Chương 57: Cái nét đầu tiên
Chương 57: Cái nét đầu tiên
Cái sáng cái hôm sau thì cái ông Chắt bắt đầu.
Ông ấy không đục ngay. Ông ấy ngồi ở cái cạnh cái đá cái một cái canh, cái tay ông ấy thì nó vuốt cái mặt cái đá, cái mắt thì nó nhìn cái cái rãnh cái cũ. Rồi ông ấy lấy cái vôi, ông ấy vẽ cái một cái cái khung ở cái mặt trên, cái khung thì nó là cái cái chỗ của cái bốn cái dòng.
Cái khung xong thì ông ấy nhìn cái khung cái một cái lúc, rồi ông ấy xóa cái một cái cái mép, ông ấy vẽ lại.
Cái cha tôi hỏi cái tại sao.
「Cái khung mà nó sai cái một cái cái ngón thì cái chữ cái trong nó sai cái một cái cái bắp. Cái tao vẽ cái hai cái lần, cái lần thứ nhất cho cái mắt, cái lần thứ hai cho cái tay. Cái tay mà nó nhìn cái khung cái lần thứ hai thì cái tay nó không sai.」
Cái buổi sáng thì ông ấy đục cái lớp đất nung ở cái trên. Cái đục cái mũi bằng, cái búa cái nhẹ, cái tiếng thì nó nhỏ, cái đều, cái kêu cái như cái tiếng cái quả thực cái rơi.
Cái lớp đất nung thì nó ra cái từng cái cái miếng. Cái dưới cái lớp thì cái chữ cũ nó lộ ra. Cái chữ 『Nguyễn』 cái đầu tiên, cái rãnh thì nó còn, cái rãnh thì nó sâu cái nửa cái phân.
Cái người thì nó đến coi. Cái bà Hợi, cái cô Sáu, cái cha con cái thằng Đực, cái con Sen. Cái người thì nó đứng ở cái mép cái gò, cái đứng cái im, cái không ai nói cái gì. Cái tiếng đục thì nó là cái tiếng cái duy nhất.
Cái chiều thì cái ông Chắt dừng. Ông ấy thổi cái bụi, ông ấy nhìn cái chữ, ông ấy nói cái với cái tôi.
「Cái chữ 『Nguyễn』 thì nó ra. Cái rãnh thì nó còn cái mười cái chín cái cái. Cái tao đục cái theo. Cái tay tao cái bây giờ thì nó đi cái trong cái rãnh của cái tay tao cái năm cái mười cái tám cái tuổi. Cái tay cái trẻ thì nó đục cái mạnh hơn. Cái chỗ cái mạnh thì cái tao phải cái đục cái nhẹ. Cái nhẹ mà nó đều thì cái rãnh nó không to. Cái rãnh mà nó không to thì cái chữ nó giữ cái cái nét.」
Cái đêm đầu tiên thì cái cha tôi và cái thằng Đực trực ở cái gò. Cái cha tôi mang cái cái chiếu, cái ông ấy nằm ở cái cạnh cái cái chân cái bia. Cái thằng Đực nằm ở cái mép.
Cái đêm thứ hai thì cái ông Đồ trực. Ông ấy mang cái cái đèn bão, ông ấy đặt ở cái cái chân cái cây.
Cái đêm thứ hai thì có cái chuyện.
Cái canh hai thì cái thằng Đực thức, nó nghe cái tiếng cái guốc ở cái con đường cái chạy dọc cái gò. Cái tiếng thì nó đi, cái đi cái chậm, cái dừng ở cái chỗ cái cách cái mộ cái ba cái mươi cái bước. Cái tiếng dừng cái một cái lúc, rồi nó đi cái về.
Cái sáng thì cái thằng Đực kể. Cái ông Chắt nghe, ông ấy không nói cái gì, ông ấy đục.
Cái ông Từ đến, ông ấy hỏi cái con đường.
「Cái guốc mà nó dừng ở cái ba cái mươi cái bước thì cái người đó đứng ở cái chỗ cái người ta nhìn cái thấy cái cái mặt cái bia mà cái không nhìn thấy cái người trực. Cái chỗ đó thì nó là cái chỗ cái mắt. Cái người mà nó lấy cái chỗ cái mắt thì người đó về để cái tính. Cái tính xong thì người đó sẽ cái quay lại. Cái quay lại thì nó không phải cái đêm thứ ba. Nó là cái đêm mà cái cái chân cái bia nó chưa khô.」
Cái cha tôi gật. Cái chân cái bia thì cái vữa còn ướt, cái khô cái còn một cái nắng.
Cái đêm thứ ba thì cái chúng tôi không trực ở cái gò. Cái chúng tôi trực ở cái ba cái chỗ, cái chỗ cái đầu con đường, cái chỗ cái giữa, cái chỗ cái cạnh cái cái sân cái đình. Cái người trực thì nó là cái cha tôi, cái thằng Đực, cái ông Đồ.
Cái canh hai thì cái tiếng cái guốc lại đi. Cái lần này thì cái tiếng đi cái vào cái con đường cái chạy dọc, cái đi đến cái chỗ cái ba cái mươi cái bước, cái dừng.
Cái thằng Đực không nằm im. Nó đốt cái một cái cái bó rơm ở cái chỗ cái giữa, cái lửa thì nó đứng lên, cái sáng cái một cái vùng.
Cái tiếng guốc thì nó đi cái về cái nhanh.
Cái sáng thì cái ông Từ nghe cái kể, ông ấy nói.
「Cái lửa mà nó đứng lên thì cái người mà nó đứng ở cái tối thì người đó sợ. Cái người mà nó sợ thì người đó không quay lại cái lần nữa. Cái người ta mà nó muốn cái đập thì nó phải cái chắc cái rằng cái không có cái ai thấy. Cái lửa thì nó làm cho cái người ta không chắc. Cái không chắc thì nó là cái cái tường. Cái tường thì nó không cần cái cái gạch.」
Cái buổi chiều cái ngày thứ ba thì cái ông Chắt đục xong cái dòng thứ nhất.
Cái ngày thứ hai thì ông ấy đục cái dòng thứ hai. Cái dòng thứ hai thì nó là cái chỗ: 『Ở cái gò, cái thửa bảy』. Cái dòng này thì nó ngắn hơn cái dòng thứ nhất, cái nhưng cái đục thì nó không nhanh hơn. Cái chữ 『thửa』 thì nó có cái cái móc, cái móc thì nó nhỏ, cái đục cái móc thì cái búa phải cái gõ cái một cái cái hơi.
Cái ông Chắt đục cái móc, ông ấy dừng, ông ấy thổi, ông ấy nhìn cái móc cái một cái lúc, rồi ông ấy đục cái cái nét cái tiếp.
Cái con Sen thì nó bưng cái nước cho ông ấy mỗi cái giờ. Cái bà Hợi thì bà ấy nấu cái chè, bà ấy mang ra cái gò cái một cái cái bát. Cái ông Chắt ăn, ông ấy ăn cái hết, cái bát mà nó hết thì ông ấy đưa cái trả, ông ấy nói cảm ơn.
Cái ông ấy nói với tôi ở cái giờ cái nghỉ cái trưa.
「Cái người mà nó đục thì người đó ăn cái theo cái tiếng của cái tay. Cái tay mà nó nóng thì cái người ăn. Cái tay mà nó lạnh thì cái người đục. Cái tay của tao thì cái bây giờ nó nóng. Cho nên tao ăn. Cái ăn xong thì tay nó lạnh lại, cái tay mà nó lạnh thì cái đục nó chắc.」
Cái dòng thứ nhất thì nó là cái tên: 『Nguyễn Thị Năm』.
Cái ông Chắt thổi cái bụi, cái chữ thì nó đứng ở cái trên cái đá, cái nét nó rõ, cái rãnh thì nó sạch.
Cái bà Hợi quỳ xuống, bà ấy đưa cái tay, bà ấy sờ cái chữ, bà ấy rút cái tay lại, bà ấy quỳ, bà ấy lạy cái một cái cái lạy.
Cái con Sen quỳ theo. Cái cô Sáu quỳ theo.
Cái má tôi thì bà ấy không quỳ. Bà ấy đứng, cái tay bà ấy thì nó chắp ở cái trước, cái mắt bà ấy thì nó có cái nước, cái nước thì nó không rơi.
Cái ông Chắt đứng dậy, cái chân ông ấy thì nó run, ông ấy chống cái đục để đứng.
Rồi ông ấy nói cái câu mà cái tôi sẽ nhớ.
「Cái chữ mà nó ra khỏi cái đá thì cái người không về trong cái đất nữa. Cái người mà nó ở cái trên cái mặt cái đá thì cái người đó ở cái trên cái đầu của cái người đi qua. Cái người đi qua mà nó ngẩng lên đọc thì người đó phải cúi cái đầu ở cái trước cái chữ. Cái cúi thì nó là cái cái lạy. Cái lạy mà nó không cần ai dạy thì cái chữ nó đúng.」
Cái ngày thứ ba thì ông ấy đục cái dòng thứ ba và cái dòng thứ tư.
Cái dòng thứ ba thì nó là cái dòng của cái làng. Cái ông Hương bộ đến, ông ấy viết cái cái bản cho cái ông Chắt, cái bản thì nó ghi: 『Cái làng lập, cái ngày rằm cái tháng chín』. Cái ông Chắt đục cái theo cái bản.
Cái dòng thứ tư thì nó là cái dòng cái con trai. Cái dòng này thì cái ông Chắt đục cái ở cái chỗ cái dưới cùng, cái chữ thì nó dài: 『Cái con trai của cái người nằm ở đây thì cái người đó đứng ở cái bia này cái ngày cái làng dựng nó』.
Cái đục đến cái chữ 『con trai』 thì cái ông Chắt dừng cái lâu hơn. Ông ấy nhìn cái tôi.
「Cái dòng này thì nó là cái dòng của cái người sống. Cái tao đục cái các cái dòng cái chết thì cái tao đục cái cho cái người nằm. Cái tao đục cái cái dòng sống thì tao đục cho cái người đứng. Cái người đứng mà nó đọc cái dòng của người đó thì cái người đó cái nhớ cái cái lần này cái cho đến cái khi người đó già. Cái người mà nó già rồi mà nó còn cái nhớ thì cái dòng nó không mất.」
Cái ông Chắt đục xong cái dòng thứ tư ở cái giờ cái xế chiều. Ông ấy thổi cái bụi cái lần cuối, ông ấy vuốt cái mặt cái đá bằng cái bàn tay, cái bàn tay thì nó dừng ở cái chữ cuối.
Rồi ông ấy ngồi xuống, ông ấy ngồi cái im cái một cái canh. Cái người thì nó không dám gọi. Cái ông ấy ngồi ở cái cạnh cái cái bia cái thứ mười chín của cái đời ông ấy, cái bia mà nó có cái bốn cái dòng, cái bia mà nó được đục cái hai cái lần.
Cái tối thì tôi ngồi ở cái cạnh cái đá. Cái trời thì nó có cái sao. Cái ba cái dòng còn lại thì cái ông Chắt đục ở cái cái hai cái ngày, cái đục cái chậm, cái đục cái không vội.
Cái tôi ngồi, cái tôi đọc cái dòng thứ nhất cái một cái lần ở cái trong cái đầu.
Cái chữ 『Nguyễn Thị Năm』 thì nó ở cái trên cái đá. Cái người mà cái ba mươi cái năm nó không gọi cái tên thì cái bây giờ cái tên nó nằm ở cái chỗ cái mà cái mặt trời nó chiếu cái buổi sáng.
Cái cha tôi ra cái cạnh tôi, ông ấy ngồi.
「Cái cha đục cái không được. Cái tay cha thì nó cầm cái cuốc. Cái cuốc thì nó đào cái đất. Cái đục thì nó đào cái cái chữ. Cái hai cái chuyện đó thì nó giống nhau ở cái chỗ nó phải cái chắc. Cái nhưng cái cha thì cha chỉ làm được cái cái thứ nhất.」
Ông ấy nhìn cái bia.
「Cái cái thứ hai thì cái ông Chắt làm. Cái ông Từ làm cái cái thứ ba, cái cái thứ ba là cái cái giấy. Cái con làm cái cái thứ tư, cái cái thứ tư là cái cái đi. Cái nhà mà nó không có cái ai cái đục và cái không có cái ai cái đi thì cái nhà đó nó có cái cái đất mà nó không có cái cái tên. Cái bây giờ thì cái nhà mình có cái cả hai.」
Cái dây gai thì nó ở cái cột. Tôi ra, tôi thắt cái nút thứ ba mươi tư.
Cái nút này thì nó là cái chữ.
Cái sáng cái hôm sau thì cái ông Chắt bắt đầu.
Ông ấy không đục ngay. Ông ấy ngồi ở cái cạnh cái đá cái một cái canh, cái tay ông ấy thì nó vuốt cái mặt cái đá, cái mắt thì nó nhìn cái cái rãnh cái cũ. Rồi ông ấy lấy cái vôi, ông ấy vẽ cái một cái cái khung ở cái mặt trên, cái khung thì nó là cái cái chỗ của cái bốn cái dòng.
Cái khung xong thì ông ấy nhìn cái khung cái một cái lúc, rồi ông ấy xóa cái một cái cái mép, ông ấy vẽ lại.
Cái cha tôi hỏi cái tại sao.
「Cái khung mà nó sai cái một cái cái ngón thì cái chữ cái trong nó sai cái một cái cái bắp. Cái tao vẽ cái hai cái lần, cái lần thứ nhất cho cái mắt, cái lần thứ hai cho cái tay. Cái tay mà nó nhìn cái khung cái lần thứ hai thì cái tay nó không sai.」
Cái buổi sáng thì ông ấy đục cái lớp đất nung ở cái trên. Cái đục cái mũi bằng, cái búa cái nhẹ, cái tiếng thì nó nhỏ, cái đều, cái kêu cái như cái tiếng cái quả thực cái rơi.
Cái lớp đất nung thì nó ra cái từng cái cái miếng. Cái dưới cái lớp thì cái chữ cũ nó lộ ra. Cái chữ 『Nguyễn』 cái đầu tiên, cái rãnh thì nó còn, cái rãnh thì nó sâu cái nửa cái phân.
Cái người thì nó đến coi. Cái bà Hợi, cái cô Sáu, cái cha con cái thằng Đực, cái con Sen. Cái người thì nó đứng ở cái mép cái gò, cái đứng cái im, cái không ai nói cái gì. Cái tiếng đục thì nó là cái tiếng cái duy nhất.
Cái chiều thì cái ông Chắt dừng. Ông ấy thổi cái bụi, ông ấy nhìn cái chữ, ông ấy nói cái với cái tôi.
「Cái chữ 『Nguyễn』 thì nó ra. Cái rãnh thì nó còn cái mười cái chín cái cái. Cái tao đục cái theo. Cái tay tao cái bây giờ thì nó đi cái trong cái rãnh của cái tay tao cái năm cái mười cái tám cái tuổi. Cái tay cái trẻ thì nó đục cái mạnh hơn. Cái chỗ cái mạnh thì cái tao phải cái đục cái nhẹ. Cái nhẹ mà nó đều thì cái rãnh nó không to. Cái rãnh mà nó không to thì cái chữ nó giữ cái cái nét.」
Cái đêm đầu tiên thì cái cha tôi và cái thằng Đực trực ở cái gò. Cái cha tôi mang cái cái chiếu, cái ông ấy nằm ở cái cạnh cái cái chân cái bia. Cái thằng Đực nằm ở cái mép.
Cái đêm thứ hai thì cái ông Đồ trực. Ông ấy mang cái cái đèn bão, ông ấy đặt ở cái cái chân cái cây.
Cái đêm thứ hai thì có cái chuyện.
Cái canh hai thì cái thằng Đực thức, nó nghe cái tiếng cái guốc ở cái con đường cái chạy dọc cái gò. Cái tiếng thì nó đi, cái đi cái chậm, cái dừng ở cái chỗ cái cách cái mộ cái ba cái mươi cái bước. Cái tiếng dừng cái một cái lúc, rồi nó đi cái về.
Cái sáng thì cái thằng Đực kể. Cái ông Chắt nghe, ông ấy không nói cái gì, ông ấy đục.
Cái ông Từ đến, ông ấy hỏi cái con đường.
「Cái guốc mà nó dừng ở cái ba cái mươi cái bước thì cái người đó đứng ở cái chỗ cái người ta nhìn cái thấy cái cái mặt cái bia mà cái không nhìn thấy cái người trực. Cái chỗ đó thì nó là cái chỗ cái mắt. Cái người mà nó lấy cái chỗ cái mắt thì người đó về để cái tính. Cái tính xong thì người đó sẽ cái quay lại. Cái quay lại thì nó không phải cái đêm thứ ba. Nó là cái đêm mà cái cái chân cái bia nó chưa khô.」
Cái cha tôi gật. Cái chân cái bia thì cái vữa còn ướt, cái khô cái còn một cái nắng.
Cái đêm thứ ba thì cái chúng tôi không trực ở cái gò. Cái chúng tôi trực ở cái ba cái chỗ, cái chỗ cái đầu con đường, cái chỗ cái giữa, cái chỗ cái cạnh cái cái sân cái đình. Cái người trực thì nó là cái cha tôi, cái thằng Đực, cái ông Đồ.
Cái canh hai thì cái tiếng cái guốc lại đi. Cái lần này thì cái tiếng đi cái vào cái con đường cái chạy dọc, cái đi đến cái chỗ cái ba cái mươi cái bước, cái dừng.
Cái thằng Đực không nằm im. Nó đốt cái một cái cái bó rơm ở cái chỗ cái giữa, cái lửa thì nó đứng lên, cái sáng cái một cái vùng.
Cái tiếng guốc thì nó đi cái về cái nhanh.
Cái sáng thì cái ông Từ nghe cái kể, ông ấy nói.
「Cái lửa mà nó đứng lên thì cái người mà nó đứng ở cái tối thì người đó sợ. Cái người mà nó sợ thì người đó không quay lại cái lần nữa. Cái người ta mà nó muốn cái đập thì nó phải cái chắc cái rằng cái không có cái ai thấy. Cái lửa thì nó làm cho cái người ta không chắc. Cái không chắc thì nó là cái cái tường. Cái tường thì nó không cần cái cái gạch.」
Cái buổi chiều cái ngày thứ ba thì cái ông Chắt đục xong cái dòng thứ nhất.
Cái ngày thứ hai thì ông ấy đục cái dòng thứ hai. Cái dòng thứ hai thì nó là cái chỗ: 『Ở cái gò, cái thửa bảy』. Cái dòng này thì nó ngắn hơn cái dòng thứ nhất, cái nhưng cái đục thì nó không nhanh hơn. Cái chữ 『thửa』 thì nó có cái cái móc, cái móc thì nó nhỏ, cái đục cái móc thì cái búa phải cái gõ cái một cái cái hơi.
Cái ông Chắt đục cái móc, ông ấy dừng, ông ấy thổi, ông ấy nhìn cái móc cái một cái lúc, rồi ông ấy đục cái cái nét cái tiếp.
Cái con Sen thì nó bưng cái nước cho ông ấy mỗi cái giờ. Cái bà Hợi thì bà ấy nấu cái chè, bà ấy mang ra cái gò cái một cái cái bát. Cái ông Chắt ăn, ông ấy ăn cái hết, cái bát mà nó hết thì ông ấy đưa cái trả, ông ấy nói cảm ơn.
Cái ông ấy nói với tôi ở cái giờ cái nghỉ cái trưa.
「Cái người mà nó đục thì người đó ăn cái theo cái tiếng của cái tay. Cái tay mà nó nóng thì cái người ăn. Cái tay mà nó lạnh thì cái người đục. Cái tay của tao thì cái bây giờ nó nóng. Cho nên tao ăn. Cái ăn xong thì tay nó lạnh lại, cái tay mà nó lạnh thì cái đục nó chắc.」
Cái dòng thứ nhất thì nó là cái tên: 『Nguyễn Thị Năm』.
Cái ông Chắt thổi cái bụi, cái chữ thì nó đứng ở cái trên cái đá, cái nét nó rõ, cái rãnh thì nó sạch.
Cái bà Hợi quỳ xuống, bà ấy đưa cái tay, bà ấy sờ cái chữ, bà ấy rút cái tay lại, bà ấy quỳ, bà ấy lạy cái một cái cái lạy.
Cái con Sen quỳ theo. Cái cô Sáu quỳ theo.
Cái má tôi thì bà ấy không quỳ. Bà ấy đứng, cái tay bà ấy thì nó chắp ở cái trước, cái mắt bà ấy thì nó có cái nước, cái nước thì nó không rơi.
Cái ông Chắt đứng dậy, cái chân ông ấy thì nó run, ông ấy chống cái đục để đứng.
Rồi ông ấy nói cái câu mà cái tôi sẽ nhớ.
「Cái chữ mà nó ra khỏi cái đá thì cái người không về trong cái đất nữa. Cái người mà nó ở cái trên cái mặt cái đá thì cái người đó ở cái trên cái đầu của cái người đi qua. Cái người đi qua mà nó ngẩng lên đọc thì người đó phải cúi cái đầu ở cái trước cái chữ. Cái cúi thì nó là cái cái lạy. Cái lạy mà nó không cần ai dạy thì cái chữ nó đúng.」
Cái ngày thứ ba thì ông ấy đục cái dòng thứ ba và cái dòng thứ tư.
Cái dòng thứ ba thì nó là cái dòng của cái làng. Cái ông Hương bộ đến, ông ấy viết cái cái bản cho cái ông Chắt, cái bản thì nó ghi: 『Cái làng lập, cái ngày rằm cái tháng chín』. Cái ông Chắt đục cái theo cái bản.
Cái dòng thứ tư thì nó là cái dòng cái con trai. Cái dòng này thì cái ông Chắt đục cái ở cái chỗ cái dưới cùng, cái chữ thì nó dài: 『Cái con trai của cái người nằm ở đây thì cái người đó đứng ở cái bia này cái ngày cái làng dựng nó』.
Cái đục đến cái chữ 『con trai』 thì cái ông Chắt dừng cái lâu hơn. Ông ấy nhìn cái tôi.
「Cái dòng này thì nó là cái dòng của cái người sống. Cái tao đục cái các cái dòng cái chết thì cái tao đục cái cho cái người nằm. Cái tao đục cái cái dòng sống thì tao đục cho cái người đứng. Cái người đứng mà nó đọc cái dòng của người đó thì cái người đó cái nhớ cái cái lần này cái cho đến cái khi người đó già. Cái người mà nó già rồi mà nó còn cái nhớ thì cái dòng nó không mất.」
Cái ông Chắt đục xong cái dòng thứ tư ở cái giờ cái xế chiều. Ông ấy thổi cái bụi cái lần cuối, ông ấy vuốt cái mặt cái đá bằng cái bàn tay, cái bàn tay thì nó dừng ở cái chữ cuối.
Rồi ông ấy ngồi xuống, ông ấy ngồi cái im cái một cái canh. Cái người thì nó không dám gọi. Cái ông ấy ngồi ở cái cạnh cái cái bia cái thứ mười chín của cái đời ông ấy, cái bia mà nó có cái bốn cái dòng, cái bia mà nó được đục cái hai cái lần.
Cái tối thì tôi ngồi ở cái cạnh cái đá. Cái trời thì nó có cái sao. Cái ba cái dòng còn lại thì cái ông Chắt đục ở cái cái hai cái ngày, cái đục cái chậm, cái đục cái không vội.
Cái tôi ngồi, cái tôi đọc cái dòng thứ nhất cái một cái lần ở cái trong cái đầu.
Cái chữ 『Nguyễn Thị Năm』 thì nó ở cái trên cái đá. Cái người mà cái ba mươi cái năm nó không gọi cái tên thì cái bây giờ cái tên nó nằm ở cái chỗ cái mà cái mặt trời nó chiếu cái buổi sáng.
Cái cha tôi ra cái cạnh tôi, ông ấy ngồi.
「Cái cha đục cái không được. Cái tay cha thì nó cầm cái cuốc. Cái cuốc thì nó đào cái đất. Cái đục thì nó đào cái cái chữ. Cái hai cái chuyện đó thì nó giống nhau ở cái chỗ nó phải cái chắc. Cái nhưng cái cha thì cha chỉ làm được cái cái thứ nhất.」
Ông ấy nhìn cái bia.
「Cái cái thứ hai thì cái ông Chắt làm. Cái ông Từ làm cái cái thứ ba, cái cái thứ ba là cái cái giấy. Cái con làm cái cái thứ tư, cái cái thứ tư là cái cái đi. Cái nhà mà nó không có cái ai cái đục và cái không có cái ai cái đi thì cái nhà đó nó có cái cái đất mà nó không có cái cái tên. Cái bây giờ thì cái nhà mình có cái cả hai.」
Cái dây gai thì nó ở cái cột. Tôi ra, tôi thắt cái nút thứ ba mươi tư.
Cái nút này thì nó là cái chữ.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút
Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay
Chương 78: Cái nhà cái cổng mở
Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối
Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên
Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt
Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò
Chương 73: Cái đường gạch
Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới
Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia
Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà
Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối
Chương 68: Cái học trò của cái lò
Chương 67: Cái vụ cái xuân
Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh
Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông
Chương 64: Cái trầu qua cái sông
Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu
Chương 62: Cái giếng của cái làng
Chương 61: Cái sông dạy cái bơi
Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai
Chương 59: Cái nhà cái cổng kín
Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Chương 57: Cái nét đầu tiên
Chương 56: Cái đá đi
Chương 55: Cái tay đục
Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện
Chương 53: Cái tai của cái chợ
Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng
Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay
Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân
Chương 49: Cái bún tôm
Chương 48: Cái mốc đá
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm