← Trang chủ Nông Phu Gia Tiều Kiều Thê

Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre

Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre

Cái sáng đó tôi ra cái cầu tre từ cái lúc cái trời còn tối.

Cái bụi gai ở cái đầu cái dốc. Cái bụi đó cao tới cái vai tôi, cái gai nó cong, cái lá nó dày. Tôi ngồi sau cái bụi đó, cái lưng dựa cái gốc cái cây nhãn.

Tiểu Bảo ngồi ở cái đầu cầu bên kia. Cái thằng đó câu cái cá, cái cần câu nó là cái cành tre.

「Cái xe mà nó tới,」tôi nói, 「thì mày chạy về cái làng. Mày chạy cái đường cái bờ ruộng.」

「Dạ. Rồi con nói cái gì?」

「Mày nói cái câu này: 『cái xe đã qua cái cầu』. Mày nói với cái người ở cái sân đình.」

「Dạ.」

Tiểu Bảo ngồi đó. Cái mũi nó chảy, nó lấy cái tay áo quệt.

「Chị. Cái ông đó có đánh người không?」

「Dạ không.」

「Sao chị biết?」

Tôi nhìn cái cầu. Cái mặt cầu nó hẹp, cái tre nó đã lên nước.

「Vì cái ông đó có cái giày vàng. Cái người đi cái giày vàng thì cái người đó không đánh người ta. Cái người đó tính cái tiền.」

Cái nắng lên. Cái sương ở cái mặt ruộng nó tan.

Cái giờ Thìn thì cái xe tới.

Nó là cái xe đạp. Cái xe đó đen, cái khung nó dày, cái yên sau có cái giá gỗ.

Ông Phán đạp. Ông Ký Phú ngồi ở cái yên sau.

Phía sau, cách một cái quãng, có cái xe bò. Cái xe đó chở cái hòm gỗ, cái hòm đó sơn xanh, cái nắp nó có cái quai.

Cái xe đạp tới cái đầu cầu thì dừng.

Ông Phán xuống trước. Cái giày vàng của ông ấy chạm cái đất, cái bụi nó bám.

Rồi ông Ký Phú xuống. Ông ấy đứng ở cái đầu cầu, ông ấy nhìn cái mặt cầu.

「Cái cầu này thì nó không qua cái xe được.」

「Dạ,」ông Phán nói. 「Phải dắt.」

Ông Ký Phú nhìn cái dốc. Cái dốc đó có cái bùn khô, cái rãnh nước.

「Cái làng này thì nó không sửa cái cầu.」

「Dạ. Cái làng này thì nó nghèo.」

Ông Ký Phú không nói. Ông ấy cầm cái ghi đông, ông ấy dắt cái xe xuống cái dốc.

Cái bánh trước nó trượt một cái. Ông Phán đỡ cái yên sau.

Họ qua cầu. Cái mặt cầu kêu dưới cái bánh xe, cái tiếng nó rời rạc.

Qua tới cái đầu bên này thì ông Ký Phú dừng, ông ấy lấy cái khăn ra, lau cái mặt.

Tôi đứng dậy khỏi cái bụi gai.

「Dạ. Con chào cái ông.」

Ông Ký Phú nhìn tôi. Cái mắt ông ấy nhỏ, cái kính nó trễ.

「Cái con này thì tao biết. Cái con này cái hôm ở cái gò.」

「Dạ.」

「Cái hôm đó thì cái con này nói cái chuyện cái mộ có cái người nhận.」

「Dạ. Mà cái hôm nay thì con có cái giấy.」

Ông ấy nhìn tôi một cái lâu. Rồi ông ấy nhìn cái xe bò ở đằng xa.

「Cái giấy thì tao coi ở cái gò. Cái đất thì tao đo ở cái gò. Cho nên cái con này đi trước, cái con này dắt cái đường.」

Chúng tôi đi lên cái đường đê. Ông Phán dắt cái xe. Ông Ký Phú đi cạnh tôi.

「Cái đất đó thì nó ba mẫu,」ông ấy nói.

「Dạ.」

「Cái thửa bảy thì nó có cái mộ. Cái mộ đó thì nó không có cái bia.」

「Dạ.」

「Cái mộ mà nó không có cái bia thì cái huyện coi nó là cái đất có cái chướng ngại. Mà cái đất có cái chướng ngại thì nó vẫn đo được. Cái chướng ngại thì nó ghi vô cái bản vẽ, rồi cái người mua thì cái người đó tính cái giá.」

Tôi nói.

「Dạ. Cái mộ mà nó có cái tên thì nó không phải cái chướng ngại.」

Ông Ký Phú nhìn tôi.

「Cái mộ có cái tên thì nó là cái mộ. Mà cái mộ thì nó là cái đất của cái người nằm ở đó. Cái đất đó thì nó không đo được, vì nó không phải cái đất của cái người mua.」

Ông ấy dừng lại giữa cái đường.

「Cái con này nói cái câu đó thì nó nặng. Mày biết cái câu đó nó nặng không?」

「Dạ. Con biết.」

「Cái câu đó mà nó đúng thì cái thửa bảy thì nó không bán được. Mà cái thửa bảy mà nó không bán được thì cái làng này nó mất cái chuyện cái đất nung gạch. Cái làng này thì nó có cái đất nung gạch. Mày biết không?」

「Dạ. Con biết.」

「Mày biết mà mày vẫn nói cái câu đó.」

「Dạ. Vì cái đất nung gạch thì nó không phải cái đất của cái người đang ở trên nó.」

Ông Ký Phú nhìn tôi. Cái nhìn đó nó không giống cái nhìn của cái ông quan.

「Cái con này mười lăm tuổi.」

「Dạ.」

「Mà cái câu đó thì nó là cái câu của cái người ba chục tuổi.」

Ông ấy đi tiếp.

Cái gò ở trước. Cái mặt gò nó phẳng, cái cỏ nó vàng, cái hố cái mộ đã được lấp, cái đất trên đó nó còn mới.

Cái hố đó nó không có cái gì. Không có cái bia, không có cái chén, không có cái hương.

Ông Ký Phú đứng ở cái mép cái hố. Ông ấy nhìn nó một cái lâu.

「Cái hố này thì nó mới lấp.」

「Dạ.」

「Cái người ta lấp nó thì cái người ta lấp cái đêm mồng mười. Mà cái người ta đào nó thì cái người ta đào trước cái đêm đó một cái đêm.」

「Dạ.」

Ông ấy quay lại.

「Cái tiểu thì nó ở đâu?」

Cái gò im. Cái gió nó thổi cái cỏ.

Tôi nói.

「Dạ. Cái làng đã phán cái chuyện đó cái ngày mồng mười lăm. Cái làng nói cái tiểu phải về cái gò trong ba cái ngày.」

「Cái ba cái ngày đó thì nó xong cái ngày nào?」

「Dạ. Nó xong cái ngày mười tám.」

Ông Ký Phú nhìn cái hố.

「Hôm nay thì nó là cái ngày hai mươi.」

Cái gò im.

Ông Phán nói. Cái giọng ông ấy nhẹ, cái giọng đó nó không vội.

「Cái ông Ký. Cái chuyện cái tiểu thì nó là cái chuyện của cái làng. Cái chuyện của tôi thì nó là cái đất.」

Ông Ký Phú không nhìn ông Phán.

「Cái ông Phán. Cái đất thì nó có cái mộ. Mà cái mộ thì nó có cái tiểu. Cái tiểu mà nó không ở cái đất đó thì cái đất đó thì nó là cái đất không có cái mộ. Mà cái đất không có cái mộ thì cái giá nó khác. Cái đó thì cái ông tính.」

Ông Phán im.

Tôi nói.

「Dạ. Cái ông Ký. Con có cái giấy.」

Ông ấy quay lại.

「Đưa.」

Tôi lấy trong cái túi áo ra cái gói. Cái gói bằng cái giấy bản, cái lạt buộc hai cái vòng.

Tôi mở nó. Trong đó có một cái tờ giấy, cái tờ đó là cái tờ sao từ cái sổ họ. Ông Thìn viết nó cái đêm qua, cái chữ nho, cái mực còn mới.

Ông Ký Phú cầm cái tờ đó. Ông ấy đưa nó ra xa, rồi ông ấy đưa nó lại gần, vì cái mắt ông ấy.

「Cái chữ này thì cái người viết nó viết cái chữ tốt. Mà cái chữ tốt thì nó không phải cái dấu.」

「Dạ. Cái dấu thì nó ở cái lề.」

Ông ấy nhìn cái lề. Cái dấu son đó đỏ, nó vuông, nó nhỏ.

「Cái dấu này thì nó là cái dấu của cái họ. Nó không phải cái dấu của cái làng Cầu Đôi.」

「Dạ.」

「Cái huyện thì nó coi cái dấu của cái làng. Nó không coi cái dấu của cái họ.」

Cái gò im.

Ông Thìn bước lên một cái bước. Ông ấy đứng cái chân trần trên cái đất cái gò.

「Dạ. Cái ông Ký. Cái sổ họ thì nó ghi cái người. Mà cái người thì nó không phải cái đất. Cho nên cái sổ họ thì nó có cái dấu của cái trưởng họ. Mà cái trưởng họ thì cái ông đó có cái quyền ghi cái chết của cái người trong cái họ. Cái quyền đó thì cái huyện đã cho cái họ, cái năm cái huyện làm cái sổ họ.」

Ông Ký Phú nhìn ông Thìn.

「Cái ông này là cái ai?」

「Dạ. Cái ông này là cái trưởng họ Nguyễn ở cái làng Cầu Đôi. Cái người nằm ở cái hố này là cái em gái của cái ông này.」

Ông Ký Phú nhìn cái tờ giấy. Rồi ông ấy nhìn cái hố.

「Cái quyền đó thì nó có,」ông ấy nói. 「Mà cái quyền đó thì nó ghi cái chết. Nó không ghi cái mộ.」

「Dạ. Cái chết mà nó có cái chỗ thì cái mộ nó ở cái chỗ đó.」

Ông Ký Phú im một cái lúc.

Rồi ông ấy nói.

「Cái lệ thì nó có một cái chỗ: cái họ tộc ghi cái chết, thì cái họ tộc phải làm cái lễ cúng cái vong. Cái lễ đó thì nó phải có cái người coi. Mà cái người coi thì nó là cái làng, không phải cái họ.」

Tôi nói.

「Dạ. Cái làng đã cho cái phép. Cái làng cho cái phép cái lễ này làm ở cái gò, cái lúc cái huyện chưa đo cái đất.」

Ông ấy nhìn tôi.

「Cái làng cho cái phép?」

「Dạ. Cái ông lý trưởng cho cái phép. Mà cái phép đó thì nó có cái điều kiện: cái lễ thì nó làm trước cái mặt cái ông.」

Cái gò im.

Ông Ký Phú đứng một cái lâu. Rồi ông ấy cười. Cái cười đó nó ngắn, nó khô.

「Cái ông lý trưởng này,」ông ấy nói, 「cái ông đó đẩy cái chuyện này lên cái huyện.」

「Dạ.」

「Cái ông đó không muốn cái chuyện này nó ở cái làng. Cho nên cái ông đó đẩy nó lên cái tay tao.」

Ông ấy gấp cái tờ giấy, trả nó cho tôi.

「Cái lễ thì mày làm. Mà cái lễ đó thì nó phải xong trước cái lúc tao đặt cái máy đo xuống cái đất. Mà cái lúc đó thì nó là cái giờ tao nói. Không phải cái giờ mày nói.」

「Dạ.」

「Cho nên cái lễ đó thì mày làm cái bây giờ.」

Cái gò im.

Tôi nhìn cái mặt trời. Nó đứng bóng.

「Dạ. Cái bây giờ thì cái mâm nó ở cái nhà con. Cái mâm đó thì nó phải có cái người bê nó lên cái gò.」

「Cái đó thì cái chuyện của mày. Tao cho mày cái giờ cái nồi cơm chín. Cái giờ đó thì nó là cái nửa cái canh giờ.」

Ông ấy quay đi, đi tới cái xe bò. Ông ấy mở cái hòm, lấy ra cái hộp gỗ, cái dây, cái thước.

Cái hòm đó có cái mùi dầu, cái mùi gỗ mới.

Ông Phán đứng ở cái mép gò. Ông ấy nhìn cái hố. Rồi ông ấy nói, mà ông ấy nói với tôi.

「Cái con này. Cái đất này thì tôi vẫn mua.」

Tôi nhìn ông ấy.

「Mà cái giá thì nó khác,」ông ấy nói. 「Cái đất mà nó có cái mộ có cái tên thì cái giá nó là cái giá của cái đất có cái mộ. Mà cái giá đó thì nó rẻ hơn. Cho nên cái chuyện mày làm cái hôm nay thì nó không phải cái chuyện cái tiền của tôi. Nó là cái chuyện cái tiền của cái bà Cả.」

Cái gò im.

「Cái bà đó bán cái đất mà cái bà đó không có cái đất,」ông ấy nói. 「Cái bà đó bán cái đất của cái nhà mày. Cho nên cái giá mà nó xuống thì cái bà đó chịu, không phải tôi chịu.」

Ông ấy cười. Cái cười đó nó nhẹ.

「Mày hiểu không? Cái chuyện mày làm cái hôm nay thì nó làm cái bà đó mất cái tiền. Mà cái tiền đó thì nó không về cái tay mày. Nó về cái tay tôi, vì cái giá nó xuống thì tôi mua rẻ.」

Tôi đứng im.

Ông ấy nói đúng. Cái mộ có cái tên thì cái đất có cái chủ. Mà cái chủ đó là cái họ Nguyễn, không phải cái nhà tôi.

Còn cái nhà tôi thì nó có ba cái tên trong cái sổ đinh.

Tôi nói.

「Dạ. Cái đất mà nó có cái mộ có cái tên thì nó không bán được.」

「Cái đó thì cái huyện nói,」ông ấy nói. 「Cái tôi nói thì nó là cái giá.」

Ông ấy đi tới cái xe bò. Cái giày vàng của ông ấy in cái dấu trên cái đất cái gò.

Tôi chạy xuống cái dốc.

Cái đường từ cái gò về cái làng thì nó xa. Tôi chạy cái đường bờ ruộng, cái chân tôi ướt.

Cái nắng giữa trưa nó đổ xuống cái lúa. Cái bông lúa nó cúi, cái hạt nó đã cứng.

Tôi chạy qua cái đập bổi. Cái nước nó chảy qua cái rãnh, cái tiếng nó đều.

Tôi nghĩ: cái nửa cái canh giờ.

Cái mâm ở cái nhà. Cái chiếu phải mượn. Cái hương phải mua. Cái rượu phải mua.

Mà cái tiểu thì nó ở cái chái sau cái nhà bà Cả.

Tôi chạy tới cái cổng làng. Cái then gỗ, cái lỗ treo cái khóa.

Cái sân đình có cái người. Ông Từ đứng ở cái cột.

Tôi nói, cái giọng tôi không ra hơi.

「Dạ. Cái xe đã qua cái cầu. Mà cái ông Ký cho cái nửa cái canh giờ.」

Ông Từ nhìn tôi. Cái mặt ông ấy không đổi.

「Cái nửa cái canh giờ thì nó đủ cho cái mâm,」ông ấy nói. 「Nó không đủ cho cái tiểu.」

Tôi nhìn ông ấy.

「Dạ. Con biết.」

「Mày biết thì mày tính cái gì?」

Tôi nghĩ tới cái câu ông Phán vừa nói: cái bà đó bán cái đất mà cái bà đó không có cái đất.

「Dạ. Con tính cái này: cái tiểu mà nó không có ở cái gò thì cái lễ này nó là cái lễ không có cái hồn. Mà cái lễ không có cái hồn thì cái ông Ký ghi cái gì?」

Ông Từ nhìn cái sân.

「Cái ông đó ghi cái chuyện cái lễ nó không có cái tiểu. Mà cái chuyện đó thì nó là cái chuyện cái làng đã phán mà cái làng không làm.」

「Dạ. Vậy thì cái lỗi đó nó ở cái ai?」

Ông Từ im một cái lúc.

Rồi ông ấy nói.

「Cái lỗi đó thì nó ở cái nhà bà Cả. Mà cái nhà bà Cả thì nó ở trong cái làng này. Cho nên cái ông Ký mà ghi cái chuyện đó vô cái biên bản, thì cái làng này nó thành cái làng không giữ cái lệ.」

Ông ấy nhìn tôi.

「Mày muốn cái đó?」

Tôi nghĩ tới cái mùa gặt. Tôi nghĩ tới cái câu bà Cả nói: mày không thắng cái mùa gặt.

「Dạ. Con muốn cái đó. Vì cái làng mà nó không giữ cái lệ, thì cái làng nó phải giữ cái lệ cái lần sau. Mà cái lần sau thì nó là cái lần cái làng coi cái chuyện cái nhà bà Cả.」

Ông Từ gật. Cái gật đó nó chậm.

「Vậy thì mày đi bê cái mâm. Cái chiếu thì tao có. Cái hương thì cái đình có. Mà cái rượu thì mày đi cái nhà bà Hợi.」

Tôi chạy.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay Chương 78: Cái nhà cái cổng mở Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò Chương 73: Cái đường gạch Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối Chương 68: Cái học trò của cái lò Chương 67: Cái vụ cái xuân Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông Chương 64: Cái trầu qua cái sông Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu Chương 62: Cái giếng của cái làng Chương 61: Cái sông dạy cái bơi Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai Chương 59: Cái nhà cái cổng kín Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia Chương 57: Cái nét đầu tiên Chương 56: Cái đá đi Chương 55: Cái tay đục Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện Chương 53: Cái tai của cái chợ Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân Chương 49: Cái bún tôm Chương 48: Cái mốc đá Chương 47: Cái ba cái tên Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới Chương 45: Cái ngày thứ tám Chương 44: Cái bờ cái rừng Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ Chương 34: Cái bàn tay có cái chai Chương 33: Cái hòn đá ong Chương 32: Cái mái đình Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả Chương 29: Cái khuôn ngói Chương 28: Cái người đi cái xe đạp Chương 27: Cái lò bầu Chương 26: Cái khuôn gỗ Chương 25: Ba mươi hai đồng Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng Chương 20: Cái bến đò Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải Chương 17: Cái dấu của cái tay trái Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay Chương 15: Cái thằng Mẫn Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng Chương 13: Cái phiên đắp bờ Chương 12: Cái đập bổi Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ Chương 5: Cái chợ phiên Chương 4: Cái mộ không bia Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm