Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Má đã bê cái mâm ra cái sân. Cái mâm đó có ba cái chén, một cái chai rượu, và cái bánh chưng khô cắt làm bốn.
「Má biết,」má nói. 「Cái sáng nay má nghe cái tiếng cái xe ở cái cầu.」
Cha đã quàng cái đòn gánh. Cái đòn đó có hai cái thúng, một cái thúng đựng cái mâm.
Cô Sáu ở cái cổng. Cô ấy cầm cái chiếu, cái chiếu đó mới, cái màu nó còn vàng.
「Cái chiếu này của cái đình,」cô Sáu nói. 「Ông Từ đưa.」
Chúng tôi đi cái đường bờ ruộng. Cha đi trước, cái gánh không kêu. Má đi sau, cái tay má giữ cái mép cái thúng.
Cái gò ở trước. Trên cái gò có cái người: ông Ký Phú, ông Phán, ông Thìn, và một cái ông nữa mà tôi không biết.
Ông ấy già hơn ông Thìn, cái lưng còng, cái áo nâu, cái tay cầm cái gậy tre.
Đỗ Liêm đứng ở cái mép gò. Cái áo nó trắng, cái khăn nó trắng.
Ông Thìn nói.
「Cái ông này là cái em tao. Nguyễn Văn Thạo.」
Ông Thạo gật cái đầu. Ông ấy không nói.
Ông Ký Phú đứng ở cái mép cái hố. Cái hộp đo đã mở, cái dây đã cuộn ra, cái thước đặt trên cái đất.
「Cái mâm thì đặt ở cái chỗ đó,」ông ấy nói, mà ông ấy chỉ cái chỗ cách cái hố bảy cái bước, cái phía đông.
Cái chỗ đó là cái chỗ cái hòn đá ong.
Cha đặt cái gánh xuống. Má bê cái mâm ra, đặt nó lên cái chiếu.
Cô Sáu trải cái chiếu. Cái chiếu đó rộng, nó trùm cái cỏ.
Má đặt ba cái chén. Cái chén thứ nhất ở cái đầu, cái chén thứ hai ở cái giữa, cái chén thứ ba ở cái cuối.
Rồi má đặt cái chai rượu, cái bánh, và cái gói tóc.
Cái gói đó ông Thìn để lên cái mâm, ở cái chỗ cái chén thứ nhất.
Cái gò im. Cái gió nó thổi cái cỏ, cái tiếng nó khô.
Tôi đứng ở cái mép cái chiếu. Tôi nói.
「Dạ. Cái ông Ký. Cái lễ này thì nó thiếu một cái chuyện.」
Ông Ký Phú nhìn tôi.
「Cái tiểu,」tôi nói. 「Cái tiểu của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó không có ở cái hố này.」
Cái gò im.
Ông Ký Phú nhìn cái hố. Rồi ông ấy nhìn cái đường cái gò.
「Cái tiểu thì nó ở đâu?」
「Dạ. Nó ở cái chái sau cái nhà bà Cả. Dưới cái cối xay.」
Cái gò im một cái lâu.
Rồi có cái tiếng ở cái đường. Cái tiếng cái guốc.
Bà Cả đi lên cái gò. Cái áo màu mỡ gà, cái khăn nhiễu. Cái mặt bà ấy đỏ, cái mồ hôi nó chảy.
Phía sau bà ấy có thằng Tám. Cái áo tơi, cái chỗ vai trái đã vá.
Bà Cả đứng ở cái mép gò.
「Cái ông Ký.」
Ông Ký Phú nhìn bà ấy.
「Cái tiểu thì nó ở cái nhà tôi,」bà ấy nói. 「Mà cái nhà tôi thì nó không mở cái cửa cho cái lễ này. Cái lễ này thì nó là cái chuyện của cái họ Nguyễn. Cái nhà tôi thì nó không phải cái họ Nguyễn.」
Ông Ký Phú nói.
「Cái bà này nói cái câu đó thì cái bà này quên một cái chuyện.」
「Cái chuyện gì?」
「Cái chuyện cái làng đã phán. Cái làng phán cái tiểu về cái gò trong ba cái ngày. Cái ba cái ngày đó thì nó xong cái ngày mười tám. Hôm nay thì nó là cái ngày hai mươi.」
Cái gò im.
Bà Cả nhìn cái hố. Rồi bà ấy nói.
「Cái làng thì nó phán. Mà cái làng thì nó không có cái quyền vô cái nhà tôi.」
Ông Ký Phú cầm cái thước lên. Ông ấy gõ cái thước lên cái đất hai cái.
「Cái bà này. Cái huyện thì nó không coi cái làng. Cái huyện thì nó coi cái sổ. Mà cái sổ thì nó có cái biên bản cái ngày mồng mười lăm. Mà cái biên bản đó thì nó có cái chữ của cái ông Hương bộ, cái dấu của cái làng, và cái câu cái bà nói trước cái mặt ba trăm cái người.」
Ông ấy nhìn bà Cả.
「Cái câu đó thì nó là 『tôi đào cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm』. Mà cái câu đó thì nó có cái dấu chấm. Cái dấu chấm đó thì nó là cái chỗ cái câu nó hết. Mà cái câu nó hết thì cái chuyện nó bắt đầu.」
Cái gò im.
「Cái làng mà nó phán một cái chuyện mà nó không làm được, thì cái làng đó nó mất cái lệ. Mà cái làng mất cái lệ thì cái huyện không coi cái làng. Mà cái huyện không coi cái làng thì cái đơn của cái ông Phán thì nó không có cái giá. Cái đơn đó thì nó là cái đơn xin cái phép đo. Mà cái phép đo thì nó do cái làng khai.」
Ông Phán đứng ở cái mép gò. Ông ấy không nói gì. Mà cái mặt ông ấy đổi.
Bà Cả nhìn ông Phán. Cái mắt bà ấy đi qua cái mặt ông ấy một cái.
Rồi bà ấy nói, cái giọng nó thấp.
「Cái tiểu thì nó ở cái chái sau. Nó ở dưới cái cối xay. Mà cái chìa khóa cái chái thì nó ở cái nhà tôi.」
「Cái chìa khóa thì cái bà mở nó ra,」ông Ký Phú nói. 「Cái đồng hồ của cái huyện thì nó không đợi cái chìa khóa của cái bà.」
Bà Cả đứng im.
Rồi bà ấy quay lại, bà ấy nhìn thằng Tám.
「Mày đi. Mày đi lấy cái tiểu.」
Thằng Tám không động.
「Mày đi,」bà ấy nói.
Tám nhìn tôi. Rồi nó nói, cái giọng nó nhỏ.
「Dạ. Con đi. Mà con đi một mình thì con không bê nó được.」
Ông Đồ ở cái đường. Ông ấy đứng đó từ cái lúc nào. Cái áo nâu, cái tay không.
Ông ấy bước lên cái gò.
「Tôi bê với nó,」ông Đồ nói.
Cái gò im.
Ông Ký Phú nhìn ông Đồ.
「Cái ông này là cái ai?」
「Dạ. Cái ông này là cái người đào cái mộ cái đêm đó,」tôi nói.
Ông Ký Phú nhìn ông Đồ một cái lâu. Rồi ông ấy gật.
「Cái người đào thì cái người đó bê. Cái đó thì nó đúng cái lệ.」
Tám và ông Đồ đi xuống cái dốc. Cái bóng hai cái người đó dài trên cái cỏ.
Cái gò im. Cái nắng giữa trưa nó nóng cái đáy cái hố.
Ông Ký Phú ngồi xuống cái mép gò, ông ấy mở cái sổ con, ông ấy viết.
Cái tiếng cái bút nó nhỏ, mà cái gò im cho nên tôi nghe nó.
Ông Thìn đứng trước cái mâm. Ông ấy thắp cái hương.
Ba cái nén. Ông ấy cắm cái nén thứ nhất ở cái chén thứ nhất, cái nén thứ hai ở cái chén thứ hai, cái nén thứ ba ở cái chén thứ ba.
Rồi ông ấy rót rượu. Cái tay ông ấy chậm.
「Cái hương này thì nó thắp cho cái em gái tao,」ông ấy nói. 「Cái người đó tên là Nguyễn Thị Năm. Cái người đó là cái con gái thứ ba của cái ông Nguyễn Văn Lợi. Cái người đó đi cái làng này cái năm nó mười tám.」
Ông ấy rót cái chén thứ hai.
「Cái người đó đẻ một cái con trai. Cái con đó tên là Đỗ Liêm. Cái con đó bây giờ đứng ở cái gò này.」
Liêm cúi cái đầu.
Ông ấy rót cái chén thứ ba.
「Cái người đó chết cái năm nó hai mươi hai. Cái làng này không khai cái chết đó. Cho nên cái sổ họ không có cái dòng đó. Cho nên ba chục năm, cái người đó nằm ở cái đất này mà không có cái bia, không có cái tên, không có cái ai tới cúng.」
Cái gò im.
「Cái hôm nay thì cái họ Nguyễn ghi cái dòng đó. Cái dòng đó thì nó ghi cái ngày, cái chỗ, và cái mộ. Mà cái dòng đó thì nó có ba cái dấu.」
Ông Thìn lấy trong cái túi áo ra cái sổ họ. Ông ấy mở nó ở cái trang cuối, cái chỗ cái dòng mới viết.
Ông ấy đặt cái sổ lên cái chiếu, cạnh cái mâm.
Ông ấy lấy cái hộp son trong cái túi. Cái hộp đó nhỏ, cái son đó đỏ.
「Cái dấu thứ nhất là của tao. Cái dấu thứ hai là của cái em tao. Cái dấu thứ ba là của cái con của cái em gái tao.」
Ông Thìn ấn cái ngón cái xuống. Ông Thạo ấn. Rồi Liêm quỳ xuống, Liêm ấn.
Cái dấu đó đỏ, nó tròn, nó có cái vân.
Ông Ký Phú đứng dậy. Ông ấy đi tới cái chiếu, ông ấy cầm cái sổ họ lên.
Ông ấy coi cái dòng đó một cái lâu. Rồi ông ấy lấy cái kính ra, lau nó.
「Cái dòng này thì nó đủ,」ông ấy nói. 「Cái dòng này thì nó nói cái người đó chết ở cái làng này, cái chỗ cái gò, cái thửa bảy. Mà cái dòng này thì nó có ba cái dấu của cái họ. Cho nên cái mộ này thì nó có cái tên.」
Cái gò im.
Rồi cái tiếng ở cái dốc. Cái tiếng cái guốc, cái tiếng cái thở.
Tám và ông Đồ bê cái tiểu lên. Cái tiểu sành, cái màu nó nâu, cái bụng nó tròn. Cái đường nứt ở cái vai nó đã mở, cái đất bên trong nó rơi ra một ít.
Họ đặt cái tiểu xuống cạnh cái hố.
Cái gò im.
Má ngồi xuống. Cái tay má chạm cái tiểu.
Rồi má nói, cái giọng nó nhỏ.
「Cái tiểu này thì nó nhẹ.」
Không ai nói.
Má đứng dậy. Má đi tới cái mâm, má rót cái chén thứ nhất, má bưng nó lên, má đưa nó về phía cái tiểu.
「Cái chén này thì nó là cái chén của cái nhà tôi,」má nói. 「Cái nhà tôi thì nó không có cái họ Nguyễn. Mà cái nhà tôi thì nó ở cái làng này ba đời. Cho nên cái chén này thì nó là cái chén của cái làng.」
Má đổ cái rượu xuống cái đất, ở cái chỗ cái hòn đá ong.
Ông Ký Phú ngồi xuống, ông ấy mở cái sổ con.
「Cái biên bản này thì nó có ba cái chuyện,」ông ấy nói. 「Cái thứ nhất: cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó có cái tên, vì cái sổ họ có cái dòng và ba cái dấu. Cái thứ hai: cái tiểu thì nó về cái gò cái ngày hai mươi, tức là cái hôm nay, mà nó về sau cái ba cái ngày của cái làng phán. Cái thứ ba: cái đất thì nó đo được.」
Ông ấy ngẩng lên.
「Cái thứ ba thì nó có cái chỗ. Cái đất mà nó có cái mộ có cái tên thì cái huyện đo nó để cái làng biết cái chỗ cái mộ. Nó không đo nó để cái sang cái tên.」
Cái gò im.
Ông Phán nói.
「Cái ông Ký. Cái câu đó thì nó là cái câu gì?」
「Cái câu đó thì nó là cái câu: cái thửa bảy thì nó không sang cái tên được,」ông Ký Phú nói. 「Cái đất có cái mộ thì cái đất đó thì nó ở cái tay cái người có cái mộ. Mà cái người có cái mộ thì cái người đó không phải cái người bán. Cho nên cái thửa bảy thì nó ở cái sổ đinh, nó không sang cái tên, và cái mộ thì nó ở đó.」
Ông Phán đứng im một cái lúc. Rồi ông ấy nói.
「Cái đất đó thì tôi không mua nữa.」
Ông ấy đi xuống cái dốc. Cái giày vàng của ông ấy in cái dấu trên cái cỏ.
Bà Cả đứng ở cái mép gò. Cái mặt bà ấy bây giờ nó không đỏ. Nó trắng.
Bà ấy nhìn cái tiểu. Rồi bà ấy nhìn tôi.
「Cái con này.」
Tôi không nói.
「Mày lấy cái đất của cái nhà mày, mày đổi thành cái mộ của cái người khác. Mày biết cái đó không?」
Tôi nhìn cái tiểu.
「Dạ. Con biết.」
「Cái đất đó thì nó không bán được. Mà cái đất mà nó không bán được thì nó cũng không cầm cố được. Mà cái nhà mày thì nó có cái nợ hai mươi đồng.」
「Dạ. Con biết.」
Bà ấy cười. Cái cười đó nó không có cái tiếng.
「Vậy thì cái nhà mày trả cái nợ đó bằng cái gì?」
Tôi nhìn cái lúa ở cái ruộng dưới. Cái lúa đó đã ngậm sữa, cái bông nó cúi.
「Dạ. Bằng cái lúa.」
Bà ấy nhìn tôi một cái lâu.
Rồi bà ấy đi xuống cái dốc. Cái khăn nhiễu của bà ấy vàng dưới cái nắng.
Ông Ký Phú đóng cái sổ con. Ông ấy cầm cái hộp đo, ông ấy đi xuống cái dốc.
「Cái đất này thì nó đo cái tháng sau,」ông ấy nói. 「Cái tháng sau thì cái huyện làm cái sổ cái đất. Mà cái sổ đó thì nó có cái chấm cái mộ.」
Ông ấy đi.
Cái gò còn cái người: ông Thìn, ông Thạo, Liêm, cha, má, cô Sáu, Tám, ông Đồ.
Cái mâm ba cái chén trên cái chiếu. Cái tiểu ở cạnh cái hố.
Ông Thìn nói.
「Cái hố này thì nó phải lấp cái hôm nay. Mà cái tiểu thì nó phải ở dưới cái đất này, không phải ở trên cái mặt đất.」
Cha cầm cái cuốc.
Cái nắng đứng bóng. Cái bóng cái người nó ngắn.
Tôi đứng ở cái mép cái hố. Tôi nhìn cái tiểu sành, cái đường nứt ở cái vai nó.
Tôi nghĩ: cái mộ này thì nó có cái tên. Mà cái tên đó thì nó không phải cái tên của cái nhà tôi.
Mà cái đất thì nó ở cái sổ đinh của cái nhà tôi ba cái tên.
Cái đất có cái tên của cái nhà tôi, mà cái mộ có cái tên của cái họ Nguyễn.
Cái đó là cái chuyện mà cái làng này sẽ nói trong ba chục năm nữa.
Tôi cầm cái cuốc của cha. Cái cuốc đó nặng.
Cái xẻng thứ nhất xuống cái đất. Cái đất đó đỏ, nó tơi.
Má đã bê cái mâm ra cái sân. Cái mâm đó có ba cái chén, một cái chai rượu, và cái bánh chưng khô cắt làm bốn.
「Má biết,」má nói. 「Cái sáng nay má nghe cái tiếng cái xe ở cái cầu.」
Cha đã quàng cái đòn gánh. Cái đòn đó có hai cái thúng, một cái thúng đựng cái mâm.
Cô Sáu ở cái cổng. Cô ấy cầm cái chiếu, cái chiếu đó mới, cái màu nó còn vàng.
「Cái chiếu này của cái đình,」cô Sáu nói. 「Ông Từ đưa.」
Chúng tôi đi cái đường bờ ruộng. Cha đi trước, cái gánh không kêu. Má đi sau, cái tay má giữ cái mép cái thúng.
Cái gò ở trước. Trên cái gò có cái người: ông Ký Phú, ông Phán, ông Thìn, và một cái ông nữa mà tôi không biết.
Ông ấy già hơn ông Thìn, cái lưng còng, cái áo nâu, cái tay cầm cái gậy tre.
Đỗ Liêm đứng ở cái mép gò. Cái áo nó trắng, cái khăn nó trắng.
Ông Thìn nói.
「Cái ông này là cái em tao. Nguyễn Văn Thạo.」
Ông Thạo gật cái đầu. Ông ấy không nói.
Ông Ký Phú đứng ở cái mép cái hố. Cái hộp đo đã mở, cái dây đã cuộn ra, cái thước đặt trên cái đất.
「Cái mâm thì đặt ở cái chỗ đó,」ông ấy nói, mà ông ấy chỉ cái chỗ cách cái hố bảy cái bước, cái phía đông.
Cái chỗ đó là cái chỗ cái hòn đá ong.
Cha đặt cái gánh xuống. Má bê cái mâm ra, đặt nó lên cái chiếu.
Cô Sáu trải cái chiếu. Cái chiếu đó rộng, nó trùm cái cỏ.
Má đặt ba cái chén. Cái chén thứ nhất ở cái đầu, cái chén thứ hai ở cái giữa, cái chén thứ ba ở cái cuối.
Rồi má đặt cái chai rượu, cái bánh, và cái gói tóc.
Cái gói đó ông Thìn để lên cái mâm, ở cái chỗ cái chén thứ nhất.
Cái gò im. Cái gió nó thổi cái cỏ, cái tiếng nó khô.
Tôi đứng ở cái mép cái chiếu. Tôi nói.
「Dạ. Cái ông Ký. Cái lễ này thì nó thiếu một cái chuyện.」
Ông Ký Phú nhìn tôi.
「Cái tiểu,」tôi nói. 「Cái tiểu của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó không có ở cái hố này.」
Cái gò im.
Ông Ký Phú nhìn cái hố. Rồi ông ấy nhìn cái đường cái gò.
「Cái tiểu thì nó ở đâu?」
「Dạ. Nó ở cái chái sau cái nhà bà Cả. Dưới cái cối xay.」
Cái gò im một cái lâu.
Rồi có cái tiếng ở cái đường. Cái tiếng cái guốc.
Bà Cả đi lên cái gò. Cái áo màu mỡ gà, cái khăn nhiễu. Cái mặt bà ấy đỏ, cái mồ hôi nó chảy.
Phía sau bà ấy có thằng Tám. Cái áo tơi, cái chỗ vai trái đã vá.
Bà Cả đứng ở cái mép gò.
「Cái ông Ký.」
Ông Ký Phú nhìn bà ấy.
「Cái tiểu thì nó ở cái nhà tôi,」bà ấy nói. 「Mà cái nhà tôi thì nó không mở cái cửa cho cái lễ này. Cái lễ này thì nó là cái chuyện của cái họ Nguyễn. Cái nhà tôi thì nó không phải cái họ Nguyễn.」
Ông Ký Phú nói.
「Cái bà này nói cái câu đó thì cái bà này quên một cái chuyện.」
「Cái chuyện gì?」
「Cái chuyện cái làng đã phán. Cái làng phán cái tiểu về cái gò trong ba cái ngày. Cái ba cái ngày đó thì nó xong cái ngày mười tám. Hôm nay thì nó là cái ngày hai mươi.」
Cái gò im.
Bà Cả nhìn cái hố. Rồi bà ấy nói.
「Cái làng thì nó phán. Mà cái làng thì nó không có cái quyền vô cái nhà tôi.」
Ông Ký Phú cầm cái thước lên. Ông ấy gõ cái thước lên cái đất hai cái.
「Cái bà này. Cái huyện thì nó không coi cái làng. Cái huyện thì nó coi cái sổ. Mà cái sổ thì nó có cái biên bản cái ngày mồng mười lăm. Mà cái biên bản đó thì nó có cái chữ của cái ông Hương bộ, cái dấu của cái làng, và cái câu cái bà nói trước cái mặt ba trăm cái người.」
Ông ấy nhìn bà Cả.
「Cái câu đó thì nó là 『tôi đào cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm』. Mà cái câu đó thì nó có cái dấu chấm. Cái dấu chấm đó thì nó là cái chỗ cái câu nó hết. Mà cái câu nó hết thì cái chuyện nó bắt đầu.」
Cái gò im.
「Cái làng mà nó phán một cái chuyện mà nó không làm được, thì cái làng đó nó mất cái lệ. Mà cái làng mất cái lệ thì cái huyện không coi cái làng. Mà cái huyện không coi cái làng thì cái đơn của cái ông Phán thì nó không có cái giá. Cái đơn đó thì nó là cái đơn xin cái phép đo. Mà cái phép đo thì nó do cái làng khai.」
Ông Phán đứng ở cái mép gò. Ông ấy không nói gì. Mà cái mặt ông ấy đổi.
Bà Cả nhìn ông Phán. Cái mắt bà ấy đi qua cái mặt ông ấy một cái.
Rồi bà ấy nói, cái giọng nó thấp.
「Cái tiểu thì nó ở cái chái sau. Nó ở dưới cái cối xay. Mà cái chìa khóa cái chái thì nó ở cái nhà tôi.」
「Cái chìa khóa thì cái bà mở nó ra,」ông Ký Phú nói. 「Cái đồng hồ của cái huyện thì nó không đợi cái chìa khóa của cái bà.」
Bà Cả đứng im.
Rồi bà ấy quay lại, bà ấy nhìn thằng Tám.
「Mày đi. Mày đi lấy cái tiểu.」
Thằng Tám không động.
「Mày đi,」bà ấy nói.
Tám nhìn tôi. Rồi nó nói, cái giọng nó nhỏ.
「Dạ. Con đi. Mà con đi một mình thì con không bê nó được.」
Ông Đồ ở cái đường. Ông ấy đứng đó từ cái lúc nào. Cái áo nâu, cái tay không.
Ông ấy bước lên cái gò.
「Tôi bê với nó,」ông Đồ nói.
Cái gò im.
Ông Ký Phú nhìn ông Đồ.
「Cái ông này là cái ai?」
「Dạ. Cái ông này là cái người đào cái mộ cái đêm đó,」tôi nói.
Ông Ký Phú nhìn ông Đồ một cái lâu. Rồi ông ấy gật.
「Cái người đào thì cái người đó bê. Cái đó thì nó đúng cái lệ.」
Tám và ông Đồ đi xuống cái dốc. Cái bóng hai cái người đó dài trên cái cỏ.
Cái gò im. Cái nắng giữa trưa nó nóng cái đáy cái hố.
Ông Ký Phú ngồi xuống cái mép gò, ông ấy mở cái sổ con, ông ấy viết.
Cái tiếng cái bút nó nhỏ, mà cái gò im cho nên tôi nghe nó.
Ông Thìn đứng trước cái mâm. Ông ấy thắp cái hương.
Ba cái nén. Ông ấy cắm cái nén thứ nhất ở cái chén thứ nhất, cái nén thứ hai ở cái chén thứ hai, cái nén thứ ba ở cái chén thứ ba.
Rồi ông ấy rót rượu. Cái tay ông ấy chậm.
「Cái hương này thì nó thắp cho cái em gái tao,」ông ấy nói. 「Cái người đó tên là Nguyễn Thị Năm. Cái người đó là cái con gái thứ ba của cái ông Nguyễn Văn Lợi. Cái người đó đi cái làng này cái năm nó mười tám.」
Ông ấy rót cái chén thứ hai.
「Cái người đó đẻ một cái con trai. Cái con đó tên là Đỗ Liêm. Cái con đó bây giờ đứng ở cái gò này.」
Liêm cúi cái đầu.
Ông ấy rót cái chén thứ ba.
「Cái người đó chết cái năm nó hai mươi hai. Cái làng này không khai cái chết đó. Cho nên cái sổ họ không có cái dòng đó. Cho nên ba chục năm, cái người đó nằm ở cái đất này mà không có cái bia, không có cái tên, không có cái ai tới cúng.」
Cái gò im.
「Cái hôm nay thì cái họ Nguyễn ghi cái dòng đó. Cái dòng đó thì nó ghi cái ngày, cái chỗ, và cái mộ. Mà cái dòng đó thì nó có ba cái dấu.」
Ông Thìn lấy trong cái túi áo ra cái sổ họ. Ông ấy mở nó ở cái trang cuối, cái chỗ cái dòng mới viết.
Ông ấy đặt cái sổ lên cái chiếu, cạnh cái mâm.
Ông ấy lấy cái hộp son trong cái túi. Cái hộp đó nhỏ, cái son đó đỏ.
「Cái dấu thứ nhất là của tao. Cái dấu thứ hai là của cái em tao. Cái dấu thứ ba là của cái con của cái em gái tao.」
Ông Thìn ấn cái ngón cái xuống. Ông Thạo ấn. Rồi Liêm quỳ xuống, Liêm ấn.
Cái dấu đó đỏ, nó tròn, nó có cái vân.
Ông Ký Phú đứng dậy. Ông ấy đi tới cái chiếu, ông ấy cầm cái sổ họ lên.
Ông ấy coi cái dòng đó một cái lâu. Rồi ông ấy lấy cái kính ra, lau nó.
「Cái dòng này thì nó đủ,」ông ấy nói. 「Cái dòng này thì nó nói cái người đó chết ở cái làng này, cái chỗ cái gò, cái thửa bảy. Mà cái dòng này thì nó có ba cái dấu của cái họ. Cho nên cái mộ này thì nó có cái tên.」
Cái gò im.
Rồi cái tiếng ở cái dốc. Cái tiếng cái guốc, cái tiếng cái thở.
Tám và ông Đồ bê cái tiểu lên. Cái tiểu sành, cái màu nó nâu, cái bụng nó tròn. Cái đường nứt ở cái vai nó đã mở, cái đất bên trong nó rơi ra một ít.
Họ đặt cái tiểu xuống cạnh cái hố.
Cái gò im.
Má ngồi xuống. Cái tay má chạm cái tiểu.
Rồi má nói, cái giọng nó nhỏ.
「Cái tiểu này thì nó nhẹ.」
Không ai nói.
Má đứng dậy. Má đi tới cái mâm, má rót cái chén thứ nhất, má bưng nó lên, má đưa nó về phía cái tiểu.
「Cái chén này thì nó là cái chén của cái nhà tôi,」má nói. 「Cái nhà tôi thì nó không có cái họ Nguyễn. Mà cái nhà tôi thì nó ở cái làng này ba đời. Cho nên cái chén này thì nó là cái chén của cái làng.」
Má đổ cái rượu xuống cái đất, ở cái chỗ cái hòn đá ong.
Ông Ký Phú ngồi xuống, ông ấy mở cái sổ con.
「Cái biên bản này thì nó có ba cái chuyện,」ông ấy nói. 「Cái thứ nhất: cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó có cái tên, vì cái sổ họ có cái dòng và ba cái dấu. Cái thứ hai: cái tiểu thì nó về cái gò cái ngày hai mươi, tức là cái hôm nay, mà nó về sau cái ba cái ngày của cái làng phán. Cái thứ ba: cái đất thì nó đo được.」
Ông ấy ngẩng lên.
「Cái thứ ba thì nó có cái chỗ. Cái đất mà nó có cái mộ có cái tên thì cái huyện đo nó để cái làng biết cái chỗ cái mộ. Nó không đo nó để cái sang cái tên.」
Cái gò im.
Ông Phán nói.
「Cái ông Ký. Cái câu đó thì nó là cái câu gì?」
「Cái câu đó thì nó là cái câu: cái thửa bảy thì nó không sang cái tên được,」ông Ký Phú nói. 「Cái đất có cái mộ thì cái đất đó thì nó ở cái tay cái người có cái mộ. Mà cái người có cái mộ thì cái người đó không phải cái người bán. Cho nên cái thửa bảy thì nó ở cái sổ đinh, nó không sang cái tên, và cái mộ thì nó ở đó.」
Ông Phán đứng im một cái lúc. Rồi ông ấy nói.
「Cái đất đó thì tôi không mua nữa.」
Ông ấy đi xuống cái dốc. Cái giày vàng của ông ấy in cái dấu trên cái cỏ.
Bà Cả đứng ở cái mép gò. Cái mặt bà ấy bây giờ nó không đỏ. Nó trắng.
Bà ấy nhìn cái tiểu. Rồi bà ấy nhìn tôi.
「Cái con này.」
Tôi không nói.
「Mày lấy cái đất của cái nhà mày, mày đổi thành cái mộ của cái người khác. Mày biết cái đó không?」
Tôi nhìn cái tiểu.
「Dạ. Con biết.」
「Cái đất đó thì nó không bán được. Mà cái đất mà nó không bán được thì nó cũng không cầm cố được. Mà cái nhà mày thì nó có cái nợ hai mươi đồng.」
「Dạ. Con biết.」
Bà ấy cười. Cái cười đó nó không có cái tiếng.
「Vậy thì cái nhà mày trả cái nợ đó bằng cái gì?」
Tôi nhìn cái lúa ở cái ruộng dưới. Cái lúa đó đã ngậm sữa, cái bông nó cúi.
「Dạ. Bằng cái lúa.」
Bà ấy nhìn tôi một cái lâu.
Rồi bà ấy đi xuống cái dốc. Cái khăn nhiễu của bà ấy vàng dưới cái nắng.
Ông Ký Phú đóng cái sổ con. Ông ấy cầm cái hộp đo, ông ấy đi xuống cái dốc.
「Cái đất này thì nó đo cái tháng sau,」ông ấy nói. 「Cái tháng sau thì cái huyện làm cái sổ cái đất. Mà cái sổ đó thì nó có cái chấm cái mộ.」
Ông ấy đi.
Cái gò còn cái người: ông Thìn, ông Thạo, Liêm, cha, má, cô Sáu, Tám, ông Đồ.
Cái mâm ba cái chén trên cái chiếu. Cái tiểu ở cạnh cái hố.
Ông Thìn nói.
「Cái hố này thì nó phải lấp cái hôm nay. Mà cái tiểu thì nó phải ở dưới cái đất này, không phải ở trên cái mặt đất.」
Cha cầm cái cuốc.
Cái nắng đứng bóng. Cái bóng cái người nó ngắn.
Tôi đứng ở cái mép cái hố. Tôi nhìn cái tiểu sành, cái đường nứt ở cái vai nó.
Tôi nghĩ: cái mộ này thì nó có cái tên. Mà cái tên đó thì nó không phải cái tên của cái nhà tôi.
Mà cái đất thì nó ở cái sổ đinh của cái nhà tôi ba cái tên.
Cái đất có cái tên của cái nhà tôi, mà cái mộ có cái tên của cái họ Nguyễn.
Cái đó là cái chuyện mà cái làng này sẽ nói trong ba chục năm nữa.
Tôi cầm cái cuốc của cha. Cái cuốc đó nặng.
Cái xẻng thứ nhất xuống cái đất. Cái đất đó đỏ, nó tơi.
Mục lục — 47 chương
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm