← Trang chủ Nông Phu Gia Tiều Kiều Thê

Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện

Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện

Cái cô Sáu nói cái đúng.

Cái bốn cái ngày sau thì cái người ở cái huyện xuống. Cái người đó thì nó không phải cái ông Ký Phú. Cái người đó thì nó là cái một cái ông cái ngồi ở cái cái phòng cái giấy, cái ông ấy mặc cái áo cái dày, cái giày thì nó đen, cái đi cái với cái một cái người khác, cái người khác thì nó cầm cái cái hộp.

Cái hai cái người đó thì nó đến cái đình cái buổi sáng. Cái lý trưởng đón, cái ông Hương bộ mở cái sổ.

Cái ông áo dày hỏi cái chuyện cái đơn của cái ông Phán.

「Cái đơn này thì nó gửi ở cái huyện cái ba cái tháng trước. Cái đơn đó nó nói cái đất cái gò, cái ba cái mẫu, cái thửa bảy, cái người bán là cái bà Trần Thị Cả, cái người mua là cái ông Phán Cử. Cái đơn có cái dấu của cái lý trưởng. Cho nên cái huyện nó xếp cái hồ sơ. Cái bây giờ thì cái làng nó trả cái giấy cái gì cho cái huyện.」

Cái lý trưởng đưa cái biên bản cái mồng mười lăm, cái biên bản cái lễ, cái biên bản cái mốc.

Cái ông áo dày đọc, cái đọc cái chậm, cái đọc cái theo cái thứ tự, cái không đọc cái ngược. Rồi ông ấy hỏi cái một cái câu.

「Cái đất này thì nó đã sang cái tên chưa.」

Cái ông Hương bộ trả lời.

「Cái chưa. Cái huyện thì nó chưa sang. Cái làng thì nó chưa ghi cái sang. Cái vì cái đất đó thì nó có cái mộ, cái mộ thì nó có cái tên, cái tên thì nó thuộc cái họ Nguyễn, cái họ Nguyễn thì nó đã làm cái lễ, cái lễ thì nó có cái biên bản cái ở trong cái đây.」

Cái ông áo dày hỏi tiếp.

「Cái mộ đó thì nó là cái mộ của cái ai. Cái giấy cái gì nó nói cái mộ đó là cái mộ của cái người đó.」

Tôi ra cái giữa. Tôi đưa cái sổ họ cái chép, cái sổ có cái dấu của cái họ, cái có cái chữ của cái ông Thìn.

Cái ông áo dày cầm, ông ấy coi cái dấu, ông ấy hỏi cái một cái câu mà cái tôi đã nghĩ cái từ cái đêm.

「Cái dấu này thì nó là cái dấu của cái họ. Cái họ thì nó ở cái làng Cầu Đôi. Cái làng Cầu Đôi thì nó không thuộc cái huyện này. Cái giấy của cái làng khác thì cái huyện nó coi, mà cái huyện nó coi cái như cái cái giấy cái trình, cái không coi cái như cái giấy cái quyền. Cái quyền thì nó phải có cái giấy của cái huyện cái nơi cái người đó chết.」

Cái sân thì nó im.

Tôi nói.

「Dạ. Cái bà Nguyễn Thị Năm thì bà ấy chết ở cái làng này. Cái làng này thì cái năm đó nó không khai cái chết. Cái sổ cái đinh của cái làng cái năm đó thì nó không có cái dòng cái chết của bà ấy. Cái không khai thì nó là cái chuyện của cái làng. Cái làng mà nó không khai thì cái họ nó khai. Cái họ khai thì cái họ làm cái lễ. Cái lễ thì nó đã làm, cái ở cái mặt của cái huyện.」

Cái ông áo dày nhìn tôi cái một cái lúc.

「Mày là cái ai.」

「Dạ. Cái tên con là Lư Kiều Nguyệt. Cái tên con thì nó ở trong cái sổ cái đình, cái dòng cái sửa cái mái. Con là cái người đòi cái chuyện cái mộ.」

Cái ông áo dày không nói cái gì, ông ấy ghi cái ở cái cái giấy của ông ấy.

Rồi ông ấy hỏi cái câu cuối.

「Cái đơn của cái ông Phán thì mày muốn cái huyện xử cái thế nào.」

Tôi nói.

「Dạ. Con không đòi cái huyện xử cái đơn. Con đòi cái huyện ghi cái hai cái dòng. Cái dòng thứ nhất: cái đất cái thửa bảy thì nó có cái mộ, cái mộ có cái tên, cái tên có cái lễ. Cái dòng thứ hai: cái đơn cái mua bán thì nó xếp cái chờ, cái chờ cho đến cái ngày cái mộ có cái bia và cái tiểu ở ở cái gò. Cái đất mà nó có cái người thì cái đất đó nó không bán được ở cái lúc nó có cái người.」

Cái ông áo dày hỏi cái lý trưởng.

「Cái làng đồng ý với cái câu đó không.」

Cái lý trưởng nói.

「Cái làng đồng ý. Cái làng còn xin cái huyện ghi cái dòng thứ ba: cái giấy cọc của cái chuyện mua bán đó thì nó có cái hai cái dấu, cái dấu thứ hai thì nó không phải cái dấu của cái người mang cái tên trong cái giấy. Cái chuyện đó thì cái làng đã coi ở cái cái biên bản cái mồng mười lăm. Cái giấy mà nó có cái dấu của cái người khác thì cái giấy đó nó không đứng được ở cái huyện.」

Cái ông áo dày ghi, cái ghi cái ba cái dòng, ông ấy đọc lại. Cái ông người kia cầm cái hộp, ông ấy không nói cái gì.

Cái ông áo dày nói cái câu cuối.

「Cái huyện sẽ ghi cái hai cái dòng thứ nhất và cái dòng thứ ba. Cái dòng thứ hai thì cái huyện không ghi cái chữ 『chờ』. Cái huyện ghi cái chữ 『cái đang coi』. Cái 『đang coi』 thì nó có cái thời gian. Cái thời gian thì nó là cái sáu cái tháng. Cái sáu cái tháng mà cái mộ không có cái bia thì cái huyện nó coi cái đơn cái mới.」

Tôi nói dạ.

Cái bà Cả thì bà ấy không đến cái đình cái buổi sáng đó. Nhưng cái ông Phán thì ông ấy đến. Ông ấy không vào cái đình. Ông ấy đứng ở cái cổng, cái giày vàng thì nó ở ngoài, cái ông ấy đứng cái nghe.

Cái khi cái ông áo dày ghi cái ba cái dòng xong thì ông Phán bước vô.

「Cái ông ơi, cái tôi có cái đơn ở cái huyện. Cái đơn đó thì nó có cái tiền của cái tôi. Cái hai trăm đồng. Cái tiền đó thì nó đã giao. Cái giao thì nó có cái giấy cọc.」

Cái ông áo dày nhìn ông ấy.

「Cái giấy cọc đó thì nó có cái hai cái dấu. Cái dấu thứ hai thì nó không phải cái dấu của cái người mang cái tên trong cái giấy. Cái chuyện đó thì cái làng đã ghi ở cái biên bản. Mà cái biên bản thì nó là cái giấy của cái làng, cái không phải cái giấy của cái huyện. Cho nên cái chú cứ việc đem cái giấy đó lên cái huyện. Cái huyện sẽ soi cái dấu. Cái dấu mà nó không đúng thì cái giấy đó nó thành cái giấy cái cái gì thì cái huyện nó nói.」

Cái mặt ông Phán thì nó trắng cái một cái cái pha.

「Cái dấu đó thì nó là cái dấu thật.」

「Cái dấu thì nó thật. Cái người thì nó sai. Cái dấu của cái người này mà nó đứng ở cái dòng của cái người kia thì cái giấy đó nó không về cái chuyện cái dấu nữa. Nó về cái chuyện cái người. Cái chuyện cái người thì cái huyện không xử. Cái chuyện cái người thì nó xử ở cái đình. Cái đình đã xử cái rồi.」

Ông Phán đứng ở cái giữa cái sân, cái đứng cái một cái lúc, rồi ông ấy đi. Ông ấy không nhìn cái ai.

Cái hai cái người đi. Cái lý trưởng đứng ở cái cổng cái đình cái nhìn cái theo.

Cái ông Đồng thì ông ấy chờ ở cái đầu cái đường, cái chờ cái hai cái người ở cái huyện đi xa rồi ông ấy mới đến cái cạnh cái lý trưởng.

「Cái ông áo dày đó thì chú biết. Cái ông ấy thì ông ấy ngồi ở cái cái phòng cái giấy cái mười cái năm. Cái người mà nó ngồi ở cái phòng cái giấy thì người đó sợ cái một cái chuyện: cái sợ cái giấy nó mọc cái tay và cái tay nó kéo cái giấy về cái phía người ta. Cái hôm nay cái ông ấy ghi cái ba cái dòng, cái ba cái dòng thì cái ba cái dòng đều về cái phía cái làng. Cái ông ấy ghi vì cái ba cái dòng đều có cái biên bản đứng ở cái dưới. Cái giấy mà nó có cái biên bản thì cái giấy nó nặng. Cái giấy mà nó không có cái biên bản thì cái giấy nó bay. Cái đơn của cái ông Phán thì nó bay. Cái mà nó bay ở cái huyện thì cái huyện nó phải chĩa cái tay ra đón. Cái bây giờ cái biên bản của cái làng thì nó nằm ở cái dưới cái tay đó. Cho nên cái đơn nó đậu.」

Cái lý trưởng nhìn ông Đồng.

「Cái ông nói cái chuyện cái giấy thì ông nói cái giống cái người ở cái phòng.」

Cái ông Đồng cười, cái cười cái không có cái tiếng.

「Cái chú thì chú không biết cái chữ. Cái chú chỉ biết cái giấy. Cái giấy mà nó đi cái hai cái mươi cái năm ở cái cái chợ thì cái giấy nó nói với cái chú cái nó sợ cái gì.」

Rồi ông ấy đi.

Cái buổi chiều thì tôi ngồi ở cái bờ cái đê, cái tôi tính.

Cái sáu cái tháng thì nó là cái một cái mùa cái lúa và cái một cái mùa cái lạnh. Cái bia thì nó cần cái đá, cái đá thì nó ở cái làng Đông, cái ông Bá thì ông ấy đốt cái lò. Cái tiểu thì nó đã ở ở cái gò. Cái bia mà nó dựng trong cái sáu cái tháng thì cái đất nó khỏi cái chuyện cái đơn. Cái bia mà nó không dựng thì bà Cả và cái ông Phán nó quay lại, cái quay lại với cái giấy cái mới.

Cái về nhà thì tôi nói với cha. Cha tôi ngồi ở cái bậc, ông ấy nghe, ông ấy nói.

「Cái sáu cái tháng thì nó không phải cái thời gian của cái mình. Nó là cái thời gian của cái người ta cho. Cái thời gian mà cái người ta cho thì cái người ta lấy lại được. Cho nên mình không đợi cái đến cái tháng thứ năm. Mình làm cái bia cái ở cái tháng thứ nhất.」

Cái má tôi từ cái bếp ra.

「Cái bia thì nó cần cái chữ. Cái chữ thì nó cần cái ông Hương bộ. Cái ông ấy thì ông ấy viết cái chữ quốc ngữ. Mà cái đá thì nó ở cái làng Đông. Cái người đục thì nó là cái người của cái làng Đông. Cho nên cái bia của cái mộ ở cái làng này thì nó có cái tay của cái làng kia. Cái chuyện đó thì nó là cái chuyện cái phải cái xin, cái không phải cái chuyện cái đòi.」

Bà ấy nhìn tôi.

「Cái xin thì con phải đi. Cái đi thì con phải mang cái quà. Cái quà của cái người nghèo thì nó không phải cái tiền. Nó là cái cái gì mình làm ra bằng cái tay mình.」

Bà ấy chỉ cái cái bao ở cái góc cái bếp.

「Cái bún tôm. Cái mẹ làm cái sáng nay. Cái một cái gói để cái cho cái con đi. Cái gói này thì nó không nặng. Mà cái người nhận nó thì người đó biết rằng cái người đi cái đường xa thì người đó mang cái cái nhà mình đi theo.」

Tôi nhận cái gói.

Cái tối thì tôi nằm ở cái chiếu, cái tôi nghĩ cái đường.

Cái đường ra cái làng Đông thì nó mười cái cây số. Cái đường này thì tôi đã đi cái một cái lần để đòi cái đá. Cái lần này tôi đi để xin cái tay.

Cái đòi thì nó là cái chuyện cái mạnh. Cái xin thì nó là cái chuyện cái phải cúi.

Cái người mà nó cúi thì cái người đó phải biết cái mình cúi cái để làm cái gì. Cái tôi cúi cái để cái bia nó có cái tay đục. Cái bia mà nó có cái tay đục thì cái tên nó khắc vô cái đá. Cái tên mà nó khắc vô cái đá thì cái mưa nó không rửa được.

Cái dây gai thì nó ở cái cột. Tôi ra, tôi thắt cái nút thứ ba mươi mốt.

Cái nút này thì nó là cái đường.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay Chương 78: Cái nhà cái cổng mở Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò Chương 73: Cái đường gạch Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối Chương 68: Cái học trò của cái lò Chương 67: Cái vụ cái xuân Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông Chương 64: Cái trầu qua cái sông Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu Chương 62: Cái giếng của cái làng Chương 61: Cái sông dạy cái bơi Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai Chương 59: Cái nhà cái cổng kín Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia Chương 57: Cái nét đầu tiên Chương 56: Cái đá đi Chương 55: Cái tay đục Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện Chương 53: Cái tai của cái chợ Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân Chương 49: Cái bún tôm Chương 48: Cái mốc đá Chương 47: Cái ba cái tên Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới Chương 45: Cái ngày thứ tám Chương 44: Cái bờ cái rừng Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ Chương 34: Cái bàn tay có cái chai Chương 33: Cái hòn đá ong Chương 32: Cái mái đình Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả Chương 29: Cái khuôn ngói Chương 28: Cái người đi cái xe đạp Chương 27: Cái lò bầu Chương 26: Cái khuôn gỗ Chương 25: Ba mươi hai đồng Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng Chương 20: Cái bến đò Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải Chương 17: Cái dấu của cái tay trái Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay Chương 15: Cái thằng Mẫn Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng Chương 13: Cái phiên đắp bờ Chương 12: Cái đập bổi Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ Chương 5: Cái chợ phiên Chương 4: Cái mộ không bia Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm