Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Cái đò của cái ông xóm trên là cái đò gỗ, cái mũi cao, cái khoang có cái chiếu rách. Cái ông đó chèo cái kiểu người ta chèo đã bốn chục năm: cái lưng nó đưa, cái chèo nó không kêu.
Đỗ Liêm ngồi ở cái mũi đò. Tôi ngồi ở cái khoang.
Cái đò ra tới cái giữa cái sông thì cái ông đó nói.
「Tới đây thì cái nước nó cạn. Cái đò không qua được.」
「Dạ,」Liêm nói.
「Cái bờ bên kia thì nó có cái bùn. Cái bùn đó nó tới cái đầu gối. Mà cái chỗ cái đò đậu thì nó sâu hơn.」
Cái ông đó chỉ cái cọc tre ở bờ bên kia.
「Cái chỗ đó thì nó có cái rễ tre. Cái rễ đó nó chắc. Các người bám cái rễ đó mà lên.」
Liêm đứng dậy, cái quần nó xắn tới cái đầu gối. Rồi nó bước xuống cái nước.
Cái nước tới cái đùi nó.
「Xuống đi,」Liêm nói.
Tôi xắn cái quần, tôi bước xuống. Cái nước ấm, cái bùn ở dưới cái chân tôi nó mềm, nó hút.
Cái bước đầu thì cái bùn tới cái mắt cá. Cái bước thứ ba thì nó tới cái đầu gối.
Cái váy tôi ướt. Cái bánh trong cái túi áo, tôi đưa nó lên cao.
Cái bờ bên kia có cái rễ tre. Cái rễ đó nó đen, nó trơn.
Liêm bám cái rễ, nó kéo cái thân nó lên. Rồi nó đưa cái tay ra.
Tôi bám cái rễ, tôi đưa cái tay kia ra. Liêm nắm cái cổ tay tôi, nó kéo.
Cái chân tôi ra khỏi cái bùn, cái tiếng nó kêu một cái.
Tôi đứng trên cái bờ. Cái bùn nó bám cái ống chân tôi.
Cái làng Cầu Đôi ở trước. Cái lũy tre, cái đường gạch, cái mái đình. Cái chợ ở cái đầu cái đường, cái chợ đó bây giờ không họp, cái sạp nó trống.
Cái nhà của cái ông chở đò ở cái mép cái bến. Cái nhà tranh, cái sân hẹp, cái đò lật úp trên cái cọc.
Cái ông đó đang vá cái đò. Cái ông đó ngồi xổm, cái tay cầm cái đục, cái búa gõ cái tiếng đều.
Cái lưng ông ấy rộng. Cái tóc ông ấy bạc, mà cái bạc đó nó không trắng, nó vàng.
Liêm đứng ở cái đầu cái sân. Liêm không đi vô.
Cái búa gõ thêm ba cái. Rồi cái búa dừng.
Ông Thìn ngẩng lên.
Cái mặt ông ấy không đổi. Cái mặt đó nó như cái mặt cái người đang coi cái nước lên.
Rồi ông ấy đứng dậy. Cái đầu gối kêu một cái tiếng.
「Cái thằng này,」ông ấy nói.
「Dạ,」Liêm nói.
「Mày lớn.」
「Dạ.」
「Cái lần cuối tao coi cái mặt mày thì mày tới cái đây.」
「Dạ. Con tới cái đây cái năm con lên mười.」
Ông Thìn nhìn cái sân. Cái sân đó có cái chổi, cái sọt, cái nồi đất.
「Cái năm mày lên mười thì cái má mày chết cái bảy năm rồi.」
「Dạ.」
Cái sân im. Cái sông ở sau lưng tôi, cái tiếng nó đều.
Tôi bước lên một cái bước. Tôi đặt cái bánh lên cái ghế đá ở cái mép sân.
Ông Thìn nhìn cái bánh. Cái bánh chưng, cái lá vàng, cái lạt buộc hai cái vòng.
「Cái bánh này của ai?」
「Dạ. Của má con.」
「Cái má mày là cái ai?」
「Dạ. Cái má con là cái người ở cái làng dưới. Cái nhà con ở cái đầu cái xóm dưới.」
「Cái nhà đó thì tao không biết.」
「Dạ. Cái nhà con thì nó nghèo. Cho nên cái ông không biết nó là cái phải.」
Ông Thìn nhìn tôi. Cái mắt ông ấy hẹp, cái mắt đó nó giống cái mắt Liêm.
「Cái bánh này thì nó để cái tháng giêng,」ông ấy nói.
「Dạ.」
「Cái má mày để nó tám cái tháng.」
「Dạ.」
Ông ấy ngồi xuống cái ghế đá. Cái ghế đó thấp, cho nên cái đầu gối ông ấy cao.
「Cái người để cái bánh tám cái tháng thì cái người đó để nó cho một cái ngày. Mà cái ngày đó thì cái người đó không nói ra.」
Tôi không nói.
「Cái người đó có nói cái gì với mày không?」
「Dạ. Má con nói cái câu này: con đem cái bánh này cho cái ông đó. Mà con đừng có nói cái chuyện cái đất trước. Con nói cái chuyện cái bánh trước.」
Cái sân im.
Ông Thìn cầm cái bánh lên. Ông ấy gỡ cái lạt, mở cái lá.
Cái bánh bên trong nó khô, cái nếp nó cứng, cái màu nó ngả.
Ông ấy bẻ một cái góc. Cái bánh đó cứng, cái tay ông ấy phải bẻ hai cái lần.
Ông ấy ăn cái góc đó. Ông ấy nhai cái lâu.
Rồi ông ấy nói.
「Cái bánh này thì nó không có cái nhân.」
「Dạ. Cái năm đó cái nhà con không có cái thịt.」
「Tao biết,」ông ấy nói. 「Mà cái bánh không có cái nhân thì nó vẫn là cái bánh.」
Ông ấy đặt cái bánh lên cái ghế. Rồi ông ấy đứng dậy, đi vô cái nhà, lấy ra một cái chai rượu và ba cái nén hương.
「Cái chuyện gì?」ông ấy nói.
Liêm nhìn tôi. Tôi nói.
「Dạ. Cái chuyện cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm.」
Cái tay ông Thìn dừng.
「Cái tên đó thì cái làng này không có cái ai nói mười lăm năm.」
「Dạ. Cái làng dưới cũng không nói. Mà cái đêm cái ngày mồng mười, cái làng dưới nói nó. Cái làng dưới nói nó trước cái mặt ba trăm cái người.」
Ông Thìn đặt cái chai rượu xuống cái ghế.
「Ai nói?」
Liêm nói.
「Dạ. Con nói.」
Cái sân im một cái lâu.
Rồi ông Thìn đi tới cái mặt Liêm. Ông ấy đứng đó, cái đầu ông ấy cao hơn cái đầu Liêm một cái tấc.
「Mày nói cái gì?」
「Dạ. Con nói: cái mộ này là cái mộ của mẹ tôi.」
Ông Thìn đưa cái tay lên. Tôi tưởng ông ấy đánh.
Ông ấy đặt cái tay lên cái vai Liêm. Cái tay đó to, cái tay đó nặng.
「Mười lăm năm,」ông ấy nói. 「Cái câu đó thì cái làng dưới nó phải nói. Mà nó nói cái đêm mồng mười.」
「Dạ.」
「Mà mày nói nó cái lúc cái người ta đào cái mộ.」
「Dạ. Con nói nó cái lúc cái người ta đào cái mộ.」
Ông Thìn bỏ cái tay xuống. Ông ấy đi tới cái mép sân, ông ấy nhìn cái sông.
「Tao đứng ở cái cổng cái nhà đó cái từ cái trưa tới cái tối,」ông ấy nói. 「Cái cổng đó nó không mở. Mà cái người trong cái nhà đó thì nó biết tao đứng đó.」
「Dạ.」
「Tao về. Tao nói cái câu này với cái bà tao: 『cái nhà đó thì nó không mở cái cổng cho cái em gái tao. Mà cái cổng đó thì nó sẽ mở cho cái chuyện khác.』」
Ông ấy quay lại.
「Mà cái chuyện khác đó thì nó là cái chuyện gì?」
Tôi nói.
「Dạ. Nó là cái chuyện cái đất. Cái nhà đó muốn cái đất. Mà cái đất đó thì nó có cái mộ. Cho nên cái nhà đó phải dời cái mộ. Mà dời cái mộ thì cái nhà đó phải có cái người ký.」
Ông Thìn im.
「Cho nên cái cổng đó nó mở,」ông ấy nói. 「Mà nó mở cho cái chuyện cái đất, không phải cho cái em gái tao.」
「Dạ.」
Ông ấy nhìn cái sông.
Rồi ông ấy nói.
「Cái làng dưới bây giờ nó tính cái gì?」
「Dạ. Cái huyện về cái tuần sau. Cái huyện về để đo cái đất. Mà cái đất mà nó đo thì cái mộ nó thành cái chấm trên cái bản vẽ. Mà cái chấm đó thì nó phải có cái tên.」
「Cái tên thì cái làng dưới đã nói rồi.」
「Dạ. Cái làng nói. Mà cái huyện thì nó coi cái giấy, không coi cái làng.」
Ông Thìn gật. Cái gật đó nó chậm.
「Cái giấy khai của cái em gái tao thì nó không có.」
「Dạ. Con biết. Cái làng dưới không khai cái chết đó.」
「Mày biết tại sao không?」
「Dạ. Vì cái người khai cái sổ là cái nhà bà Cả. Mà cái nhà đó thì nó không khai cái người nó muốn quên.」
Ông Thìn nhìn tôi một cái lâu.
「Cái con này,」ông ấy nói, 「mày mười lăm tuổi.」
「Dạ.」
「Mà cái đầu mày nó già hơn cái mặt mày.」
Ông ấy cầm cái chai rượu, cái hương.
「Đi theo tao.」
Cái nhà thờ họ ở cái giữa cái làng Cầu Đôi. Cái nhà ba gian, cái sân gạch, cái cổng có cái mái. Cái cột nó đã mòn, cái chân cột nó kê cái đá.
Trong cái gian giữa có cái bàn thờ, cái bát hương, cái hoành phi. Trên cái bàn thờ có mấy cái hộp gỗ.
Ông Thìn thắp cái hương, cắm nó vô cái bát hương. Rồi ông ấy mở cái hộp gỗ.
Cái hộp đó có cái sổ. Cái giấy đó là cái giấy dó, cái mép nó sờn, cái chữ nó là cái chữ nho.
Ông ấy mở cái sổ ra ở cái bàn thờ.
「Cái họ này thì nó có cái sổ từ cái đời cái ông nội tao. Cái sổ này thì nó ghi cái tên, cái ngày, và cái chỗ cái người đó đi.」
Ông ấy lật. Cái ngón tay ông ấy to, mà cái lật nó nhẹ.
「Đây.」
Tôi nhìn cái trang đó. Cái chữ nho tôi không đọc được.
Ông ấy đọc.
「Nguyễn Thị Năm. Cái con gái thứ ba của cái ông Nguyễn Văn Lợi. Cái ngày sinh thì nó là cái năm Thìn. Cái chỗ đi thì nó là 『cái làng dưới, cái nhà ông Cả』.」
Cái sân im.
「Cái dòng đó thì nó có cái dấu son ở cái lề. Cái dấu đó là cái dấu của cái ông trưởng họ cái đời đó.」
Tôi nhìn cái dấu son. Nó đỏ, mà cái đỏ đó nó đã ngả nâu.
「Dạ. Cái dòng này thì nó đủ để cái huyện coi không?」
「Cái dòng này thì nó nói cái người đó đi đâu. Nó không nói cái người đó chết ở đâu.」
「Dạ. Vậy thì…」
Ông Thìn đóng cái sổ.
「Cái họ này thì nó có cái lệ. Cái người trong cái họ mà chết mà cái làng nó không khai, thì cái họ tộc làm cái lễ cúng cái vong. Rồi cái họ tộc ghi cái chết vô cái sổ. Cái dòng đó thì nó có cái dấu của ba cái người trong cái họ. Mà cái dòng đó thì cái huyện coi được.」
Tôi nhìn cái sổ.
「Dạ. Vậy thì cái lễ đó…」
「Cái lễ đó thì nó phải làm ở cái chỗ cái người đó nằm,」ông ấy nói. 「Không phải ở cái nhà thờ này.」
Cái sân im.
「Cho nên cái lễ đó thì nó phải làm ở cái gò, cái làng dưới. Mà cái lễ đó thì nó phải có cái người đứng cái tên trong cái nhà đó.」
Ông ấy nhìn Liêm.
「Cái người đó là cái con của cái em gái tao. Mà cái con đó, cái mười lăm năm nay, nó không tới cái nhà này một cái lần.」
Liêm không nói.
「Cái năm mày lên mười, mày tới cái đây. Mày đứng ở cái cổng. Mày không vô.」
「Dạ.」
「Mày đứng đó cái một cái lúc rồi mày đi. Mà tao thấy mày.」
Liêm cúi cái đầu.
Cái nhà thờ im. Cái hương cháy, cái khói nó lên thẳng.
Rồi Liêm nói.
「Dạ. Con xin lỗi cái cậu.」
Ông Thìn không nói.
Ông ấy đóng cái hộp, cất nó lên cái bàn thờ.
「Cái lễ đó thì nó có ba cái người trong cái họ. Một cái người là tao. Cái người thứ hai là cái ông ở cái xóm dưới, cái ông đó là cái em tao. Cái người thứ ba thì nó là cái con của cái em gái tao.」
Ông ấy nhìn Liêm.
「Cái dấu của mày thì mày phải lăn nó ở cái gò, trước cái mặt cái làng dưới. Mà mày lăn nó thì mày là cái người của cái họ này. Mày hiểu không?」
「Dạ. Con hiểu.」
Ông ấy đi ra cái sân. Cái guốc ông ấy kêu trên cái gạch.
「Cái ngày thì cái làng dưới nói. Cái đò thì tao chở. Mà cái đò của tao thì nó chở cái người, nó không chở cái chuyện. Cho nên cái chuyện thì mày lo.」
Tôi nói.
「Dạ. Cái chuyện thì con lo.」
Ông Thìn nhìn tôi. Rồi ông ấy nhìn cái bánh trên cái ghế đá.
「Cái bánh này thì tao ăn một cái góc. Cái góc kia thì mày đem về cho cái má mày. Mày nói với cái má mày cái câu này: cái bánh thì nó không có cái nhân, mà nó vẫn là cái bánh. Cái người để nó tám cái tháng thì cái người đó biết cái chuyện đó lâu rồi.」
Tôi cầm cái bánh. Cái lá chuối rách, cái nếp khô.
Cái chiều xuống. Cái sông bên kia nó vàng.
Ông Thìn đứng ở cái mép sân, cái tay chống cái hông.
「Cái đò thì cái sáng mai. Cái sáng mai cái nước nó lên. Mà cái nước lên thì cái đò qua được cái bờ bên kia.」
「Dạ.」
「Mà cái sáng mai thì tao qua cái sông này lần đầu. Cái mười lăm năm.」
Ông ấy nhìn cái bờ bên kia, cái bờ có cái lũy tre của cái làng tôi.
「Cái làng đó thì nó có cái đình. Mà cái đình đó thì nó có cái sân. Mà cái sân đó thì nó là cái chỗ cái em gái tao không được vô.」
Liêm nói.
「Dạ. Cái sân đình thì cái đàn bà đứng ở cái bậc thứ hai. Mà cái ngày cái lễ thì con xin cái làng cho cái cậu đứng ở cái bậc thứ nhất.」
Ông Thìn nhìn Liêm một cái lâu.
「Mày xin cái làng?」
「Dạ. Con xin.」
「Mày là cái ai mà mày xin cái làng?」
Liêm im.
Rồi Liêm nói.
「Dạ. Con là cái thằng có cái tên trong cái sổ đinh. Con là cái thằng mà cái làng nó vừa coi cái tay. Con là cái thằng mà cái làng nó nói cái dấu của con là cái dấu giả. Cho nên cái làng nó nợ con một cái chuyện.」
Cái sân im.
Ông Thìn cười. Cái lần này cái cười có cái tiếng, và cái tiếng đó nó dài.
「Cái thằng này,」ông ấy nói. 「Mày giống cái má mày.」
Rồi ông ấy đi vô cái nhà, cầm cái chai rượu ra, rót vô ba cái chén.
「Uống cái chén này. Rồi cái sáng mai đi cái đò.」
Cái đò của cái ông xóm trên là cái đò gỗ, cái mũi cao, cái khoang có cái chiếu rách. Cái ông đó chèo cái kiểu người ta chèo đã bốn chục năm: cái lưng nó đưa, cái chèo nó không kêu.
Đỗ Liêm ngồi ở cái mũi đò. Tôi ngồi ở cái khoang.
Cái đò ra tới cái giữa cái sông thì cái ông đó nói.
「Tới đây thì cái nước nó cạn. Cái đò không qua được.」
「Dạ,」Liêm nói.
「Cái bờ bên kia thì nó có cái bùn. Cái bùn đó nó tới cái đầu gối. Mà cái chỗ cái đò đậu thì nó sâu hơn.」
Cái ông đó chỉ cái cọc tre ở bờ bên kia.
「Cái chỗ đó thì nó có cái rễ tre. Cái rễ đó nó chắc. Các người bám cái rễ đó mà lên.」
Liêm đứng dậy, cái quần nó xắn tới cái đầu gối. Rồi nó bước xuống cái nước.
Cái nước tới cái đùi nó.
「Xuống đi,」Liêm nói.
Tôi xắn cái quần, tôi bước xuống. Cái nước ấm, cái bùn ở dưới cái chân tôi nó mềm, nó hút.
Cái bước đầu thì cái bùn tới cái mắt cá. Cái bước thứ ba thì nó tới cái đầu gối.
Cái váy tôi ướt. Cái bánh trong cái túi áo, tôi đưa nó lên cao.
Cái bờ bên kia có cái rễ tre. Cái rễ đó nó đen, nó trơn.
Liêm bám cái rễ, nó kéo cái thân nó lên. Rồi nó đưa cái tay ra.
Tôi bám cái rễ, tôi đưa cái tay kia ra. Liêm nắm cái cổ tay tôi, nó kéo.
Cái chân tôi ra khỏi cái bùn, cái tiếng nó kêu một cái.
Tôi đứng trên cái bờ. Cái bùn nó bám cái ống chân tôi.
Cái làng Cầu Đôi ở trước. Cái lũy tre, cái đường gạch, cái mái đình. Cái chợ ở cái đầu cái đường, cái chợ đó bây giờ không họp, cái sạp nó trống.
Cái nhà của cái ông chở đò ở cái mép cái bến. Cái nhà tranh, cái sân hẹp, cái đò lật úp trên cái cọc.
Cái ông đó đang vá cái đò. Cái ông đó ngồi xổm, cái tay cầm cái đục, cái búa gõ cái tiếng đều.
Cái lưng ông ấy rộng. Cái tóc ông ấy bạc, mà cái bạc đó nó không trắng, nó vàng.
Liêm đứng ở cái đầu cái sân. Liêm không đi vô.
Cái búa gõ thêm ba cái. Rồi cái búa dừng.
Ông Thìn ngẩng lên.
Cái mặt ông ấy không đổi. Cái mặt đó nó như cái mặt cái người đang coi cái nước lên.
Rồi ông ấy đứng dậy. Cái đầu gối kêu một cái tiếng.
「Cái thằng này,」ông ấy nói.
「Dạ,」Liêm nói.
「Mày lớn.」
「Dạ.」
「Cái lần cuối tao coi cái mặt mày thì mày tới cái đây.」
「Dạ. Con tới cái đây cái năm con lên mười.」
Ông Thìn nhìn cái sân. Cái sân đó có cái chổi, cái sọt, cái nồi đất.
「Cái năm mày lên mười thì cái má mày chết cái bảy năm rồi.」
「Dạ.」
Cái sân im. Cái sông ở sau lưng tôi, cái tiếng nó đều.
Tôi bước lên một cái bước. Tôi đặt cái bánh lên cái ghế đá ở cái mép sân.
Ông Thìn nhìn cái bánh. Cái bánh chưng, cái lá vàng, cái lạt buộc hai cái vòng.
「Cái bánh này của ai?」
「Dạ. Của má con.」
「Cái má mày là cái ai?」
「Dạ. Cái má con là cái người ở cái làng dưới. Cái nhà con ở cái đầu cái xóm dưới.」
「Cái nhà đó thì tao không biết.」
「Dạ. Cái nhà con thì nó nghèo. Cho nên cái ông không biết nó là cái phải.」
Ông Thìn nhìn tôi. Cái mắt ông ấy hẹp, cái mắt đó nó giống cái mắt Liêm.
「Cái bánh này thì nó để cái tháng giêng,」ông ấy nói.
「Dạ.」
「Cái má mày để nó tám cái tháng.」
「Dạ.」
Ông ấy ngồi xuống cái ghế đá. Cái ghế đó thấp, cho nên cái đầu gối ông ấy cao.
「Cái người để cái bánh tám cái tháng thì cái người đó để nó cho một cái ngày. Mà cái ngày đó thì cái người đó không nói ra.」
Tôi không nói.
「Cái người đó có nói cái gì với mày không?」
「Dạ. Má con nói cái câu này: con đem cái bánh này cho cái ông đó. Mà con đừng có nói cái chuyện cái đất trước. Con nói cái chuyện cái bánh trước.」
Cái sân im.
Ông Thìn cầm cái bánh lên. Ông ấy gỡ cái lạt, mở cái lá.
Cái bánh bên trong nó khô, cái nếp nó cứng, cái màu nó ngả.
Ông ấy bẻ một cái góc. Cái bánh đó cứng, cái tay ông ấy phải bẻ hai cái lần.
Ông ấy ăn cái góc đó. Ông ấy nhai cái lâu.
Rồi ông ấy nói.
「Cái bánh này thì nó không có cái nhân.」
「Dạ. Cái năm đó cái nhà con không có cái thịt.」
「Tao biết,」ông ấy nói. 「Mà cái bánh không có cái nhân thì nó vẫn là cái bánh.」
Ông ấy đặt cái bánh lên cái ghế. Rồi ông ấy đứng dậy, đi vô cái nhà, lấy ra một cái chai rượu và ba cái nén hương.
「Cái chuyện gì?」ông ấy nói.
Liêm nhìn tôi. Tôi nói.
「Dạ. Cái chuyện cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm.」
Cái tay ông Thìn dừng.
「Cái tên đó thì cái làng này không có cái ai nói mười lăm năm.」
「Dạ. Cái làng dưới cũng không nói. Mà cái đêm cái ngày mồng mười, cái làng dưới nói nó. Cái làng dưới nói nó trước cái mặt ba trăm cái người.」
Ông Thìn đặt cái chai rượu xuống cái ghế.
「Ai nói?」
Liêm nói.
「Dạ. Con nói.」
Cái sân im một cái lâu.
Rồi ông Thìn đi tới cái mặt Liêm. Ông ấy đứng đó, cái đầu ông ấy cao hơn cái đầu Liêm một cái tấc.
「Mày nói cái gì?」
「Dạ. Con nói: cái mộ này là cái mộ của mẹ tôi.」
Ông Thìn đưa cái tay lên. Tôi tưởng ông ấy đánh.
Ông ấy đặt cái tay lên cái vai Liêm. Cái tay đó to, cái tay đó nặng.
「Mười lăm năm,」ông ấy nói. 「Cái câu đó thì cái làng dưới nó phải nói. Mà nó nói cái đêm mồng mười.」
「Dạ.」
「Mà mày nói nó cái lúc cái người ta đào cái mộ.」
「Dạ. Con nói nó cái lúc cái người ta đào cái mộ.」
Ông Thìn bỏ cái tay xuống. Ông ấy đi tới cái mép sân, ông ấy nhìn cái sông.
「Tao đứng ở cái cổng cái nhà đó cái từ cái trưa tới cái tối,」ông ấy nói. 「Cái cổng đó nó không mở. Mà cái người trong cái nhà đó thì nó biết tao đứng đó.」
「Dạ.」
「Tao về. Tao nói cái câu này với cái bà tao: 『cái nhà đó thì nó không mở cái cổng cho cái em gái tao. Mà cái cổng đó thì nó sẽ mở cho cái chuyện khác.』」
Ông ấy quay lại.
「Mà cái chuyện khác đó thì nó là cái chuyện gì?」
Tôi nói.
「Dạ. Nó là cái chuyện cái đất. Cái nhà đó muốn cái đất. Mà cái đất đó thì nó có cái mộ. Cho nên cái nhà đó phải dời cái mộ. Mà dời cái mộ thì cái nhà đó phải có cái người ký.」
Ông Thìn im.
「Cho nên cái cổng đó nó mở,」ông ấy nói. 「Mà nó mở cho cái chuyện cái đất, không phải cho cái em gái tao.」
「Dạ.」
Ông ấy nhìn cái sông.
Rồi ông ấy nói.
「Cái làng dưới bây giờ nó tính cái gì?」
「Dạ. Cái huyện về cái tuần sau. Cái huyện về để đo cái đất. Mà cái đất mà nó đo thì cái mộ nó thành cái chấm trên cái bản vẽ. Mà cái chấm đó thì nó phải có cái tên.」
「Cái tên thì cái làng dưới đã nói rồi.」
「Dạ. Cái làng nói. Mà cái huyện thì nó coi cái giấy, không coi cái làng.」
Ông Thìn gật. Cái gật đó nó chậm.
「Cái giấy khai của cái em gái tao thì nó không có.」
「Dạ. Con biết. Cái làng dưới không khai cái chết đó.」
「Mày biết tại sao không?」
「Dạ. Vì cái người khai cái sổ là cái nhà bà Cả. Mà cái nhà đó thì nó không khai cái người nó muốn quên.」
Ông Thìn nhìn tôi một cái lâu.
「Cái con này,」ông ấy nói, 「mày mười lăm tuổi.」
「Dạ.」
「Mà cái đầu mày nó già hơn cái mặt mày.」
Ông ấy cầm cái chai rượu, cái hương.
「Đi theo tao.」
Cái nhà thờ họ ở cái giữa cái làng Cầu Đôi. Cái nhà ba gian, cái sân gạch, cái cổng có cái mái. Cái cột nó đã mòn, cái chân cột nó kê cái đá.
Trong cái gian giữa có cái bàn thờ, cái bát hương, cái hoành phi. Trên cái bàn thờ có mấy cái hộp gỗ.
Ông Thìn thắp cái hương, cắm nó vô cái bát hương. Rồi ông ấy mở cái hộp gỗ.
Cái hộp đó có cái sổ. Cái giấy đó là cái giấy dó, cái mép nó sờn, cái chữ nó là cái chữ nho.
Ông ấy mở cái sổ ra ở cái bàn thờ.
「Cái họ này thì nó có cái sổ từ cái đời cái ông nội tao. Cái sổ này thì nó ghi cái tên, cái ngày, và cái chỗ cái người đó đi.」
Ông ấy lật. Cái ngón tay ông ấy to, mà cái lật nó nhẹ.
「Đây.」
Tôi nhìn cái trang đó. Cái chữ nho tôi không đọc được.
Ông ấy đọc.
「Nguyễn Thị Năm. Cái con gái thứ ba của cái ông Nguyễn Văn Lợi. Cái ngày sinh thì nó là cái năm Thìn. Cái chỗ đi thì nó là 『cái làng dưới, cái nhà ông Cả』.」
Cái sân im.
「Cái dòng đó thì nó có cái dấu son ở cái lề. Cái dấu đó là cái dấu của cái ông trưởng họ cái đời đó.」
Tôi nhìn cái dấu son. Nó đỏ, mà cái đỏ đó nó đã ngả nâu.
「Dạ. Cái dòng này thì nó đủ để cái huyện coi không?」
「Cái dòng này thì nó nói cái người đó đi đâu. Nó không nói cái người đó chết ở đâu.」
「Dạ. Vậy thì…」
Ông Thìn đóng cái sổ.
「Cái họ này thì nó có cái lệ. Cái người trong cái họ mà chết mà cái làng nó không khai, thì cái họ tộc làm cái lễ cúng cái vong. Rồi cái họ tộc ghi cái chết vô cái sổ. Cái dòng đó thì nó có cái dấu của ba cái người trong cái họ. Mà cái dòng đó thì cái huyện coi được.」
Tôi nhìn cái sổ.
「Dạ. Vậy thì cái lễ đó…」
「Cái lễ đó thì nó phải làm ở cái chỗ cái người đó nằm,」ông ấy nói. 「Không phải ở cái nhà thờ này.」
Cái sân im.
「Cho nên cái lễ đó thì nó phải làm ở cái gò, cái làng dưới. Mà cái lễ đó thì nó phải có cái người đứng cái tên trong cái nhà đó.」
Ông ấy nhìn Liêm.
「Cái người đó là cái con của cái em gái tao. Mà cái con đó, cái mười lăm năm nay, nó không tới cái nhà này một cái lần.」
Liêm không nói.
「Cái năm mày lên mười, mày tới cái đây. Mày đứng ở cái cổng. Mày không vô.」
「Dạ.」
「Mày đứng đó cái một cái lúc rồi mày đi. Mà tao thấy mày.」
Liêm cúi cái đầu.
Cái nhà thờ im. Cái hương cháy, cái khói nó lên thẳng.
Rồi Liêm nói.
「Dạ. Con xin lỗi cái cậu.」
Ông Thìn không nói.
Ông ấy đóng cái hộp, cất nó lên cái bàn thờ.
「Cái lễ đó thì nó có ba cái người trong cái họ. Một cái người là tao. Cái người thứ hai là cái ông ở cái xóm dưới, cái ông đó là cái em tao. Cái người thứ ba thì nó là cái con của cái em gái tao.」
Ông ấy nhìn Liêm.
「Cái dấu của mày thì mày phải lăn nó ở cái gò, trước cái mặt cái làng dưới. Mà mày lăn nó thì mày là cái người của cái họ này. Mày hiểu không?」
「Dạ. Con hiểu.」
Ông ấy đi ra cái sân. Cái guốc ông ấy kêu trên cái gạch.
「Cái ngày thì cái làng dưới nói. Cái đò thì tao chở. Mà cái đò của tao thì nó chở cái người, nó không chở cái chuyện. Cho nên cái chuyện thì mày lo.」
Tôi nói.
「Dạ. Cái chuyện thì con lo.」
Ông Thìn nhìn tôi. Rồi ông ấy nhìn cái bánh trên cái ghế đá.
「Cái bánh này thì tao ăn một cái góc. Cái góc kia thì mày đem về cho cái má mày. Mày nói với cái má mày cái câu này: cái bánh thì nó không có cái nhân, mà nó vẫn là cái bánh. Cái người để nó tám cái tháng thì cái người đó biết cái chuyện đó lâu rồi.」
Tôi cầm cái bánh. Cái lá chuối rách, cái nếp khô.
Cái chiều xuống. Cái sông bên kia nó vàng.
Ông Thìn đứng ở cái mép sân, cái tay chống cái hông.
「Cái đò thì cái sáng mai. Cái sáng mai cái nước nó lên. Mà cái nước lên thì cái đò qua được cái bờ bên kia.」
「Dạ.」
「Mà cái sáng mai thì tao qua cái sông này lần đầu. Cái mười lăm năm.」
Ông ấy nhìn cái bờ bên kia, cái bờ có cái lũy tre của cái làng tôi.
「Cái làng đó thì nó có cái đình. Mà cái đình đó thì nó có cái sân. Mà cái sân đó thì nó là cái chỗ cái em gái tao không được vô.」
Liêm nói.
「Dạ. Cái sân đình thì cái đàn bà đứng ở cái bậc thứ hai. Mà cái ngày cái lễ thì con xin cái làng cho cái cậu đứng ở cái bậc thứ nhất.」
Ông Thìn nhìn Liêm một cái lâu.
「Mày xin cái làng?」
「Dạ. Con xin.」
「Mày là cái ai mà mày xin cái làng?」
Liêm im.
Rồi Liêm nói.
「Dạ. Con là cái thằng có cái tên trong cái sổ đinh. Con là cái thằng mà cái làng nó vừa coi cái tay. Con là cái thằng mà cái làng nó nói cái dấu của con là cái dấu giả. Cho nên cái làng nó nợ con một cái chuyện.」
Cái sân im.
Ông Thìn cười. Cái lần này cái cười có cái tiếng, và cái tiếng đó nó dài.
「Cái thằng này,」ông ấy nói. 「Mày giống cái má mày.」
Rồi ông ấy đi vô cái nhà, cầm cái chai rượu ra, rót vô ba cái chén.
「Uống cái chén này. Rồi cái sáng mai đi cái đò.」
Mục lục — 47 chương
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm