← Trang chủ Nông Phu Gia Tiều Kiều Thê

Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng

Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng

Cái làng mở cái sổ cái đinh ở cái ngày rằm cái tháng chín. Cái ngày đó thì cái đình nó mở ở cái giờ sáng, cái sân thì nó có cái chiếu, cái sổ thì nó nằm ở cái cái mâm gỗ, cái mâm thì nó đặt ở cái giữa.

Cái lý trưởng ngồi ở cái cái ghế. Cái ông Hương bộ ngồi cạnh, cái tay ông ấy thì nó cầm cái bút, cái nghiên thì nó ở cái bên. Cái người thì nó đứng ở cái sân, cái đứng cái theo cái xóm, cái xóm cái trên thì nó đứng ở cái phía đông, cái xóm cái dưới thì nó đứng ở cái phía tây.

Cái bà Cả đứng ở cái chỗ cái gần cái cửa. Bà ấy không vào cái giữa. Bà ấy đứng, cái tay bà ấy thì nó cầm cái quạt, cái quạt thì nó không quạt.

Cái ông Đồng thì ông ấy cũng đến. Ông ấy đứng ở cái cuối cái chiếu, cái tay ông ấy thì nó đút ở cái trong cái áo. Ông ấy không nói cái gì. Ông ấy đến để coi. Cái người cho cái nợ thì người đó coi cái nhà của cái người nợ ở cái chỗ cái làng coi.

Cái bà Hợi thì bà ấy bán cái nước ở cái cổng, cái tiếng cái chén thì nó kêu cái đều.

Cái sổ cái đinh thì nó đọc theo cái xóm. Cái ông Hương bộ đọc cái tên, cái người đó thì nó lên, cái người đó nói cái có, cái sổ ghi cái dấu cái một cái chấm.

Cái đọc đến cái cái nhà tôi. Cái lý trưởng nhìn tôi.

「Cái nhà cái Lư. Cái tên cái cha, cái tên cái má, cái tên cái con gái. Cái ba cái tên. Cái ba cái tên này thì cái năm ngoái nó có. Cái năm nay thì nó có cái gì cái thêm.」

Tôi ra cái giữa.

「Dạ. Cái sổ cái đình thì nó ghi cái tên con. Cái tên đó thì nó ở cái sổ khác. Cho nên cái sổ đinh thì nó không thêm cái gì.」

Cái lý trưởng gật. Cái ông Hương bộ ghi.

Rồi tôi nói cái câu cái mà tôi chuẩn bị cái bốn cái đêm.

「Nhưng cái sổ đinh cái năm nay thì nó phải ghi cái một cái chuyện. Cái chuyện đó thì nó không phải cái tên. Nó là cái mốc.」

Cái sân thì nó im.

Tôi nói tiếp.

「Cái thửa bảy, ở cái gò. Cái mốc của cái thửa đó thì nó nằm ở cái đất. Cái mốc đó thì nó là cái đá, cái mặt nó có cái chữ 『thửa mười ba』. Cái chữ đó thì nó đục, cái đục cái sâu, cái sâu cái bằng cái nửa cái ngón tay. Cái mốc đó thì nó ở cái hố, cái chỗ cái cây nó đổ. Cái nhà tôi đào nó lên cái để coi, rồi cái lấp cái lại. Cái chỗ thì nó ghi, cái ghi cái bằng cái cọc tre.」

Cái lý trưởng nhìn cái ông Hương bộ. Cái ông Hương bộ mở cái sổ cái đất, cái sổ cái đất thì nó ở cái trong cái cái hộp, ông ấy lật, ông ấy dừng ở cái trang cái thửa bảy.

「Cái sổ cái đất thì nó ghi cái thửa bảy, cái ba cái mẫu. Cái mốc thì sổ không ghi. Cái sổ cái đất cái cũ thì nó cháy ở cái cái năm cái lụt. Cái sổ bây giờ thì nó chép lại. Cái người chép thì nó chép theo cái sổ, không chép theo cái đất. Cho nên cái mốc mà nó ở cái đất thì cái mốc đó thì nó là cái cái bút của cái đất.」

Cái lý trưởng hỏi tôi.

「Cái mốc đó mày dám nói nó là cái mốc của cái thửa bảy thì mày dám bê nó ra cái sân này không.」

Tôi nói dạ.

Cái trưa thì tôi và cha tôi đi ra cái gò. Cái ông Từ đi theo, cái ông Hương bộ đi theo, cái lý trưởng đi theo, cái người thì nó đi ở cái sau, cái đi cái nửa cái làng.

Cái hố thì nó ở cái chỗ cái cây đổ. Cái cọc tre thì nó vẫn còn, cái mực thì nó nhạt nhưng cái chữ nó còn.

Cái chỗ cái cọc tre thì cái mực nó nhạt, cái chữ 『mốc, thửa mười ba』 thì nó còn. Cha tôi đặt cái liềm, ông ấy lấy cái cuốc, ông ấy đào theo cái cạnh cái cọc.

Cái Tám thì nó đứng ở cái cạnh, nó bưng cái rổ. Cái thằng Đực đào cái phần sau.

Cái đất thì nó khô, cái đào cái bốn cái xẻng thì nó ra cái cái hố.

Cái mốc thì nó ra. Cái đá thì nó cao cái một cái gang, cái rộng cái nửa, cái mặt nó thì nó có cái chữ.

Cái ông Hương bộ quỳ xuống, ông ấy lau cái mặt cái đá bằng cái tay áo, ông ấy đọc.

「Thửa mười ba.」

Rồi ông ấy nhìn cái lý trưởng.

「Cái chữ này thì nó đục bằng cái đục cái thợ. Cái nét nó đều. Cái thợ đục cái mốc thì cái thợ đó làm cái chuyện của cái làng, cái chuyện của cái làng thì nó không đục cái chữ cái sai. Cho nên cái mốc này thì nó là cái mốc cái thật.」

Cái lý trưởng quỳ xuống, ông ấy coi cái chữ, ông ấy đưa cái tay, ông ấy sờ cái nét.

Rồi ông ấy đứng dậy, ông ấy quay ra cái người.

「Cái mốc này thì cái làng bê về cái đình. Cái mốc mà nó ở cái đình thì cái sổ cái đất nó có cái cái chỗ để hỏi. Cái đất mà nó có cái mốc thì cái đất nó không đổi cái chỗ.」

Cái cha tôi và cái thằng Đực bê cái mốc. Cái mốc thì nó nặng, cái hai cái người thì nó bê, cái bê cái chậm, cái đi cái theo cái đường làng.

Cái người thì nó đi theo cái sau. Cái người đi cái đông.

Cái bà Cả thì bà ấy không đi theo. Bà ấy đứng ở cái đầu đường, cái ở cái chỗ cái con đường ra cái gò. Bà ấy nói cái với cái người cái gần bà ấy, cái tiếng thì nó không lớn nhưng cái người ở cái sau nghe.

「Cái mốc mà nó nằm ở cái gò đó thì nó nằm cái ba mươi cái năm. Cái mốc mà nó nằm cái ba mươi cái năm mà cái không cái ai đào thì cái bây giờ cái người ta đào nó lên, cái người ta nói cái chữ. Cái chữ mà nó không có cái ai biết cái đúng hay cái sai. Cái người đục nó thì nó đã chết. Cái chết thì nó không trả lời.」

Cái ông Từ đi ngang cái chỗ bà ấy. Ông ấy dừng.

「Cái mốc mà nó nằm ở cái đất thì cái đất nó giữ. Cái đất mà nó giữ cái ba mươi cái năm thì cái đất không mất cái chữ. Cái người mà nó nói cái chữ cái sai thì cái người đó phải chỉ cái chỗ cái chữ sai. Cái bà chỉ được cái không.」

Bà ấy không trả lời.

Cái mốc thì nó đặt ở cái đình, cái đặt ở cái cái bậc thứ nhất, cái dưới cái cái mái. Cái ông Hương bộ viết cái một cái dòng vô cái sổ cái đất.

「Cái mốc của cái thửa bảy, cái chữ 『thửa mười ba』, cái đào cái ngày rằm cái tháng chín, cái mặt cái làng coi, cái bê về cái đình.」

Cái ông Hương bộ viết cái dòng xong, ông ấy cầm cái giấy, ông ấy nói cái với cái người cái còn ở cái sân.

「Cái dòng này thì nó là cái dòng cái đất. Cái sổ cái người thì nó ghi cái người đẻ ra và cái người chết đi. Cái sổ cái đất thì nó ghi cái đất ở cái đâu và cái đất này nó nằm cạnh cái đất nào. Cái hai cái sổ thì nó không là cái một cái sổ. Mà cái hai cái sổ thì nó cùng cái một cái người viết. Cho nên cái chữ của cái sổ này thì nó phải đứng ở cái cạnh cái chữ của cái sổ kia. Cái mốc thì nó là cái cái cái gì nó đứng ở cái giữa.」

Cái lý trưởng ký. Cái ông Đồ thì ông ấy làm cái cái kệ gỗ ở cái cạnh cái cột, cái kệ thì nó cao cái bằng cái đầu gối, cái mốc thì nó nằm ở cái trên.

Cái chiều thì cái người tan. Cái bà Cả đi khỏi cái đình cái trước, cái đi cái nhanh, cái không nói với cái ai.

Cái má tôi thì bà ấy ở cái nhà, bà ấy không đi cái đình. Cái chiều tôi về, bà ấy hỏi cái một cái câu.

「Cái mốc đó thì nó về cái đình rồi à.」

「Dạ. Cái mốc thì nó nằm ở cái cái kệ gỗ, cái cạnh cái cột.」

Bà ấy gật, rồi bà ấy nói cái một cái câu mà cái tôi nghĩ cái lâu.

「Cái cha của con thì cái cha đã đào cái mốc đó cái một cái lần, cái năm cái cha cái mười cái tám. Cái ông nội của con thì cái ông nội chỉ cái cho cái cha cái chỗ, rồi cái ông nội nói: cái mốc mà nó ra cái mặt thì cái nhà mình nó phải chắc. Cái nhà mà nó không chắc thì cái mốc nó đè. Cái năm đó thì cái cha đào cái lên coi, rồi cái lấp. Cái cha không bê nó về. Vì cái nhà mình cái bây giờ thì nó chưa chắc.」

Bà ấy đặt cái nồi vô cái bếp.

「Cái bây giờ thì cái nhà mình chắc chưa, cái mẹ không biết. Cái mẹ chỉ biết cái một cái chuyện: cái người mà nó bê cái mốc vô cái đình thì cái người đó phải đứng cái chịu được cái trọng lượng của cái mốc đó.」

Tôi dọn cái chiếu. Cái ông Từ đứng ở cái cạnh cái mốc, ông ấy nhìn cái chữ cái lâu.

「Cái mộ thì nó là cái chuyện của cái người nằm. Cái mốc thì nó là cái chuyện của cái đất. Cái nhà mày cái năm nay thì nó đã bê cái mộ về cái gò, cái bây giờ nó bê cái mốc về cái đình. Cái hai cái chuyện đó thì nó ở cái hai cái đầu của cái một cái dây. Cái đầu này thì nó là cái người. Cái đầu kia thì nó là cái đất. Cái nhà mày thì mày đang đứng ở cái giữa.」

Tôi hỏi ông ấy cái cái bà Cả sẽ làm cái gì.

「Cái người mà nó mất cái giấy thì người đó mất cái tay. Cái người mà nó mất cái tay thì người đó dùng cái miệng. Cái miệng của cái bà ấy thì nó đã nói cái ba mươi cái năm. Cái miệng mà nó nói cái ba mươi cái năm thì nó biết cái nói cái với cái ai. Cái bà ấy sẽ không nói ở cái đình nữa. Cái bà ấy sẽ nói ở cái chợ. Cái chợ thì nó không có cái sổ. Mà cái chợ thì nó có cái tai. Cái tai thì nó dẫn về cái nhà.」

Rồi ông ấy đi.

Tôi thắt cái nút thứ hai mươi chín.

Cái nút này thì nó là cái mốc.

Cái nút thứ ba mươi thì tôi chưa biết nó là cái gì. Cái tôi chỉ biết rằng cái dây mà nó có cái ba mươi cái nút thì cái nút đó thì nó không rơi ra được nữa.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay Chương 78: Cái nhà cái cổng mở Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò Chương 73: Cái đường gạch Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối Chương 68: Cái học trò của cái lò Chương 67: Cái vụ cái xuân Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông Chương 64: Cái trầu qua cái sông Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu Chương 62: Cái giếng của cái làng Chương 61: Cái sông dạy cái bơi Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai Chương 59: Cái nhà cái cổng kín Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia Chương 57: Cái nét đầu tiên Chương 56: Cái đá đi Chương 55: Cái tay đục Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện Chương 53: Cái tai của cái chợ Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân Chương 49: Cái bún tôm Chương 48: Cái mốc đá Chương 47: Cái ba cái tên Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới Chương 45: Cái ngày thứ tám Chương 44: Cái bờ cái rừng Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ Chương 34: Cái bàn tay có cái chai Chương 33: Cái hòn đá ong Chương 32: Cái mái đình Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả Chương 29: Cái khuôn ngói Chương 28: Cái người đi cái xe đạp Chương 27: Cái lò bầu Chương 26: Cái khuôn gỗ Chương 25: Ba mươi hai đồng Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng Chương 20: Cái bến đò Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải Chương 17: Cái dấu của cái tay trái Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay Chương 15: Cái thằng Mẫn Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng Chương 13: Cái phiên đắp bờ Chương 12: Cái đập bổi Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ Chương 5: Cái chợ phiên Chương 4: Cái mộ không bia Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm