Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Cái ngày dựng cái bia thì cái lý trưởng chọn cái ngày mười tám, cái ngày cái đẹp ở cái cái lịch cái sóc, cái ngày mà cái không phải cái ngày cái giỗ của cái nhà nào ở cái làng.
Cái chân cái bia thì cái vữa đã khô cái năm cái nắng. Cái cha tôi đắp cái chân bằng cái bốn cái mươi cái viên gạch của cái ông Bá, cái gạch thì nó đỏ, cái xếp cái chéo, cái vữa thì nó trộn cái rơm băm.
Cái ông Chắt thì ông ấy ở lại cái làng của chúng tôi cái chín cái ngày. Ông ấy ở cái cái chái nhà cái ông Từ, cái má tôi nấu cái cơm gửi qua cái mỗi cái buổi trưa. Ông ấy không nhận cái tiền. Cái ông ấy chỉ nhận cái bún tôm, cái má tôi làm cái một cái gói cái mỗi cái ba cái ngày.
Cái buổi sáng cái ngày mười tám thì cái người đến cái gò từ cái giờ cái gà gáy. Cái người thì nó đông hơn cái ngày cái lễ, cái đông hơn cái ngày cái mốc. Cái người của cái xóm cái trên, cái xóm cái dưới, cái người của cái làng cái bên, cái bà Hợi đóng cái bó cái nước ở cái mép cái gò.
Cái ông Thìn thì ông ấy đã sang cái sông từ cái đêm. Cái Liêm cũng vậy. Cái hai cái người thì nó ở ở cái nhà cái ông Từ.
Cái lý trưởng mặc cái áo dài, cái khăn đóng. Cái ông Hương bộ cầm cái sổ. Cái ông Từ đứng ở cái cạnh cái mộ, cái tay ông ấy thì nó đút ở cái trong cái áo.
Cái dựng cái bia thì nó là cái chuyện của cái sáu cái người. Cái ông Đồ chỉ, cái cha tôi, cái thằng Đực, cái thằng Tám, cái hai cái người của cái xóm cái trên. Cái dây thì nó buộc cái quanh cái thân cái bia, cái hai cái vòng, cái cái cái nút thì nó ở cái phía cái sau.
Cái bia thì nó nằm, cái sáu cái người thì nó cầm, cái ông Đồ nói cái tiếng.
「Cái một, cái hai, cái lên.」
Cái bia thì nó đứng lên, cái đứng cái chậm, cái chân cái bia thì nó vào cái cái chỗ cái vữa, cái thân cái bia thì nó lắc cái một cái cái cái lắc, rồi nó đứng.
Cái ông Chắt quỳ xuống, ông ấy lấy cái cái cái miếng gỗ, ông ấy kê cái chân cái bia cái hai cái cái bên, ông ấy ném cái vữa vào cái cái chỗ cái hở. Ông ấy làm cái chậm, cái làm cái bằng cái tay, cái không dùng cái cái cái dao.
Cái bia thì nó đứng.
Cái bốn cái dòng thì nó ở cái trên cái mặt, cái quay về cái phía cái làng.
Cái lý trưởng ra cái giữa. Ông ấy đọc cái biên bản.
「Cái làng X, cái ngày mười tám cái tháng chín. Cái bia của cái mộ cái bà Nguyễn Thị Năm được cái làng dựng lại. Cái chữ do cái ông Chắt, cái thợ đá của cái làng Đông, đục. Cái chân cái bia do cái làng làm. Cái bia này là cái bia của cái làng. Cái người mà nó đập cái bia thì cái người đó đập cái chuyện của cái làng. Cái chuyện của cái làng thì cái làng xử.」
Cái ông Hương bộ ghi vào cái sổ, cái lý trưởng ký, cái ông Đồ đóng cái dấu của cái đình.
Cái ông Thìn thì ông ấy bước ra. Ông ấy cầm cái ba cái cái nén hương. Ông ấy đưa cho cái Liêm một cái, cái một cái cho cái tôi, cái một cái ông ấy giữ.
Cái ông Thìn cúi xuống cái trước cái bia, ông ấy nói cái bằng cái giọng của cái người cái nhà họ, cái giọng thì nó không lớn nhưng cái sân thì nó im nên cái người nghe cái hết.
「Cái má của con Liêm. Cái em của tao. Cái ba mươi cái năm nay cái tên của bà ở cái dưới cái đất. Cái bây giờ cái tên của bà ở cái trên cái đá. Cái đá mà nó không biết cái sợ. Cái người mà nó đọc cái đá thì cái người đó đọc cái tên của bà. Cái họ Nguyễn thì họ nhận bà. Cái làng này thì làng giữ bà. Cái con cái của bà thì cái con cái đứng ở cái trước cái mặt của bà.」
Cái Liêm quỳ. Con bé lạy cái ba cái cái cái lạy, cái lạy cái chậm, cái trán nó chạm cái đất cái ba cái lần.
Cái con bé đứng dậy, con bé đứng ở cái cạnh cái bia, cái đứng cái theo cái cái dòng thứ tư. Cái dòng thứ tư thì nó nói: 『Cái con trai của cái người nằm ở đây thì cái người đó đứng ở cái bia này cái ngày cái làng dựng nó』.
Cái người thì nó nhìn con bé. Con bé đứng, cái không nói, cái không khóc, cái chỉ đứng ở cái chỗ của cái mình.
Cái con Sen thì con bé mang cái cái bó hoa, cái hoa thì nó là cái hoa cái cúc, cái bó bằng cái lá tre. Con bé đặt ở cái trước cái bia, con bé đặt cái chéo.
Cái bà Hợi thì bà ấy mang cái cái đĩa trái cây, cái chuối và cái cam. Cái bà Tư của cái xóm cái trên thì bà ấy mang cái cái gói chè.
Cái người thì nó mang cái gì đó ra cái gò, cái mỗi cái nhà một cái thứ, cái không ai bảo ai. Cái mâm cái của cái má tôi thì nó ở cái giữa, cái mâm của cái người thì nó ở cái quanh.
Cái ông Thìn nhìn cái những cái mâm, ông ấy nói với cái tôi cái nhỏ.
「Cái làng của con thì cái làng đó biết cái làm cái cái lễ. Cái lễ mà nó không ai bảo ai thì cái lễ nó là cái lễ của cái dân. Cái lễ của cái dân thì cái người chết nó nhận được. Cái má của cái con thì cái má nó nhận.」
Cái má tôi bưng cái mâm ra. Cái mâm thì nó có cái cơm, cái rượu, cái nước. Cái má tôi đặt ở cái trước cái bia, bà ấy rót cái rượu cái ba cái cái chén, bà ấy đặt cái từng cái chén.
Rồi bà ấy nói.
「Cái mẹ của cái con cái bé thì bà ấy đi cái lúc bà ấy hai mươi cái hai cái tuổi. Cái bà ấy là cái người của cái nhà này. Cái nhà này thì ba mươi cái năm nay nó giữ cái chỗ của bà ấy. Cái chỗ thì nó đã ở ở cái đây. Cái bây giờ thì cái nhà này không giữ nữa. Cái nhà này giao cho cái làng. Cái làng mà nó giữ thì cái nhà này thở được.」
Cái lý trưởng nhận cái chén rượu, ông ấy rót cái xuống cái đất, cái rượu thì nó vào cái cái mép cái mộ.
Cái bà Cả thì bà ấy đến. Bà ấy đến cái muộn, cái khi cái bia đã đứng, cái khi cái người đã đọc. Bà ấy đứng ở cái mép, cái không vào.
Cái ông Từ thì ông ấy đi ngang cái chỗ bà ấy. Ông ấy dừng.
「Cái bà đến để coi.」
「Cái tôi đến để biết cái chuyện gì nó đã làm ở cái đất của cái nhà tôi.」
「Cái đất này thì nó là cái đất của cái làng, cái thửa bảy thì nó là cái thửa của cái giấy. Cái mộ thì nó là cái mộ của cái người họ Nguyễn. Cái bia thì nó là cái bia của cái làng. Cái bà mà nó không thấy cái tên của bà ở cái trên cái đá thì cái bà chưa mất cái gì. Cái bà mà nó thấy cái tên thì cái bà thấy cái cái gì bà đã đập cái ba mươi cái năm trước.」
Cái bà Cả nhìn cái bia cái một cái lúc.
「Cái đá này thì nó mưa cái mười cái năm thì nó mọc cái rêu. Cái rêu mà nó mọc thì cái chữ nó mờ.」
Cái ông Từ trả lời, cái trả lời cái chậm.
「Cái chữ mà nó mờ thì cái người ta đục lại. Cái người đục lại thì nó còn. Cái cái bà mà nó đập thì cái bà đập cái cái lần đầu tiên và cái lần cuối cùng. Cái cái lần đầu tiên thì nó là cái chuyện của cái bà. Cái cái lần cuối cùng thì nó là cái chuyện của cái làng. Cái bà mà nó làm cái lần cuối cùng thì cái bà đập cái ở cái trước cái mặt của cái làng. Cái mặt của cái làng thì nó đã ở ở cái đây. Cái bà nhìn đi. Cái bà đang ở ở cái trong cái nó.」
Cái bà Cả không nói cái gì nữa. Bà ấy quay, bà ấy đi. Cái guốc của bà ấy thì nó kêu ở cái con đường, cái kêu cái đến cái khi nó mất ở cái đầu đường.
Cái khi cái người bắt đầu tan thì cái cha tôi ra cái cạnh cái bia, ông ấy đứng, ông ấy đọc cái bốn cái dòng cái một cái lần, cái đọc cái thầm. Rồi ông ấy cầm cái cuốc, ông ấy đắp cái cái đất ở cái quanh cái chân, cái đắp cái đều, cái đắp cái như cái ông ấy đắp cái cái bờ.
Cái ông Từ hỏi ông ấy.
「Cái ông đắp cái đất để làm cái gì. Cái chân nó đã có cái gạch.」
Cái cha tôi trả lời, cái trả lời cái không ngẩng đầu.
「Cái gạch thì nó là cái chuyện của cái làng. Cái đất thì nó là cái chuyện của cái nhà. Cái nhà mà nó đắp cái đất ở cái quanh cái chân của cái cái bia của cái má của nó thì cái đất nó nhớ. Cái đất mà nó nhớ thì cái mưa nó không rửa được.」
Cái ông Từ không nói cái gì. Ông ấy nhìn cái cha tôi đắp, cái đắp đến cái khi cái cái chân cái bia nó thành cái một cái cái cái gò nhỏ.
Cái buổi trưa thì cái mâm cơm đặt ở cái sân cái đình. Cái người thì nó ăn, cái ăn theo cái từng cái cái nhóm. Cái má tôi nấu cái cơm cái nồi lớn, cái cá kho, cái canh cua, cái bún tôm.
Cái ông Chắt thì ông ấy ăn ở cái cái chỗ cái cạnh cái ông Từ. Cái ăn xong thì ông ấy nói với tôi.
「Cái bia nó đứng thì cái tay tao đi về. Cái tao đục cái mười cái chín cái cái. Cái cái thứ mười chín thì nó là cái cái cái khó nhất. Cái khó ở chỗ nó có cái hai cái cái lần. Cái hai cái lần thì nó là cái một cái đời. Cái đời mà nó ở trong cái một cái cái đá thì cái đá đó nó là cái đá của cái tao. Cái con giữ cái bia tốt. Cái cái bia mà nó tốt thì cái tay của tao vẫn ở ở cái làng của con.」
Tôi nói dạ.
Cái chiều thì ông Chắt đi về với cái xe bò của cái ông Bá. Cái ông Bá thì ông ấy đi theo, cái cái hộp đục thì nó ở cái trên cái xe.
Cái tối thì cái làng tắt đèn. Cái gò thì nó có cái một cái cái đèn, cái đèn của cái ông Từ, cái ông ấy ở lại, cái ông ấy ngồi ở cái cạnh cái bia.
Tôi ra cái cột, tôi thắt cái nút thứ ba mươi lăm.
Cái nút này thì nó là cái bia.
Cái bia thì nó đứng ở cái trên cái gò, cái bốn cái dòng, cái quay về cái phía cái làng. Cái ba mươi cái năm cái trước cái thì nó đập. Cái ba mươi cái năm cái sau cái thì nó dựng. Cái giữa cái hai cái cái lần thì nó là cái một cái cái người tên Nguyễn Thị Năm.
Cái ngày dựng cái bia thì cái lý trưởng chọn cái ngày mười tám, cái ngày cái đẹp ở cái cái lịch cái sóc, cái ngày mà cái không phải cái ngày cái giỗ của cái nhà nào ở cái làng.
Cái chân cái bia thì cái vữa đã khô cái năm cái nắng. Cái cha tôi đắp cái chân bằng cái bốn cái mươi cái viên gạch của cái ông Bá, cái gạch thì nó đỏ, cái xếp cái chéo, cái vữa thì nó trộn cái rơm băm.
Cái ông Chắt thì ông ấy ở lại cái làng của chúng tôi cái chín cái ngày. Ông ấy ở cái cái chái nhà cái ông Từ, cái má tôi nấu cái cơm gửi qua cái mỗi cái buổi trưa. Ông ấy không nhận cái tiền. Cái ông ấy chỉ nhận cái bún tôm, cái má tôi làm cái một cái gói cái mỗi cái ba cái ngày.
Cái buổi sáng cái ngày mười tám thì cái người đến cái gò từ cái giờ cái gà gáy. Cái người thì nó đông hơn cái ngày cái lễ, cái đông hơn cái ngày cái mốc. Cái người của cái xóm cái trên, cái xóm cái dưới, cái người của cái làng cái bên, cái bà Hợi đóng cái bó cái nước ở cái mép cái gò.
Cái ông Thìn thì ông ấy đã sang cái sông từ cái đêm. Cái Liêm cũng vậy. Cái hai cái người thì nó ở ở cái nhà cái ông Từ.
Cái lý trưởng mặc cái áo dài, cái khăn đóng. Cái ông Hương bộ cầm cái sổ. Cái ông Từ đứng ở cái cạnh cái mộ, cái tay ông ấy thì nó đút ở cái trong cái áo.
Cái dựng cái bia thì nó là cái chuyện của cái sáu cái người. Cái ông Đồ chỉ, cái cha tôi, cái thằng Đực, cái thằng Tám, cái hai cái người của cái xóm cái trên. Cái dây thì nó buộc cái quanh cái thân cái bia, cái hai cái vòng, cái cái cái nút thì nó ở cái phía cái sau.
Cái bia thì nó nằm, cái sáu cái người thì nó cầm, cái ông Đồ nói cái tiếng.
「Cái một, cái hai, cái lên.」
Cái bia thì nó đứng lên, cái đứng cái chậm, cái chân cái bia thì nó vào cái cái chỗ cái vữa, cái thân cái bia thì nó lắc cái một cái cái cái lắc, rồi nó đứng.
Cái ông Chắt quỳ xuống, ông ấy lấy cái cái cái miếng gỗ, ông ấy kê cái chân cái bia cái hai cái cái bên, ông ấy ném cái vữa vào cái cái chỗ cái hở. Ông ấy làm cái chậm, cái làm cái bằng cái tay, cái không dùng cái cái cái dao.
Cái bia thì nó đứng.
Cái bốn cái dòng thì nó ở cái trên cái mặt, cái quay về cái phía cái làng.
Cái lý trưởng ra cái giữa. Ông ấy đọc cái biên bản.
「Cái làng X, cái ngày mười tám cái tháng chín. Cái bia của cái mộ cái bà Nguyễn Thị Năm được cái làng dựng lại. Cái chữ do cái ông Chắt, cái thợ đá của cái làng Đông, đục. Cái chân cái bia do cái làng làm. Cái bia này là cái bia của cái làng. Cái người mà nó đập cái bia thì cái người đó đập cái chuyện của cái làng. Cái chuyện của cái làng thì cái làng xử.」
Cái ông Hương bộ ghi vào cái sổ, cái lý trưởng ký, cái ông Đồ đóng cái dấu của cái đình.
Cái ông Thìn thì ông ấy bước ra. Ông ấy cầm cái ba cái cái nén hương. Ông ấy đưa cho cái Liêm một cái, cái một cái cho cái tôi, cái một cái ông ấy giữ.
Cái ông Thìn cúi xuống cái trước cái bia, ông ấy nói cái bằng cái giọng của cái người cái nhà họ, cái giọng thì nó không lớn nhưng cái sân thì nó im nên cái người nghe cái hết.
「Cái má của con Liêm. Cái em của tao. Cái ba mươi cái năm nay cái tên của bà ở cái dưới cái đất. Cái bây giờ cái tên của bà ở cái trên cái đá. Cái đá mà nó không biết cái sợ. Cái người mà nó đọc cái đá thì cái người đó đọc cái tên của bà. Cái họ Nguyễn thì họ nhận bà. Cái làng này thì làng giữ bà. Cái con cái của bà thì cái con cái đứng ở cái trước cái mặt của bà.」
Cái Liêm quỳ. Con bé lạy cái ba cái cái cái lạy, cái lạy cái chậm, cái trán nó chạm cái đất cái ba cái lần.
Cái con bé đứng dậy, con bé đứng ở cái cạnh cái bia, cái đứng cái theo cái cái dòng thứ tư. Cái dòng thứ tư thì nó nói: 『Cái con trai của cái người nằm ở đây thì cái người đó đứng ở cái bia này cái ngày cái làng dựng nó』.
Cái người thì nó nhìn con bé. Con bé đứng, cái không nói, cái không khóc, cái chỉ đứng ở cái chỗ của cái mình.
Cái con Sen thì con bé mang cái cái bó hoa, cái hoa thì nó là cái hoa cái cúc, cái bó bằng cái lá tre. Con bé đặt ở cái trước cái bia, con bé đặt cái chéo.
Cái bà Hợi thì bà ấy mang cái cái đĩa trái cây, cái chuối và cái cam. Cái bà Tư của cái xóm cái trên thì bà ấy mang cái cái gói chè.
Cái người thì nó mang cái gì đó ra cái gò, cái mỗi cái nhà một cái thứ, cái không ai bảo ai. Cái mâm cái của cái má tôi thì nó ở cái giữa, cái mâm của cái người thì nó ở cái quanh.
Cái ông Thìn nhìn cái những cái mâm, ông ấy nói với cái tôi cái nhỏ.
「Cái làng của con thì cái làng đó biết cái làm cái cái lễ. Cái lễ mà nó không ai bảo ai thì cái lễ nó là cái lễ của cái dân. Cái lễ của cái dân thì cái người chết nó nhận được. Cái má của cái con thì cái má nó nhận.」
Cái má tôi bưng cái mâm ra. Cái mâm thì nó có cái cơm, cái rượu, cái nước. Cái má tôi đặt ở cái trước cái bia, bà ấy rót cái rượu cái ba cái cái chén, bà ấy đặt cái từng cái chén.
Rồi bà ấy nói.
「Cái mẹ của cái con cái bé thì bà ấy đi cái lúc bà ấy hai mươi cái hai cái tuổi. Cái bà ấy là cái người của cái nhà này. Cái nhà này thì ba mươi cái năm nay nó giữ cái chỗ của bà ấy. Cái chỗ thì nó đã ở ở cái đây. Cái bây giờ thì cái nhà này không giữ nữa. Cái nhà này giao cho cái làng. Cái làng mà nó giữ thì cái nhà này thở được.」
Cái lý trưởng nhận cái chén rượu, ông ấy rót cái xuống cái đất, cái rượu thì nó vào cái cái mép cái mộ.
Cái bà Cả thì bà ấy đến. Bà ấy đến cái muộn, cái khi cái bia đã đứng, cái khi cái người đã đọc. Bà ấy đứng ở cái mép, cái không vào.
Cái ông Từ thì ông ấy đi ngang cái chỗ bà ấy. Ông ấy dừng.
「Cái bà đến để coi.」
「Cái tôi đến để biết cái chuyện gì nó đã làm ở cái đất của cái nhà tôi.」
「Cái đất này thì nó là cái đất của cái làng, cái thửa bảy thì nó là cái thửa của cái giấy. Cái mộ thì nó là cái mộ của cái người họ Nguyễn. Cái bia thì nó là cái bia của cái làng. Cái bà mà nó không thấy cái tên của bà ở cái trên cái đá thì cái bà chưa mất cái gì. Cái bà mà nó thấy cái tên thì cái bà thấy cái cái gì bà đã đập cái ba mươi cái năm trước.」
Cái bà Cả nhìn cái bia cái một cái lúc.
「Cái đá này thì nó mưa cái mười cái năm thì nó mọc cái rêu. Cái rêu mà nó mọc thì cái chữ nó mờ.」
Cái ông Từ trả lời, cái trả lời cái chậm.
「Cái chữ mà nó mờ thì cái người ta đục lại. Cái người đục lại thì nó còn. Cái cái bà mà nó đập thì cái bà đập cái cái lần đầu tiên và cái lần cuối cùng. Cái cái lần đầu tiên thì nó là cái chuyện của cái bà. Cái cái lần cuối cùng thì nó là cái chuyện của cái làng. Cái bà mà nó làm cái lần cuối cùng thì cái bà đập cái ở cái trước cái mặt của cái làng. Cái mặt của cái làng thì nó đã ở ở cái đây. Cái bà nhìn đi. Cái bà đang ở ở cái trong cái nó.」
Cái bà Cả không nói cái gì nữa. Bà ấy quay, bà ấy đi. Cái guốc của bà ấy thì nó kêu ở cái con đường, cái kêu cái đến cái khi nó mất ở cái đầu đường.
Cái khi cái người bắt đầu tan thì cái cha tôi ra cái cạnh cái bia, ông ấy đứng, ông ấy đọc cái bốn cái dòng cái một cái lần, cái đọc cái thầm. Rồi ông ấy cầm cái cuốc, ông ấy đắp cái cái đất ở cái quanh cái chân, cái đắp cái đều, cái đắp cái như cái ông ấy đắp cái cái bờ.
Cái ông Từ hỏi ông ấy.
「Cái ông đắp cái đất để làm cái gì. Cái chân nó đã có cái gạch.」
Cái cha tôi trả lời, cái trả lời cái không ngẩng đầu.
「Cái gạch thì nó là cái chuyện của cái làng. Cái đất thì nó là cái chuyện của cái nhà. Cái nhà mà nó đắp cái đất ở cái quanh cái chân của cái cái bia của cái má của nó thì cái đất nó nhớ. Cái đất mà nó nhớ thì cái mưa nó không rửa được.」
Cái ông Từ không nói cái gì. Ông ấy nhìn cái cha tôi đắp, cái đắp đến cái khi cái cái chân cái bia nó thành cái một cái cái cái gò nhỏ.
Cái buổi trưa thì cái mâm cơm đặt ở cái sân cái đình. Cái người thì nó ăn, cái ăn theo cái từng cái cái nhóm. Cái má tôi nấu cái cơm cái nồi lớn, cái cá kho, cái canh cua, cái bún tôm.
Cái ông Chắt thì ông ấy ăn ở cái cái chỗ cái cạnh cái ông Từ. Cái ăn xong thì ông ấy nói với tôi.
「Cái bia nó đứng thì cái tay tao đi về. Cái tao đục cái mười cái chín cái cái. Cái cái thứ mười chín thì nó là cái cái cái khó nhất. Cái khó ở chỗ nó có cái hai cái cái lần. Cái hai cái lần thì nó là cái một cái đời. Cái đời mà nó ở trong cái một cái cái đá thì cái đá đó nó là cái đá của cái tao. Cái con giữ cái bia tốt. Cái cái bia mà nó tốt thì cái tay của tao vẫn ở ở cái làng của con.」
Tôi nói dạ.
Cái chiều thì ông Chắt đi về với cái xe bò của cái ông Bá. Cái ông Bá thì ông ấy đi theo, cái cái hộp đục thì nó ở cái trên cái xe.
Cái tối thì cái làng tắt đèn. Cái gò thì nó có cái một cái cái đèn, cái đèn của cái ông Từ, cái ông ấy ở lại, cái ông ấy ngồi ở cái cạnh cái bia.
Tôi ra cái cột, tôi thắt cái nút thứ ba mươi lăm.
Cái nút này thì nó là cái bia.
Cái bia thì nó đứng ở cái trên cái gò, cái bốn cái dòng, cái quay về cái phía cái làng. Cái ba mươi cái năm cái trước cái thì nó đập. Cái ba mươi cái năm cái sau cái thì nó dựng. Cái giữa cái hai cái cái lần thì nó là cái một cái cái người tên Nguyễn Thị Năm.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Cái tám mươi cái nút
Chương 79: Cái tay ở ở ở trên cái tay
Chương 78: Cái nhà cái cổng mở
Chương 77: Cái đò qua cái sông cái lần cuối
Chương 76: Cái chữ cái đầu tiên
Chương 75: Cái túi của cái ông Chắt
Chương 74: Cái cha ngồi ở ở cạnh cái lò
Chương 73: Cái đường gạch
Chương 72: Cái sổ cái đinh của cái năm mới
Chương 71: Cái cơm ở ở trước cái bia
Chương 70: Cái tin ở ở trong cái nhà
Chương 69: Cái ông Phán cái quay lại cái lần cuối
Chương 68: Cái học trò của cái lò
Chương 67: Cái vụ cái xuân
Chương 66: Cái chén nước ở cái nhà cạnh
Chương 65: Cái đám cưới ở cái làng bên sông
Chương 64: Cái trầu qua cái sông
Chương 63: Cái ngói ở trên cái đầu
Chương 62: Cái giếng của cái làng
Chương 61: Cái sông dạy cái bơi
Chương 60: Cái lò đốt cái lần thứ hai
Chương 59: Cái nhà cái cổng kín
Chương 58: Cái ngày cái làng dựng cái bia
Chương 57: Cái nét đầu tiên
Chương 56: Cái đá đi
Chương 55: Cái tay đục
Chương 54: Cái đơn nằm ở cái huyện
Chương 53: Cái tai của cái chợ
Chương 52: Cái mốc nằm ở cái mặt cái làng
Chương 51: Cái giấy nằm ở cái tay
Chương 50: Cái lúa nằm ở cái sân
Chương 49: Cái bún tôm
Chương 48: Cái mốc đá
Chương 47: Cái ba cái tên
Chương 46: Cái mưa ở cái mái mới
Chương 45: Cái ngày thứ tám
Chương 44: Cái bờ cái rừng
Chương 43: Cái nứt ở cái vòm lò
Chương 42: Cái phiên chợ cái lúa
Chương 41: Cái lãi thì nó không có cái dấu
Chương 40: Cái mưa trước cái mùa gặt
Chương 39: Cái lúa của cái vụ chiêm
Chương 38: Cái trang cuối cái sổ đình
Chương 37: Cái miếng chì ở trong cái đòn cân
Chương 36: Cái dấu guốc ở cái hố
Chương 35: Cái chữ ở dưới cái chữ
Chương 34: Cái bàn tay có cái chai
Chương 33: Cái hòn đá ong
Chương 32: Cái mái đình
Chương 31: Cái cây gạo ở cái sân đình
Chương 30: Cái cửa sổ cái nhà bà Cả
Chương 29: Cái khuôn ngói
Chương 28: Cái người đi cái xe đạp
Chương 27: Cái lò bầu
Chương 26: Cái khuôn gỗ
Chương 25: Ba mươi hai đồng
Chương 24: Cái lễ trước cái máy đo
Chương 23: Cái xe qua cái cầu tre
Chương 22: Cái mâm mười hai cái chỗ
Chương 21: Cái bánh để cái tháng giêng
Chương 20: Cái bến đò
Chương 19: Cái chú ở cái lề cái dòng thứ tư
Chương 18: Cái sân sau cái hàng vải
Chương 17: Cái dấu của cái tay trái
Chương 16: Cái tay trái ở trong cái máy xay
Chương 15: Cái thằng Mẫn
Chương 14: Cái hộp gỗ dưới cái chõng
Chương 13: Cái phiên đắp bờ
Chương 12: Cái đập bổi
Chương 11: Cái hàng vải ở cái chợ trên
Chương 10: Cái sân sau cái bậc đá thứ hai
Chương 9: Một cái gà, một cái chai rượu, và cái mặt
Chương 8: Cái hố đào lúc giờ Tý
Chương 7: Ba cái tên trong sổ đinh
Chương 6: Cái giờ con nít còn ngủ
Chương 5: Cái chợ phiên
Chương 4: Cái mộ không bia
Chương 3: Hai mươi đồng, ba con gà, và một cái tiếng
Chương 2: Bốn chữ nói trước cái mâm sáu chén
Chương 1: Tôi tỉnh dậy trên cái giường rơm