← Trang chủ Nông Phu Gia Tiều Kiều Thê

Chương 17: Cái dấu của cái tay trái

Chương 17: Cái dấu của cái tay trái

Cái ngày mười lăm, má lấy trong cái rương ra một cái áo.

Cái áo gói trong cái giấy báo cũ. Cái giấy đã ngả vàng, mà cái nếp gói nó còn. Cái màu cái áo là cái màu cánh gián.

「Cái áo này,」má nói, 「bà nội mày mặc cái ngày bà đi cái đám cưới của má. Bà mặc một cái lần. Rồi bà gói nó lại.」

Cái cổ nó cao, cái tay nó dài, cái vải the nó mỏng. Cái áo đó không giữ cái ấm. Nó giữ cái dáng.

「Má mặc đi,」tôi nói.

「Má không mặc,」má nói. 「Cái áo này cái người mặc nó phải đứng thẳng.」

Má đưa cái áo cho tôi. Rồi má lấy cái lược, gỡ cái tóc tôi, bới nó lên. Cái tay má run, mà cái run đó không phải cái run của cái người yếu.

Cái áo rộng. Cái vai nó tuột.

「Cái áo này của cái người có cái lưng rộng,」tôi nói.

「Cái lưng bà nội mày không rộng,」má nói. 「Mà bà đứng thì cái lưng nó rộng ra.」

Cha đứng ở cái cửa. Cái quần lụa đen, cái áo the, cái khăn đóng. Cái khăn đó cha chỉ đội cái ngày cúng giỗ.

Cha nhìn tôi một cái.

「Đi,」cha nói.

Ra tới cái cổng thì cha nói thêm.

「Cái cuốc tao để ở cái góc sân đình.」

Tôi không hỏi. Cái cuốc đó là cái cuốc cha mang cái ngày mồng mười. Cái làng đã thấy nó.

Tới cái đầu cái ao thì tôi rẽ. Cha không hỏi. Cha đi theo.

Nhà Mẫn mở cửa. Mẫn đứng trong cái cửa, cái áo nâu mới, cái nếp gấp còn. Cái ống tay áo bên trái vẫn may lại.

Mẫn nhìn cái áo the của tôi. Rồi nhìn cái khăn đóng của cha.

「Cái nhà này không có cái áo the,」Mẫn nói.

「Cái áo không phải cái chuyện,」cha nói.

「Dạ. Cái áo không phải cái chuyện. Mà cái áo thì cái làng nó coi trước cái chuyện.」

Mẫn bước ra cái sân. Cái chân Mẫn đi cái kiểu người ta đi trên cái đất không phải cái đất của mình.

Cái đường từ cái ao lên cái đình là cái đường đê. Cái nắng đã lên tới cái đầu cái lũy tre.

Đi được nửa cái đường thì Mẫn nói.

「Cái đường này tao đi mười lăm năm. Mà cái đình thì tao không vô.」

「Sao?」

「Vì tao không có cái cớ,」Mẫn nói. 「Cái đình thì nó không cấm cái người không có cái tay. Nó cấm cái người không có cái cớ.」

Cái sân đình đã đông. Cái sân đó không có cái gì che, cho nên cái nắng đổ xuống cái gạch.

Đàn bà đứng từ cái bậc đá thứ hai trở ra. Trẻ con đứng ở cái gốc cây gạo.

Cái cửa đình mở. Trong đó tối. Tôi thấy cái chiếu, ba cái ghế, cái bàn của ông Hương bộ, và cái sổ.

Bà Cả đứng ở cái chiếu.

Cái áo màu mỡ gà, cái quần lụa, cái khăn nhiễu quấn cao, cho nên cái cổ bà nó thẳng. Mà cái thẳng đó không phải cái thẳng của cái người đứng.

Lý trưởng Bùi ngồi ở cái ghế giữa. Ông ta cầm cái quạt, mà không quạt.

Ông Từ đứng ở cái cột thứ ba, cái tay để sau cái lưng. Ông ấy không ngồi, vì cái ghế là cái ghế của cái làng, mà ông ấy thì ông ấy giữ cái đình.

Lý trưởng Bùi nói.

「Cái làng. Cái ngày mồng mười, cái làng có cái lệ. Cái lệ của cái làng, không phải cái lệ của cái huyện. Hôm nay cái làng coi cái lệ đó nó chạy.」

Ông ta ngẩng lên.

「Bà Cả.」

Bà Cả đứng thẳng.

「Cái câu,」lý trưởng nói.

Bà Cả nói.

「Tôi đào cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm.」

Cái giọng bà nhỏ. Cái sân im, cho nên nó vẫn nghe được. Mà cái nghe đó không đủ.

Cái sân không có cái tiếng nào. Cái im đó là cái im của cái người ta đợi.

Ông Từ nói, mà ông ấy nói với cái cột.

「Cái câu đó cái làng nghe không rõ.」

Lý trưởng Bùi nhìn ông Từ. Rồi ông ta nói.

「Bà Cả. Cái câu đó cái làng nghe không rõ.」

Bà Cả nuốt. Cái cổ bà động một cái. Rồi bà nói lại, cái lần này lớn.

「Tôi đào cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm.」

Cái sân im thêm một cái lúc. Rồi có cái tiếng ở cái đám đàn bà: một cái tiếng 「à」, cái tiếng của cái người ta thở ra.

Rồi bà Cả nói thêm.

「Vì cái đất đó là cái đất của cái nhà tôi.」

Ông Từ nói, vẫn với cái cột.

「Cái câu đó không có cái đuôi.」

Lý trưởng Bùi gõ cái quạt lên cái ghế.

「Cái câu thì nó có cái dấu chấm. Cái đuôi thì nó là cái chuyện khác. Cái làng ghi cái câu. Cái đuôi thì cái làng không ghi.」

Ông Hương bộ cầm cái bút. Cái lông nó cọ trên cái giấy, mà cái sân im cho nên tôi nghe cái tiếng đó.

Rồi lý trưởng nói.

「Cái chuyện thứ hai. Cái sổ đinh.」

Ông Hương bộ lật cái sổ.

「Cái thửa bảy, ba mẫu, ở cái gò. Cái sổ đinh còn ba cái tên: Lư Văn Hợp, đã mất. Lư Văn Đại. Lư Văn Mẫn. Sang cái tên thì cần ba cái chữ ký, hoặc ba cái dấu điểm chỉ.」

Ông ấy đặt cái tay lên một cái tờ giấy.

「Cái giấy khai cái phần của Lư Văn Mẫn thì nó có cái dấu. Cái dấu đó cái bà Cả mang tới cái hôm trước.」

Bà Cả nói.

「Cái thằng Mẫn nó đã ký.」

「Cái giấy thì nó có cái dấu,」ông Hương bộ nói. 「Mà cái dấu thì nó lăn bằng cái tay trái.」

Cái sân im.

「Thì nó lăn bằng cái tay nó,」bà Cả nói.

Ông Hương bộ cầm cái tờ giấy lên, xoay nó về phía cái sân. Cái giấy nhỏ, cho nên cái sân không thấy cái dấu. Mà cái sân nghe cái chuyện.

「Cái dấu này thì cái ngón cái nó nằm ở cái phía mặt của cái tờ giấy. Cái tay mặt thì cái ngón cái nó nằm ở cái phía trái.」

Cái sân im. Rồi cái im đó đổi. Nó thành cái tiếng người ta nói nhỏ với cái người đứng cạnh.

Tôi bước lên một cái bước. Tôi đứng ở cái bậc đá thứ hai, mà tôi không bước lên nó.

Tôi nói, cái giọng tôi phải lớn.

「Cái làng. Cái người mang cái tên đó thì nó đứng ở cái sân này.」

Cái sân quay lại.

Mẫn đứng ở cái mép sân, cạnh cái gốc cây gạo. Cái nắng chiếu lên cái vai trái của Mẫn, cái vai không có cái tay.

Mẫn đi vô cái sân. Cái bước chậm, mà không ngừng.

Mẫn đứng trước cái bậc đá thứ nhất.

「Cái dấu đó không phải cái tay tôi.」

Cái sân không có cái tiếng.

Mẫn đưa cái ống tay áo bên trái ra. Cái ống dúm, cái đường may vụng, cái đầu ống dẹp.

「Cái tay trái của tôi thì nó ở trong cái máy xay của cái nhà bà Cả. Cái năm tôi mười tuổi. Cái làng này có cái người coi cái chuyện đó.」

Cái sân có cái tiếng. Nó rộ lên, rồi nó tắt.

Bà Cả nói. Cái giọng bà bây giờ khác. Nó không phải cái giọng của cái người đọc cái câu. Nó là cái giọng của cái người cầm cái gậy.

「Cái làng. Cái nhà này ăn cái gạo của tôi mười lăm năm. Cái tháng nào tôi cũng cho hai cái đấu. Cái thằng này nó đứng ở cái sân này nói cái chuyện đó, mà cái gạo đó nó đã ăn rồi.」

Cái sân im.

Tôi nhìn Mẫn. Cái lưng Mẫn không đổi.

「Dạ. Bà cho,」Mẫn nói.

Cái sân im.

「Mà cái gạo đó tôi ăn, tôi đếm. Mười lăm năm, mỗi cái tháng hai cái đấu. Ba trăm sáu mươi cái đấu. Cái đấu của bà thì nó non, cho nên nó là ba trăm hai mươi cái đấu.」

Mẫn đưa cái tay mặt ra.

「Cái tay này thì nó trả cái gạo. Mà cái tay kia thì nó không trả được, vì nó không có.」

Mẫn nhìn bà Cả.

「Bà Cả. Cái tay trái của tôi thì nó ở cái máy xay của bà. Bà lấy một cái tay, mà bà không lấy cái dấu của nó.」

Cái sân im.

Rồi ông Hương bộ nói.

「Cái chuyện cái dấu nó không phải cái chuyện cái ơn. Cái ơn là cái chuyện của cái người ta. Cái dấu là cái chuyện của cái tay. Mà cái tay thì cái làng coi được.」

Ông ấy lấy một cái tờ giấy trắng, đặt lên cái bàn. Ông ấy mở cái hộp son.

「Cái làng coi cái tay,」ông ấy nói.

Mẫn bước lên cái bậc thứ nhất. Mẫn nhìn cái hộp son một cái lúc. Rồi Mẫn đưa cái tay mặt ra, ấn cái ngón cái xuống cái son, rồi ấn nó xuống cái giấy.

Cái dấu đó đỏ, nó tròn, nó có cái vân.

Ông Hương bộ cầm cái giấy lên, đặt nó cạnh cái giấy khai. Ông ấy coi một cái lâu.

「Hai cái dấu. Cái dấu này thì cái ngón cái nó ngả về cái phía trái. Cái dấu kia thì nó ngả về cái phía mặt. Cái này là cái tay mặt. Cái kia là cái tay trái.」

Ông ấy đặt cái bút xuống.

「Cái giấy khai này không phải cái tay của cái người mang cái tên. Cho nên cái giấy này không có cái giá.」

「Cái thằng đó nó ký cái giấy đó cái năm nó mười lăm,」bà Cả nói.

「Thì cái giấy đó cũng không có cái giá,」ông Hương bộ nói. 「Cái sổ đinh thì nó không coi cái tuổi. Nó coi cái tay.」

Lý trưởng Bùi gõ cái quạt.

「Cái làng ghi. Cái giấy khai cái phần của Lư Văn Mẫn thì nó không có cái giá. Cho nên cái thửa bảy thì nó còn ba cái tên, và nó không sang cái tên được cái mùa này.」

Tôi nói. Cái giọng tôi phải lớn hơn.

「Cái làng. Tôi xin cái làng một cái chuyện.」

Lý trưởng Bùi nhìn tôi. Cái mắt ông ta không dễ.

「Nói.」

「Cái tiểu của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó ở cái chái sau cái nhà bà Cả, dưới cái cối xay. Cái đó cái làng nghe rồi. Cho nên tôi xin cái làng cái ngày: cái tiểu đó phải về cái gò trước cái ngày cái thửa đó sang cái tên.」

Cái sân im.

「Cái tiểu thì nó là cái chuyện của cái nhà tôi,」bà Cả nói.

Ông Từ nói, mà cái lần này ông ấy nhìn cái sân, không nhìn cái cột.

「Cái mộ thì nó không phải cái chuyện của cái nhà. Cái mộ là cái chuyện của cái làng. Vì cái làng thì nó ở cái chỗ đó, mà cái mộ cũng ở cái chỗ đó. Cái người ta ở với cái người nằm thì phải có cái lệ.」

Lý trưởng Bùi im một cái lúc.

「Ba cái ngày. Cái tiểu thì nó phải về cái gò trong ba cái ngày. Cái lễ thì cái nhà bà Cả làm. Mà cái lễ đó thì nó có cái người coi: ông Từ coi cái đình, ông Hương bộ coi cái sổ.」

Bà Cả nhìn lý trưởng. Cái mắt bà đó tôi không đọc được.

「Dạ,」bà nói.

Ông Hương bộ viết. Cái bút nó chạy.

Cái làng tan. Cái sân đình rộng ra, vì cái người ta đi.

Cha đi tới cái góc sân, cầm cái cuốc lên, quàng nó lên vai.

Mẫn đứng ở cái bậc đá thứ nhất. Mẫn nhìn cái sân trống.

「Tao nói rồi,」Mẫn nói.

「Dạ.」

「Cái mâm thì cái nhà mày lo. Tao không biết cái mâm. Mà cái ghế đầu thì tao biết.」

Mẫn đi. Cái bước vẫn chậm.

Tôi đứng ở cái bậc thứ hai. Cái áo the trên vai tôi ướt, vì cái nắng.

Rồi bà Cả đi qua tôi. Bà đi cái kiểu người ta đi qua cái đồ ở cái chợ.

Bà không dừng. Bà nói, cái giọng vừa đủ cho tôi nghe.

「Mày thắng cái giấy. Mày không thắng cái mùa gặt.」

Bà đi. Cái khăn nhiễu của bà vàng dưới cái nắng.

Tôi đứng im. Tôi nghĩ tới cái câu ông Từ nói cái hôm mồng mười: bà Cả không cần cái thửa bảy, bà cần cái mùa gặt của cái nhà tôi.

Tôi nhìn cái sân.

Thằng Tám đứng ở cái góc sân. Cái người ta đã đi hết, mà nó không đi. Cái áo tơi của nó vắt trên cái vai, cái chỗ vai trái đã vá, cái chỉ trắng.

Nó nhìn tôi. Rồi nó gật một cái.

Rồi nó đi.

Cha đứng ở cái cổng đình, cái cuốc trên vai.

「Cái chuyện cái tiểu,」cha nói. 「Ba cái ngày.」

「Dạ.」

「Mà cái chuyện cái mùa gặt thì nó không có ba cái ngày.」

「Dạ. Con biết.」

Cha nhìn cái đường.

「Bây giờ mày đi đâu?」

Tôi nhìn cái nắng. Nó đứng bóng, cho nên nó là cái giờ trưa.

「Con đi cái chợ trên. Cái chiều nay.」

Cha không hỏi. Cha quàng cái cuốc, cha đi về.

Tôi đứng ở cái sân đình một cái lúc. Cái chiếu vẫn trải trong cái đình.

Cái dấu son vừa rồi thì nó ở trong cái sổ của cái làng. Mà cái làng thì nó không giữ cái sổ ở cái đình. Nó giữ ở cái nhà ông Hương bộ.

Rồi tôi nghĩ: cái dấu của Mẫn là cái dấu thật. Mà cái dấu thật chỉ có cái giá khi cái làng coi nó.

Cái giấy cọc có hai cái dấu. Một cái của bà Cả. Một cái của thằng Tám.

Mà cái dấu của thằng Tám thì nó là cái tay trái.

Cho nên cái chuyện chiều nay không phải cái chuyện cái khăn. Nó là cái chuyện cái dấu thứ hai.

Tôi đi ra cái đường cái. Cái áo the nóng, mà tôi không cởi.

Bà nội tôi mặc cái áo này một cái lần, cái ngày bà đi cái đám cưới của má. Mà cái đám cưới đó là cái chỗ cái dòng thứ tư nó bắt đầu.

Cái tờ giấy đó cái ông Hương bộ viết. Cái ông đó viết cái chữ tốt. Mà cái ông đó cũng là cái người đếm cái dấu.

Tôi nghĩ: cái ông đó viết cái chữ, ông ấy không viết cái chuyện.

Cái chợ trên thì nó ở cái đầu cái cầu tre. Cái cầu đó dài, cái mặt nó hẹp, cho nên cái người đi phải đi một cái hàng.

Trên cái cầu, tôi gặp cô Sáu. Cô ấy gánh hai cái thúng, cái thúng đậy cái lá.

Cô ấy dừng lại. Cô ấy nhìn cái áo tôi.

「Cái áo đó,」cô Sáu nói.

「Dạ. Của bà nội con.」

Cô Sáu gật. Rồi cô ấy đổi cái vai gánh.

「Cái sáng nay cái làng nói cái chuyện cái thằng Mẫn.」

「Dạ.」

「Nó nói cái chuyện nó đếm. Ba trăm hai mươi cái đấu.」

Cô ấy nhìn tôi.

「Cái làng này nó không nhớ cái ơn. Nó nhớ cái số.」

Cô Sáu đi trước. Cái đòn gánh của cô ấy kêu.

Tôi đi sau. Cái làng nhớ cái số.

Vậy thì cái chiều nay, ở cái chợ trên, tôi không cần nói cái ơn. Tôi cần nói cái số. Cái số thứ nhất: hai trăm đồng tiền cọc. Cái số thứ hai: hai cái dấu. Cái số thứ ba: cái dấu thứ hai nó là cái tay trái.

Tôi bước lên cái đầu cầu. Cái cầu tre kêu dưới cái chân tôi.

Cái chợ trên ở cái đầu kia, cái mái ngói đỏ, cái sân gạch. Cái chợ đó không biết cái chuyện cái sáng nay.

Mà cái chiều nay thì nó sẽ biết.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay Chương 78: Cái nhà cái cổng mở Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò Chương 73: Cái đường gạch Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối Chương 68: Cái học trò của cái lò Chương 67: Cái vụ cái xuân Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông Chương 64: Cái trầu qua cái sông Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu Chương 62: Cái giếng của cái làng Chương 61: Cái sông dạy cái bơi Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai Chương 59: Cái nhà cái cổng kín Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia Chương 57: Cái nét đầu tiên Chương 56: Cái đá đi Chương 55: Cái tay đục Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện Chương 53: Cái tai của cái chợ Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân Chương 49: Cái bún tôm Chương 48: Cái mốc đá Chương 47: Cái ba cái tên Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới Chương 45: Cái ngày thứ tám Chương 44: Cái bờ cái rừng Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ Chương 34: Cái bàn tay có cái chai Chương 33: Cái hòn đá ong Chương 32: Cái mái đình Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả Chương 29: Cái khuôn ngói Chương 28: Cái người đi cái xe đạp Chương 27: Cái lò bầu Chương 26: Cái khuôn gỗ Chương 25: Ba mươi hai đồng Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng Chương 20: Cái bến đò Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải Chương 17: Cái dấu của cái tay trái Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay Chương 15: Cái thằng Mẫn Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng Chương 13: Cái phiên đắp bờ Chương 12: Cái đập bổi Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ Chương 5: Cái chợ phiên Chương 4: Cái mộ không bia Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm