Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt
Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò
Chương 73: Cái đường gạch
Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới
Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia
Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà
Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối
Chương 68: Cái học trò của cái lò
Chương 67: Cái vụ cái xuân
Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh
Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông
Chương 64: Cái trầu qua cái sông
Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu
Chương 62: Cái giếng của cái làng
Chương 61: Cái sông dạy cái bơi
Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai
Chương 59: Cái nhà cái cổng kín
Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Chương 57: Cái nét đầu tiên
Chương 56: Cái đá đi
Chương 55: Cái tay đục
Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện
Chương 53: Cái tai của cái chợ
Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng
Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay
Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân
Chương 49: Cái bún tôm
Chương 48: Cái mốc đá
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm