Chương 55: Cái tay đục
Chương 55: Cái tay đục
Cái đường ra cái làng Đông thì nó qua cái cái đê, cái qua cái cái chợ cái giữa, cái qua cái cái rừng cái cao su. Cái rừng thì nó cao, cái lá thì nó che cái nắng, cái đường thì nó đỏ, cái đất thì nó bụi.
Tôi đi cái từ cái giờ cái gà gáy. Cái bao thì nó ở cái trên cái vai, cái bún tôm thì nó ở cái trong, cái dây thì nó buộc cái chặt.
Cái giữa cái đường thì tôi dừng ở cái cái quán nước ở cái cái ngã ba. Cái bà bán nước hỏi tôi đi đâu.
「Dạ. Con đi cái làng Đông.」
「Cái làng Đông thì cái làng Đông nó có cái lò. Cái người đi cái làng Đông thì cái người đó đi cái bán cái củi hoặc cái mua cái gạch. Cái mày đi làm cái gì.」
「Dạ. Con đi cái xin cái tay đục.」
Cái bà lắc cái đầu.
「Cái thợ đá của cái làng Đông thì nó chỉ còn cái một cái người. Cái người đó thì nó già. Cái người ta nói cái tay của ông ấy thì nó đục cái cái mộ của cái cả cái cái huyện. Cái ông ấy không nhận cái học trò, cái vì cái người ta mà nó học cái thì người ta làm cái mộ cái giả. Cái mộ giả thì nó là cái chuyện cái nhiều cái ở cái cái chợ cái mới.」
Tôi hỏi cái tên của cái ông ấy.
「Cái ông Chắt. Cái ông ấy thì ông ấy ở cái cái đầu cái làng, cái cạnh cái cái gốc cái cây cái đa. Cái nhà của ông ấy thì nó có cái cái đống cái đá ở cái trước cái cổng. Cái nhà mà nó có cái đá thì cái người ta biết cái là cái nhà đó.」
Tôi uống cái nước, tôi trả cái tiền, tôi đi.
Cái làng Đông thì nó tới ở cái giờ cái nắng cái cao. Cái làng thì nó giống cái làng của tôi, cái nhưng cái đường thì nó rộng, cái nhà thì nó nhiều cái mái ngói. Cái lò của cái ông Bá thì nó ở cái cạnh cái đường, cái khói thì nó đứng ở cái trên, cái màu của cái khói thì nó xám.
Cái nhà cái ông Chắt thì nó ở cái đầu làng. Cái đống đá thì nó ở cái trước cái cổng, cái đá thì nó nhiều cái loại, cái to cái nhỏ, cái nằm cái chồng.
Cái ông Chắt thì ông ấy ngồi ở cái dưới cái mái hiên, ông ấy đục cái một cái viên đá nhỏ. Cái tay ông ấy thì nó run, cái run cái nhưng cái búa thì nó ăn cái đúng cái chỗ.
Tôi đứng ở ngoài cái cổng, tôi chờ. Cái người già thì người ta không gọi cái khi người đó đục. Cái đục thì nó là cái chuyện cái một cái hơi thở.
Cái viên đá xong thì ông ấy đặt cái đục, ông ấy ngẩng.
「Cái con cái nhà nào.」
「Dạ. Con là Lư Kiều Nguyệt, cái nhà cái Lư, cái làng cái bên kia cái sông. Con đến cái xin cái ông một cái chuyện.」
Ông ấy nhìn cái bao ở cái vai tôi.
「Cái người mà nó đi cái đường cái mười cái cây số thì người đó không xin cái chuyện cái nhỏ. Cái mày đặt cái bao xuống, rồi mày nói.」
Tôi đặt cái bao ở cái cái bậc. Tôi nói cái chuyện: cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm, cái gò, cái bia, cái huyện cho cái sáu cái tháng, cái chữ của cái ông Hương bộ, cái đá ong của cái gò.
Tôi nói xong thì ông ấy ngồi im cái một cái lúc.
「Cái đá ong của cái gò của các con thì tao biết. Cái đá đó thì nó ở cái cái núi cái mười cái cây số về cái phía bắc. Cái người đục cái đá đó thì cái năm xưa là tao. Cái tao đục cái đá đó cái ba mươi cái năm trước, cái khi cái ông Cả của cái làng các con cho cái người ta làm cái cái lô cái mộ. Cái bia của cái mộ đó thì tao đục cái chữ. Cái chữ đó thì tao còn nhớ cái từng cái nét.」
Cái tay tôi thì nó lạnh.
「Cái chữ gì, ông.」
「Cái chữ 『Nguyễn Thị Năm』. Cái dòng thứ nhất. Cái dòng thứ hai thì nó là cái chỗ. Cái dòng thứ ba thì nó là cái tên cái người lập. Cái tên cái người lập thì nó là cái tên của cái ông Cả. Cái ông Cả cho cái tiền, cho nên cái bia nó ghi cái tên của cái ông Cả ở cái dòng cái lập. Cái bà Cả cái bây giờ thì bà ấy là cái vợ của cái ông Cả. Cho nên cái bà ấy đập cái bia. Bà ấy đập vì cái bia nó nói cái cái bà ấy không muốn cái người ta biết.」
Rồi ông ấy cười, cái cười cái khô.
「Cái bà ấy đập cái bia cái nhưng bà ấy không đập được cái đá. Cái đá mà nó đã ở cái gò thì cái đá nó ở đó. Cho nên cái con đến đây để xin cái tao đục cái cái bia cái mới, ở trên cái cái đá của cái bia cái cũ.」
「Dạ.」
Cái ông Chắt đứng dậy, ông ấy đi vào cái nhà, ông ấy mang ra cái một cái cái khay gỗ. Trong cái khay thì nó có cái mấy cái giấy, cái giấy thì nó ngả cái màu.
「Cái đây thì nó là cái bản cái chữ. Cái tao đục cái cái gì thì tao viết ra trước, rồi cái tao đục theo cái bản. Cái cái bản của cái bia của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó ở cái dưới cái đống này. Cái ba mươi cái năm nó nằm ở đó.」
Ông ấy lật, cái tay ông ấy thì nó run, ông ấy tìm cái một cái lúc, rồi ông ấy đưa cho tôi.
Cái giấy thì nó ngả cái vàng. Trên đó thì nó là cái chữ quốc ngữ, cái viết bằng cái bút mực, cái nét nó thẳng.
『Nguyễn Thị Năm. Ở cái gò, cái thửa bảy, cái làng bên sông. Cái bia do cái ông Trần Văn Cả lập.』
Tôi đọc, cái tôi đọc cái hai cái lần.
Cái ông Chắt nói.
「Cái con muốn cái tao đục lại thì tao đục lại. Cái cái dòng thứ ba thì cái con đổi, cái đổi thành cái tên của cái làng, cái không phải cái tên của cái ông Cả. Cái cái chữ thì nó là cái chuyện của cái con. Mà cái tay thì nó là cái chuyện của tao. Cái tao đục cái một cái cái bia cái nữa thì cái tao làm cái theo cái cái giá của cái tao. Cái giá của tao thì nó không phải cái tiền.」
Tôi hỏi cái giá là cái gì.
「Cái giá của tao thì nó là cái cái hứa. Cái con hứa với tao một cái chuyện: cái bia mà nó dựng lên thì nó ở cái đó cái cho đến cái khi cái cái mộ nó không còn. Cái người mà nó đập cái bia cái lần thứ hai thì cái người đó phải qua cái cái tay của cái làng. Cái làng của con phải ghi ở cái sổ: cái bia này là cái bia cái của cái làng, cái đập cái bia là cái đập cái chuyện của cái làng. Cái con làm được cái dòng đó thì cái tao đục.」
Tôi nói dạ ngay.
Cái ông Chắt lắc cái đầu.
「Cái dạ cái nhanh thì nó là cái dạ của cái người chưa nghĩ. Cái con về, cái con làm cái dòng ở cái sổ, cái con mang cái cái tờ của cái lý trưởng ký. Cái tờ mà nó có cái dấu thì cái con mang nó đến đây. Cái tao đợi. Cái tao già, cái thời gian của tao thì tao dùng cái chậm.」
Rồi ông ấy nhìn cái bao ở cái bậc.
「Cái gói đó là cái gì.」
「Dạ. Bún tôm. Cái má con làm.」
Ông ấy nhận, ông ấy mở, ông ấy ngửi.
「Cái má của con làm cái bún tôm cái ngon. Cái mùi của cái này thì nó là cái mùi của cái cái làng bên sông. Cái ba mươi cái năm trước cái tao làm cái cái bia ở cái làng của con, cái người ta cho tao ăn cái bún tôm. Cái mùi đó thì tao nhớ.」
Rồi ông ấy nói cái câu cuối.
「Cái mùi mà nó nhớ thì cái tay nó nhớ. Cái con về đi. Cái tao đục cái theo cái cái giấy. Cái giấy mà nó có cái dấu của cái lý trưởng và cái dấu của cái làng thì cái tay của tao nó không run.」
Cái ông Chắt ngồi lại cái dưới cái mái hiên, ông ấy lại đục.
Cái tôi đứng ở ngoài cái cổng cái một cái lúc, cái tôi nhìn cái tay của ông ấy.
Cái tay phải cầm cái búa, cái tay trái cầm cái đục. Cái đục thì nó đặt ở cái trên cái đá, cái búa thì nó gõ, cái gõ cái một cái nhát, cái đục nó đi cái một cái bước. Cái bước thì nó bằng cái một cái milimet. Cái ông ấy làm cái như thế cái đến cái khi cái cái viên đá nó có cái chữ.
Cái chữ mà nó làm bằng cái cách đó thì cái chữ đó nó không sai được. Cái sai thì nó phải gõ lại. Cái đá mà nó gõ lại thì cái miếng nó sứt. Cho nên cái tay của cái người già thì nó không gõ lại. Cái tay đó nó chỉ gõ cái đúng.
Cái tôi đi ra khỏi cái cổng, cái tôi nghĩ cái một cái câu mà cái tôi không nói ra.
Cái người mà nó đục cái mộ của cái bà tôi thì cái người đó cái bây giờ đục cái mộ cho cái nhà tôi. Cái ba mươi cái năm ở cái giữa cái hai cái lần đục thì nó là cái ba mươi cái năm của cái cái mộ không tên.
Cái bia nó thiếu cái chữ cái ba mươi cái năm. Cái bây giờ cái chữ nó đi tìm cái tay cái cũ.
Tôi đi về. Cái đường thì nó dài hơn cái khi đi. Cái nắng thì nó xuống ở cái phía sau cái lưng.
Cái ở cái cái ngã ba thì tôi nghĩ cái câu của cái ông Chắt.
Cái bia mà nó ở đó cho đến khi cái mộ không còn. Cái câu đó thì nó là cái câu cái lớn. Cái lớn ở chỗ nó không nói cái ba mươi cái năm. Nó nói cái luôn luôn.
Cái về đến nhà thì cái trời nó tối. Cái má tôi đốt cái đèn, bà ấy hỏi cái ông Chắt nói cái gì.
Tôi kể. Bà ấy nghe, rồi bà ấy nói.
「Cái người đục cái đá thì cái người đó biết cái cái gì nó ở trong cái đá. Cái đá mà nó nằm cái ba mươi cái năm thì cái chữ nó nằm theo. Cái con đi cái xin cái tay, cái mà cái con mang về cái một cái lời hứa. Cái lời hứa thì nó nặng hơn cái đá. Cho nên cái con phải làm cái dòng ở cái sổ trước khi cái con mang cái giấy ra cái làng Đông.」
Cái sáng hôm sau thì tôi đi cái đình. Cái tôi nói cái với cái lý trưởng cái chuyện của cái ông Chắt: cái bia thì nó phải ghi ở cái sổ cái đình, cái dòng thì nó nói cái bia là cái của cái làng, cái đập cái bia là cái đập cái chuyện của cái làng.
Cái lý trưởng nghe, ông ấy hỏi cái ông Hương bộ.
「Cái dòng đó thì nó viết cái thế nào cho cái nó đúng.」
Cái ông Hương bộ nghĩ, rồi ông ấy viết.
『Cái bia của cái mộ Nguyễn Thị Năm là cái bia của cái làng. Cái người mà nó đập cái bia thì cái người đó đập cái chuyện của cái làng. Cái chuyện của cái làng thì cái làng xử.』
Cái lý trưởng ký, cái ông Hương bộ đóng cái dấu, cái ông Đồ thì ông ấy làm cái cái trần cái giấy, cái giấy thì nó gấp cái ba, cái bọc bằng cái lá chuối khô.
Cái ông Từ thì ông ấy đứng ở cái cạnh, ông ấy nói với tôi cái một cái câu khi tôi nhận cái giấy.
「Cái giấy này thì nó là cái giấy cái thứ tư của cái nhà mày. Cái thứ nhất thì nó là cái biên bản cái mồng mười lăm. Cái thứ hai thì nó là cái biên bản cái lễ. Cái thứ ba thì nó là cái biên bản cái mốc. Cái thứ tư thì nó là cái giấy cái bia. Cái bốn cái giấy thì nó bốn cái chuyện. Mà cái bốn cái chuyện thì nó là cái một cái chuyện: cái mộ cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó là cái mộ cái có cái tên, cái tên có cái người giữ, cái người giữ có cái làng đứng ở cái sau lưng. Cái con mang cái giấy đó đi. Cái con mang cái không chỉ cái chữ. Con mang cái cái làng.」
Tôi cầm cái giấy, cái tôi bọc vô cái trong cái áo, cái sát cái ngực.
Tôi thắt cái nút thứ ba mươi hai.
Cái nút này thì nó là cái lời hứa.
Cái đường ra cái làng Đông thì nó qua cái cái đê, cái qua cái cái chợ cái giữa, cái qua cái cái rừng cái cao su. Cái rừng thì nó cao, cái lá thì nó che cái nắng, cái đường thì nó đỏ, cái đất thì nó bụi.
Tôi đi cái từ cái giờ cái gà gáy. Cái bao thì nó ở cái trên cái vai, cái bún tôm thì nó ở cái trong, cái dây thì nó buộc cái chặt.
Cái giữa cái đường thì tôi dừng ở cái cái quán nước ở cái cái ngã ba. Cái bà bán nước hỏi tôi đi đâu.
「Dạ. Con đi cái làng Đông.」
「Cái làng Đông thì cái làng Đông nó có cái lò. Cái người đi cái làng Đông thì cái người đó đi cái bán cái củi hoặc cái mua cái gạch. Cái mày đi làm cái gì.」
「Dạ. Con đi cái xin cái tay đục.」
Cái bà lắc cái đầu.
「Cái thợ đá của cái làng Đông thì nó chỉ còn cái một cái người. Cái người đó thì nó già. Cái người ta nói cái tay của ông ấy thì nó đục cái cái mộ của cái cả cái cái huyện. Cái ông ấy không nhận cái học trò, cái vì cái người ta mà nó học cái thì người ta làm cái mộ cái giả. Cái mộ giả thì nó là cái chuyện cái nhiều cái ở cái cái chợ cái mới.」
Tôi hỏi cái tên của cái ông ấy.
「Cái ông Chắt. Cái ông ấy thì ông ấy ở cái cái đầu cái làng, cái cạnh cái cái gốc cái cây cái đa. Cái nhà của ông ấy thì nó có cái cái đống cái đá ở cái trước cái cổng. Cái nhà mà nó có cái đá thì cái người ta biết cái là cái nhà đó.」
Tôi uống cái nước, tôi trả cái tiền, tôi đi.
Cái làng Đông thì nó tới ở cái giờ cái nắng cái cao. Cái làng thì nó giống cái làng của tôi, cái nhưng cái đường thì nó rộng, cái nhà thì nó nhiều cái mái ngói. Cái lò của cái ông Bá thì nó ở cái cạnh cái đường, cái khói thì nó đứng ở cái trên, cái màu của cái khói thì nó xám.
Cái nhà cái ông Chắt thì nó ở cái đầu làng. Cái đống đá thì nó ở cái trước cái cổng, cái đá thì nó nhiều cái loại, cái to cái nhỏ, cái nằm cái chồng.
Cái ông Chắt thì ông ấy ngồi ở cái dưới cái mái hiên, ông ấy đục cái một cái viên đá nhỏ. Cái tay ông ấy thì nó run, cái run cái nhưng cái búa thì nó ăn cái đúng cái chỗ.
Tôi đứng ở ngoài cái cổng, tôi chờ. Cái người già thì người ta không gọi cái khi người đó đục. Cái đục thì nó là cái chuyện cái một cái hơi thở.
Cái viên đá xong thì ông ấy đặt cái đục, ông ấy ngẩng.
「Cái con cái nhà nào.」
「Dạ. Con là Lư Kiều Nguyệt, cái nhà cái Lư, cái làng cái bên kia cái sông. Con đến cái xin cái ông một cái chuyện.」
Ông ấy nhìn cái bao ở cái vai tôi.
「Cái người mà nó đi cái đường cái mười cái cây số thì người đó không xin cái chuyện cái nhỏ. Cái mày đặt cái bao xuống, rồi mày nói.」
Tôi đặt cái bao ở cái cái bậc. Tôi nói cái chuyện: cái mộ của cái bà Nguyễn Thị Năm, cái gò, cái bia, cái huyện cho cái sáu cái tháng, cái chữ của cái ông Hương bộ, cái đá ong của cái gò.
Tôi nói xong thì ông ấy ngồi im cái một cái lúc.
「Cái đá ong của cái gò của các con thì tao biết. Cái đá đó thì nó ở cái cái núi cái mười cái cây số về cái phía bắc. Cái người đục cái đá đó thì cái năm xưa là tao. Cái tao đục cái đá đó cái ba mươi cái năm trước, cái khi cái ông Cả của cái làng các con cho cái người ta làm cái cái lô cái mộ. Cái bia của cái mộ đó thì tao đục cái chữ. Cái chữ đó thì tao còn nhớ cái từng cái nét.」
Cái tay tôi thì nó lạnh.
「Cái chữ gì, ông.」
「Cái chữ 『Nguyễn Thị Năm』. Cái dòng thứ nhất. Cái dòng thứ hai thì nó là cái chỗ. Cái dòng thứ ba thì nó là cái tên cái người lập. Cái tên cái người lập thì nó là cái tên của cái ông Cả. Cái ông Cả cho cái tiền, cho nên cái bia nó ghi cái tên của cái ông Cả ở cái dòng cái lập. Cái bà Cả cái bây giờ thì bà ấy là cái vợ của cái ông Cả. Cho nên cái bà ấy đập cái bia. Bà ấy đập vì cái bia nó nói cái cái bà ấy không muốn cái người ta biết.」
Rồi ông ấy cười, cái cười cái khô.
「Cái bà ấy đập cái bia cái nhưng bà ấy không đập được cái đá. Cái đá mà nó đã ở cái gò thì cái đá nó ở đó. Cho nên cái con đến đây để xin cái tao đục cái cái bia cái mới, ở trên cái cái đá của cái bia cái cũ.」
「Dạ.」
Cái ông Chắt đứng dậy, ông ấy đi vào cái nhà, ông ấy mang ra cái một cái cái khay gỗ. Trong cái khay thì nó có cái mấy cái giấy, cái giấy thì nó ngả cái màu.
「Cái đây thì nó là cái bản cái chữ. Cái tao đục cái cái gì thì tao viết ra trước, rồi cái tao đục theo cái bản. Cái cái bản của cái bia của cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó ở cái dưới cái đống này. Cái ba mươi cái năm nó nằm ở đó.」
Ông ấy lật, cái tay ông ấy thì nó run, ông ấy tìm cái một cái lúc, rồi ông ấy đưa cho tôi.
Cái giấy thì nó ngả cái vàng. Trên đó thì nó là cái chữ quốc ngữ, cái viết bằng cái bút mực, cái nét nó thẳng.
『Nguyễn Thị Năm. Ở cái gò, cái thửa bảy, cái làng bên sông. Cái bia do cái ông Trần Văn Cả lập.』
Tôi đọc, cái tôi đọc cái hai cái lần.
Cái ông Chắt nói.
「Cái con muốn cái tao đục lại thì tao đục lại. Cái cái dòng thứ ba thì cái con đổi, cái đổi thành cái tên của cái làng, cái không phải cái tên của cái ông Cả. Cái cái chữ thì nó là cái chuyện của cái con. Mà cái tay thì nó là cái chuyện của tao. Cái tao đục cái một cái cái bia cái nữa thì cái tao làm cái theo cái cái giá của cái tao. Cái giá của tao thì nó không phải cái tiền.」
Tôi hỏi cái giá là cái gì.
「Cái giá của tao thì nó là cái cái hứa. Cái con hứa với tao một cái chuyện: cái bia mà nó dựng lên thì nó ở cái đó cái cho đến cái khi cái cái mộ nó không còn. Cái người mà nó đập cái bia cái lần thứ hai thì cái người đó phải qua cái cái tay của cái làng. Cái làng của con phải ghi ở cái sổ: cái bia này là cái bia cái của cái làng, cái đập cái bia là cái đập cái chuyện của cái làng. Cái con làm được cái dòng đó thì cái tao đục.」
Tôi nói dạ ngay.
Cái ông Chắt lắc cái đầu.
「Cái dạ cái nhanh thì nó là cái dạ của cái người chưa nghĩ. Cái con về, cái con làm cái dòng ở cái sổ, cái con mang cái cái tờ của cái lý trưởng ký. Cái tờ mà nó có cái dấu thì cái con mang nó đến đây. Cái tao đợi. Cái tao già, cái thời gian của tao thì tao dùng cái chậm.」
Rồi ông ấy nhìn cái bao ở cái bậc.
「Cái gói đó là cái gì.」
「Dạ. Bún tôm. Cái má con làm.」
Ông ấy nhận, ông ấy mở, ông ấy ngửi.
「Cái má của con làm cái bún tôm cái ngon. Cái mùi của cái này thì nó là cái mùi của cái cái làng bên sông. Cái ba mươi cái năm trước cái tao làm cái cái bia ở cái làng của con, cái người ta cho tao ăn cái bún tôm. Cái mùi đó thì tao nhớ.」
Rồi ông ấy nói cái câu cuối.
「Cái mùi mà nó nhớ thì cái tay nó nhớ. Cái con về đi. Cái tao đục cái theo cái cái giấy. Cái giấy mà nó có cái dấu của cái lý trưởng và cái dấu của cái làng thì cái tay của tao nó không run.」
Cái ông Chắt ngồi lại cái dưới cái mái hiên, ông ấy lại đục.
Cái tôi đứng ở ngoài cái cổng cái một cái lúc, cái tôi nhìn cái tay của ông ấy.
Cái tay phải cầm cái búa, cái tay trái cầm cái đục. Cái đục thì nó đặt ở cái trên cái đá, cái búa thì nó gõ, cái gõ cái một cái nhát, cái đục nó đi cái một cái bước. Cái bước thì nó bằng cái một cái milimet. Cái ông ấy làm cái như thế cái đến cái khi cái cái viên đá nó có cái chữ.
Cái chữ mà nó làm bằng cái cách đó thì cái chữ đó nó không sai được. Cái sai thì nó phải gõ lại. Cái đá mà nó gõ lại thì cái miếng nó sứt. Cho nên cái tay của cái người già thì nó không gõ lại. Cái tay đó nó chỉ gõ cái đúng.
Cái tôi đi ra khỏi cái cổng, cái tôi nghĩ cái một cái câu mà cái tôi không nói ra.
Cái người mà nó đục cái mộ của cái bà tôi thì cái người đó cái bây giờ đục cái mộ cho cái nhà tôi. Cái ba mươi cái năm ở cái giữa cái hai cái lần đục thì nó là cái ba mươi cái năm của cái cái mộ không tên.
Cái bia nó thiếu cái chữ cái ba mươi cái năm. Cái bây giờ cái chữ nó đi tìm cái tay cái cũ.
Tôi đi về. Cái đường thì nó dài hơn cái khi đi. Cái nắng thì nó xuống ở cái phía sau cái lưng.
Cái ở cái cái ngã ba thì tôi nghĩ cái câu của cái ông Chắt.
Cái bia mà nó ở đó cho đến khi cái mộ không còn. Cái câu đó thì nó là cái câu cái lớn. Cái lớn ở chỗ nó không nói cái ba mươi cái năm. Nó nói cái luôn luôn.
Cái về đến nhà thì cái trời nó tối. Cái má tôi đốt cái đèn, bà ấy hỏi cái ông Chắt nói cái gì.
Tôi kể. Bà ấy nghe, rồi bà ấy nói.
「Cái người đục cái đá thì cái người đó biết cái cái gì nó ở trong cái đá. Cái đá mà nó nằm cái ba mươi cái năm thì cái chữ nó nằm theo. Cái con đi cái xin cái tay, cái mà cái con mang về cái một cái lời hứa. Cái lời hứa thì nó nặng hơn cái đá. Cho nên cái con phải làm cái dòng ở cái sổ trước khi cái con mang cái giấy ra cái làng Đông.」
Cái sáng hôm sau thì tôi đi cái đình. Cái tôi nói cái với cái lý trưởng cái chuyện của cái ông Chắt: cái bia thì nó phải ghi ở cái sổ cái đình, cái dòng thì nó nói cái bia là cái của cái làng, cái đập cái bia là cái đập cái chuyện của cái làng.
Cái lý trưởng nghe, ông ấy hỏi cái ông Hương bộ.
「Cái dòng đó thì nó viết cái thế nào cho cái nó đúng.」
Cái ông Hương bộ nghĩ, rồi ông ấy viết.
『Cái bia của cái mộ Nguyễn Thị Năm là cái bia của cái làng. Cái người mà nó đập cái bia thì cái người đó đập cái chuyện của cái làng. Cái chuyện của cái làng thì cái làng xử.』
Cái lý trưởng ký, cái ông Hương bộ đóng cái dấu, cái ông Đồ thì ông ấy làm cái cái trần cái giấy, cái giấy thì nó gấp cái ba, cái bọc bằng cái lá chuối khô.
Cái ông Từ thì ông ấy đứng ở cái cạnh, ông ấy nói với tôi cái một cái câu khi tôi nhận cái giấy.
「Cái giấy này thì nó là cái giấy cái thứ tư của cái nhà mày. Cái thứ nhất thì nó là cái biên bản cái mồng mười lăm. Cái thứ hai thì nó là cái biên bản cái lễ. Cái thứ ba thì nó là cái biên bản cái mốc. Cái thứ tư thì nó là cái giấy cái bia. Cái bốn cái giấy thì nó bốn cái chuyện. Mà cái bốn cái chuyện thì nó là cái một cái chuyện: cái mộ cái bà Nguyễn Thị Năm thì nó là cái mộ cái có cái tên, cái tên có cái người giữ, cái người giữ có cái làng đứng ở cái sau lưng. Cái con mang cái giấy đó đi. Cái con mang cái không chỉ cái chữ. Con mang cái cái làng.」
Tôi cầm cái giấy, cái tôi bọc vô cái trong cái áo, cái sát cái ngực.
Tôi thắt cái nút thứ ba mươi hai.
Cái nút này thì nó là cái lời hứa.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút
Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay
Chương 78: Cái nhà cái cổng mở
Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối
Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên
Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt
Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò
Chương 73: Cái đường gạch
Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới
Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia
Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà
Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối
Chương 68: Cái học trò của cái lò
Chương 67: Cái vụ cái xuân
Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh
Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông
Chương 64: Cái trầu qua cái sông
Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu
Chương 62: Cái giếng của cái làng
Chương 61: Cái sông dạy cái bơi
Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai
Chương 59: Cái nhà cái cổng kín
Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Chương 57: Cái nét đầu tiên
Chương 56: Cái đá đi
Chương 55: Cái tay đục
Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện
Chương 53: Cái tai của cái chợ
Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng
Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay
Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân
Chương 49: Cái bún tôm
Chương 48: Cái mốc đá
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm